Bản án số 112/2025/DS-ST ngày 27/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 112/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 112/2025/DS-ST ngày 27/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 112/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/06/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị N, bà Nguyễn Thị Thanh T nhận chuyển nhượng đất của bà Trần Thị C
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 112/2025/DS-ST
Ngày: 27/6/2025.
V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Công Tình
2. Ông Nguyễn Đức Trung.
Thư ký phiên tòa: Phạm Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại Hội trường B - Trụ sở Tòa án nhân dân
thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm ván thụ số: 867/2024/TLST-DS
ngày 08/11/2024 về việc: “Yêu cầu thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2025/QĐXXST-DS ngày
02/6/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa s:149/2025/QĐST-DS ngày 18/6/2025
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Trần Thị N, sinh năm: 1965; Địa chỉ: 66 đường N, phường T, thành
phố B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
2. Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm: 1965; Địa chỉ: 211/27 đường P,
phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền:
1. Ông Trịnh Công S, sinh năm: 1992; Địa chỉ: 39 đường Y, phường T,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk,đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
2. Ông Bùi Quang H, sinh năm: 1985; Địa chỉ: 12 đường Đ, phường T,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
2
- Bị đơn: Trần Thị C, sinh năm: 1962; Địa chỉ: 201 đường P k7,
phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Người thừa kế quyền và nghĩa vụ của ông Hồ Viết H:
Anh Hồ Viết Q, sinh năm: 1987, anh Hồ Viết C, sinh năm: 1985, anh H
Viết V, sinh năm: 1989; Đều ở địa chỉ: 201 đường P, phường T, thành phố B, tỉnh
Đắk Lắk, đều vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Th Thanh H, sinh năm: 1990; Địa chỉ: 201 đường P, phường T
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
2. Ngân hàng thương mại cổ phần S Phòng giao dịch N, chi nhánh Đắk
Lắk, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Địa chỉ trụ sở: 242C-242D đường N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Theo đơn khởi kiện quá trình tham gia tố tụng người đại diện
theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 11/11/2010, bà Trần Thị N Nguyễn Thị Thanh T kết hợp
đồng giao đất bằng giấy viết tay với vợ chồng Trần Thị C, ông Hồ Viết H để
nhận chuyển nhượng lô đất rộng 20m, dài 18m đối với thửa đất số 19, tờ bản đồ
số 50, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận
QSDĐ quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BG 688788 do Ủy
ban nhân dân thành phố B cấp ngày 21/3/2012. Đối với phần quyền sử dụng đất
vị trí tứ cận như sau: Hướng Đông giáp: nghiệp 2/9; Hướng Tây giáp: ông
Hồ Q (nông Q); Hướng Nam giáp: phần còn lại của thửa đất số 19, tờ bản đồ
số 50; Hướng Bắc giáp: nhà bà Trần Thị C.
Với tổng giá trị chuyển nhượng là 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng).
Hai bên đã thống nhất mua bán vợ chồng bà C, ông H trách nhiệm cắt sang
sổ đỏ cho chủ mới là bà N và bà T phải chừa đường đi 2m.
Tuy nhiên, cho đến nay vợ chồng C, ông H vẫn chưa hoàn tất thủ tục
tách thửa sang tên chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà N và T. Mặc
N và T đã làm việc, trao đổi nhiều lần với vợ chồng C, ông H nhưng họ
vẫn không chịu hợp tác để thực hiện thủ tục sang tên chuyển nhượng quyền sử
dụng đất cho bà N và bà T.
Do đó nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc Trần Thị
C ông Hồ Viết H phải thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
lập ngày 11/11/2010 giữa vợ chồng Trần Thị C, ông Hồ Viết H với bà Trần
Thị N và bà Nguyễn Thị Thanh T.
2.Quá trình tham gia t tụng bị đơn Trần Thị C trình bày: Vào
ngày 11/11/2010 vợ chồng C, ông HViết H (chết) năm 2013 thỏa thuận
bán đất cho Trần Thị N Nguyễn Thị Thanh T 01 đất rộng 20m, dài
18m tại sau nsố 727 đường N nay 201 đường P với giá chuyển nhượng
3
700.000.000 đồng gia đình đã nhận số tiền 700.000.000 đồng sau khi các n
đã viết giấy nhận giao đất. Sau đó nợ Ngân hàng đã thế chấp và không khả
năng trả nợ cho Ngân hàng nên Ngân hàng hóa giá, bà phải gọi người mua để trả
nợ Ngân hàng vậy vào năm 2018 đã chuyển nhượng đất số 19, tờ bản đồ
số 50, diện tích 752,5m
2
, bao gồm cả phần diện tích đất đã thỏa thuận bán cho
N và bà T cho bà Võ Thị Thanh H.
vậy nay N T khởi kiện yêu cầu gia đình tiếp tục thực hiện
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì bà không đồng ý vì bà đã bán cho
người khác, đồng ý trả tiền hoàn cảnh khó khăn chỉ trả số tiền
700.000.000 đồng phương thức trả dần theo hàng năm.
Tại phiên tòa đại diện Viện kim sát nhân dân thành phố B phát biểu
như sau:
- Về tố tụng: Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ
vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã giải quyết đúng
trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự, tại phiên tòa Hội đồng xét x đã chấp hành
đúng các quy định của pháp luật. Đương s chưa chấp hành đúng quy định của
pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án và lời
trình bày của các đương sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: Chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơnTrần Thị N và bà Nguyễn Thị Thanh T.
Tuyên: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Trần ThN
Nguyễn Thị Thanh T Trần Thị C, ông Hồ Viết H ký kết ngày
11/11/2010 vô hiệu.
Buộc bà Trần Thị C, người thừa kế quyền và nghĩa vụ anh Hồ Viết Q, anh
Hồ Viết C, anh Hồ Viết V trách nhiệm trả cho Trần Thị N Nguyễn
Thị Thanh T số tiền 1.200.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu đồng).
Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác theo
quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1. Về thẩm quyền quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn Trần Thị N và bà
Nguyễn Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền s
dụng đất hiệu trả lại tiền, xác định đây tranh chấp dân sự được quy định
tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết
của Toà án. Bị đơn cư trú tại thành phố B nên Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh
Đắk Lắk thụ giải quyết là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35,
điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Về sự mặt, vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án bị đơn
bà Trần Thị C có bản tự khai đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuy nhiên
Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ hòa
giải nhưng bị đơn vắng mặt. Tại phiên tòa, bị đơn người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan vẫn tiếp tục vắng mặt không do, nguyên đơn một số người
4
quyền lợi nghĩa vụ liên quan đơn đề nghị xét xử vắng mặt. vậy, Hội đồng
xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án
tiến hành xét xvắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người quyền lợi nghĩa vụ
liên quan.
3. Về nội dung: Theo đơn khởi kiện quá trình giải quyết vụ án nguyên
đơn khởi kiện “Yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất” giữa nguyên đơn Trần Thị N, Nguyễn Thị Thanh T bị đơn
Trần Thị C, tuy nhiên trước khi mở phiên tòa nguyên đơn đơn xin Thay đổi
yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng đất giữa
nguyên đơn bị đơn hiệu; Buộc bị đơn Trần Thị C, người thừa kế quyền
và nghĩa vụ anh Hồ Viết Q, anh Hồ Viết C, anh Hồ Viết V trả cho nguyên đơn
Trần Thị N và Nguyễn ThThanh T số tiền chuyển nhượng đất tại thời điểm
Hội đồng định giá ngày 29/4/2025 theo giá thị trường là 1.200.000.000 đồng, Xét
yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Căn cứ vào các tài liệu do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố
B cung cấp thể hiện nguồn gốc thửa đất số 19, tờ bản đ50, diện tích 752,5m
2
,
trong đó đất 150,0m
2
, đất trồng cây lâu năm 602,5m
2
theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất BG 688788 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày
21/3/2012 cấp cho Trần Thị C nguồn gốc đất do mẹ khai phá trước năm
1978 đến năm 1987 con thừa kế lại.
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sđều thừa nhận ngày 11/11/2010
bà Trần Thị N Nguyễn Thị Thanh T hợp đồng giao đất bằng giấy viết
tay với vợ chồng Trần Thị C, ông Hồ Viết H để nhận chuyển nhượng đất
rộng 20m, dài 18m đối với thửa đất số 19, tờ bản đồ số 50, tọa lạc tại phường T,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở
hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BG 688788 do Ủy ban nhân dân
thành phố B cấp ngày 21/3/2012. Với giá 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu
đồng). Hai bên đã thống nhất mua n vợ chồng C, ông H trách nhiệm
cắt sang sổ đỏ cho chủ mới bà N và T và phải chừa đường đi 2m. Tại thời
điểm hai bên viết giấy tay với nhau thì diện tích bị đơn chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
Đến ngày 21/3/2012 Trần Thị C được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất dụng đất số BG
688788 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp đối với thửa đất số 19, tờ bản đồ 50,
diện tích 752,5m
2
, trong đó đất 150,0m
2
, đất trồng cây lâu năm 602,5m
2
cho
Trần Thị C đến năm 2018 C chuyển nhượng phần đất đã bán cho N, T
sang cho bà Võ Thị Thanh H.
Xét hợp đồng chuyển nhượng ngày 11/11/2010 thấy rằng, hợp đồng chuyển
nhượng được hai bên lập bằng giấy viết tay, không được công chứng chứng thực
theo quy định. Tại thời điểm C thỏa thuận chuyển nhượng cho N, T thì
5
phần diện tích đất trên C, ông H vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
Do đó, thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà N, bà T và bà
C vi phạm về mặt hình thức và nội dung theo Điều 501, Điều 502 Bộ luật Dân sự,
Điều 188 Luật đất đai, Điều 122, Điều 123 Điều 129 của Bộ luật dân sự. Do
đó, cần tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 11/11/2010
giữa bà N, bà T và bà C, ông H vô hiệu là phù hợp.
4. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn bị đơn hiệu, buộc bị đơn hoàn
trả giá trị của thửa đất tại thời điểm Tòa án giải quyết theo như biên bản định
giá ngày 29/4/2025 trị giá thửa đất là: 1.200.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Như đã phân tích trên, do sau khi được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng bị đơn không làm thtục tách thửa cho nguyên
đơn chuyển nhượng cho H nên làm cho hợp đồng không tiếp tục thực hiện
được. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng đất giữa 2 bên
hiệu hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 407, 408 của Bộ luật dân sự.
Bị đơn thừa nhận đã nhận của nguyên đơn số tiền 700.000.000 đồng. Quá trình
giải quyết vụ án nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả gtrị thửa đất tại thời điểm Hội
đồng định giá ngày 29/4/2025 theo giá thị trường 1.200.000.000 đồng xét yêu
cầu của nguyên đơn là phù hợp nên cần buộc C người thừa kế quyền
nghĩa vụ là anh Q, anh C và anh V trả lại số tiền trên cho nguyên đơn là phù hợp.
5. Về chi phí đo đạc thửa đất, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ định
giá tài sản: Bị đơn Trần Thị C phải chịu chi phí đo đạc thửa đất, chi phí xem
xét thẩm định tại chỗ định giá tài sản 10.000.000 đồng. Chấp nhận
Nguyễn Thị Thanh T đã nộp số tiền 10.000.000 đồng đã chi pxong. Hoàn
trả lại cho bà Nguyễn Thị Thanh T số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) chi
phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ định giá tài sản sau khi thu được từ
Trần Thị C.
6. Về chi phí khai thác dữ liệu: Nguyên đơn Trần Thị N và Nguyễn
Thị Thanh T phải chịu 400.000 đồng (Bốn trăm ngàn đồng) tiền Chi phí khai thác
dữ liệu đất đai tại Chi nhánh văn phòng đăng đất đai thành phố B. Chấp nhận
Nguyễn Thị Thanh T đã nộp và chi phí xong.
7. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Do chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn nên bđơn bà Trần Thị C
phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá
ngạch đối với yêu cầu tuyên hợp đồng hiệu của nguyên đơn được chấp nhận
án pdân sự thẩm giá ngạch đối với giá trị tài sản phải thực hiện nghĩa
6
vụ theo mức tính 36.000.000 đồng + [3% x (1.200.000.000 đồng 800.000.000
đồng)] = 48.000.000 đồng.
- Nguyên đơn Trần Thị N và bà Nguyễn Thị Thanh T không phải chịu án
phí dân sthẩm, được nhận lại 300.000 đồng do ông Bùi Quang H nộp thay
theo biên lai thu số AA/2023/0013900 ngày 22/10/2024 tại Chi cục Thi hành án
dân sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
các Điều 147, 156, 158, 227, 228, 271 Điều 273 của Bluật tố tụng dân sự;
Điều 122, 123, 124, 129, 407, 408, 501 Điều 502 của Bộ luật dân sự; Điều 188
Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị N
Nguyễn Thị Thanh T:
2. Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Trần Thị N
Nguyễn Thị Thanh T Trần Thị C, ông Hồ Viết H ký kết ngày
11/11/2010 vô hiệu.
3. Buộc bà Trần Thị C người thừa kế quyền và nghĩa vụ là anh Hồ Viết
Q, anh Hồ Viết C, anh Hồ Viết V có trách nhiệm trả cho Trần Thị N
Nguyễn Thị Thanh T số tiền 1.200.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ
luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về chi phí đo đạc thửa đất, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ định
giá tài sản: Bị đơn Trần Thị C phải chịu chi phí đo đạc thửa đất, chi phí xem
xét thẩm định tại chỗ định giá tài sản 10.000.000 đồng. Chấp nhận
Nguyễn Thị Thanh T đã nộp số tiền 10.000.000 đồng đã chi phí xong. Hoàn
trả lại cho bà Nguyễn Thị Thanh T số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) chi
phí đo đạc, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản sau khi thu được
từ bà Trần Thị C.
5. Về chi phí khai thác dữ liệu: Nguyên đơn bà Trần Thị N Nguyễn
Thị Thanh T phải chịu 400.000 đồng (Bốn trăm ngàn đồng) tiền Chi phí khai thác
dữ liệu đất đai tại Chi nhánh văn phòng đăng đất đai thành phố B. Chấp nhận
Nguyễn Thị Thanh T đã nộp và chi phí xong.
7
6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bị đơn Trần Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự thẩm
không có gngạch đối với yêu cầu tuyên bố hủy hợp đồng của nguyên đơn được
chấp nhận 48.000.000 đồng án phí dân sự thẩm giá ngạch đối với giá trị
tài sản phải thực hiện nghĩa vụ.
- Nguyên đơn Trần Thị N Nguyễn Thị Thanh T không phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm được nhận lại 300.000 đồng do ông Bùi Quang H nộp thay
theo biên lai thu sAA/2023/0013900 ngày 22/10/2024 tại Chi cục Thi hành án
dân sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Đương smặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền
kháng cáo bản án thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án
hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Đắk Lắk; THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND Tp. B;
- Chi cục THADS Tp.B; Đã ký
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị Thanh
8
9
10
Tải về
Bản án số 112/2025/DS-ST Bản án số 112/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 112/2025/DS-ST Bản án số 112/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất