Bản án số 113/2026/HNGĐ-ST ngày 14/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 113/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 113/2026/HNGĐ-ST ngày 14/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 113/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/08/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ly hôn tranh chấp nuôi con
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 113/2026/HNGĐ-ST Bản án số 113/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 113/2026/HNGĐ-ST Bản án số 113/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - VĨNH LONG
Bản án số: 113/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 14/8/2026
V/v “Ly hôn, tranh ch
ấp về nuôi con”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Ngô Thị Gẩm.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Thế Xương.
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lan Chi – Thư ký Toà án nhân dân khu vực
7 - Vĩnh Long.
Ngày 14 tháng 8 năm 2026, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân khu vực
7 - Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 206/2026/TLST-HNGĐ
ngày 19 tháng 5 năm 2026 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 205/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/7/2026
giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Quảng Thị Kim P, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Ấp H, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
Bị đơn: Ông Cao Văn Diệu E, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Ấp H, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
Bà P có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Diệu E vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Quảng Thị Kim P trình bày:
Bà và chồng là ông Cao Văn D Em kết hôn và có đăng ký tại Ủy ban nhân
dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày
13/02/2020. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc. Tuy nhiên, từ
đầu năm 2026, bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng
thường xuyên cự cải, ông Diệu E tham gia cờ bạc dẫn đến nợ nần, bà đã nhiều
lần khuyên can nhưng không có kết quả, ông Diệu E không sửa đổi, mâu thuẫn
càng trầm trọng hơn. Hiện tại, bà không còn tình cảm với ông Diệu E, hôn nhân
không thể kéo dài do không có hạnh phúc. Do đó, bà yêu cầu Tòa án xem xét,
giải quyết được ly hôn. Về con chung: Giữa bà và ông Diệu E có 01 con chung
là Cao Thị Mỹ T, sinh ngày 25/02/2020 hiện do bà trực tiếp nuôi dưỡng. Bà yêu
cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông Diệu E cấp dưỡng cho con. Về
tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết.
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Quảng Thị Kim P có yêu cầu giải quyết, xét
xử vắng mặt, bị đơn ông Cao Văn Diệu E đã được tống đạt nhiều lần nhưng vẫn
vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố
tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà P và ông Diệu E.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà P và ông Diệu E tự nguyện kết hôn và có đăng
ký tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh
Long) vào ngày 13/01/2020. Bà P cho rằng cuộc sống hôn nhân thời gian đầu rất
hạnh phúc. Nhưng từ đầu năm 2026 phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan
điểm sống, vợ chồng thường xuyên cải nhau. Hiện tại, bà không còn tình cảm
với ông Diệu E, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau và không tìm
được hạnh phúc gia đình. Từ đó, bà P xin ly hôn. Đối với ông Diệu E, trong suốt
quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các thông báo về phiên họp kiểm
tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải nhưng ông
Diệu E vẫn vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến. Qua đó chứng tỏ ông
Diệu E cũng không mong muốn được hoà giải đoàn tụ, hàn gắn hạnh phúc gia
đình. Đồng thời, bà P đã khẳng định hiện mỗi người đều có cuộc sống riêng,
không còn quan tâm, thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Tại Điều 19 của
Luật Hôn nhân và gia đình có quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu,
chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ,
thực hiện các công việc gia đình...”. Đối chiếu với quy định trên thì giữa bà P và
ông Diệu E là vợ chồng nhưng lại xảy ra mâu thuẫn, không quan tâm chăm sóc
nhau. Hơn nữa, bà P khẳng định đã không còn tình cảm với ông Diệu E và
không muốn kéo dài cuộc hôn nhân này. Bên cạnh đó, trong quá trình giải quyết
vụ án, Toà án cũng đã tổ chức phiên hoà giải mục đích nhằm động viên bà P và
ông Diệu E đoàn tụ, hàn gắn tình cảm gia đình nhưng bà P vẫn giữ nguyên yêu
cầu xin ly hôn, ông Diệu E thì vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu
thuẫn giữa bà P và ông Diệu E đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân
không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà P.
[3] Về con chung: Giữa bà P và ông Diệu E có 01 con chung là Cao Thị Mỹ
T, sinh ngày 25/02/2020 hiện do bà P trực tiếp nuôi dưỡng. Bà P yêu cầu được
tiếp tục nuôi con cho đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông Diệu E cấp dưỡng
cho con. Vì vậy, để đảm bảo không làm xáo trộn cuộc sống của con nên cần
giao con chung là Cao Thị Mỹ T cho bà P được tiếp tục nuôi dưỡng. Tại khoản 2
Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình qui định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi
con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Xét thấy, bà P tự nguyện không yêu cầu
ông Diệu E cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà P trình bày không có, không yêu cầu giải
quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà P phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
3
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia
đình, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5
Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử
dung án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Quảng Thị Kim P. Bà Quảng Thị
Kim P được ly hôn với ông Cao Văn Diệu E.
Về con chung: Giao Cao Thị Mỹ T, sinh ngày 25/02/2020 cho bà P được
trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Ghi
nhận bà P không yêu cầu ông Diệu E cấp dưỡng nuôi con. Ông Diệu E có
quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con,
một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi việc cấp
dưỡng cho con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc của cá nhân, tổ
chức được qui định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án
có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà P trình bày không có và không yêu cầu giải
quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà P phải chịu là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng
nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm
nghìn) đồng theo biên lai số 0008271 ngày 05/5/2026 của Thi hành án dân sự
tỉnh Vĩnh Long. Bà P đã nộp đủ án phí.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân
dân cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 34, 36, 71, 72 của Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Vĩnh Long; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND khu vực 7-Vĩnh Long;
- THADS tỉnh Vĩnh Long;
- UBND xã Tân Hào;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Ngô Thị Gẩm
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 113/2026/HNGĐ-ST Bản án số 113/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 113/2026/HNGĐ-ST Bản án số 113/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất