Bản án số 1118/2024/HC-PT ngày 27/09/2024 của TAND cấp cao tại TP.HCM
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 1118/2024/HC-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 1118/2024/HC-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 1118/2024/HC-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 1118/2024/HC-PT ngày 27/09/2024 của TAND cấp cao tại TP.HCM |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại TP.HCM |
| Số hiệu: | 1118/2024/HC-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 27/09/2024 |
| Lĩnh vực: | Hành chính |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Giữ nguyên bản án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1118/2024/HC-PT
Ngày 27 tháng 9 năm 2024
V/v “Khiếu kiện hành vi không thực hiện
việc cấp lại GCN.QSDĐ”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Tửu
Bà Huỳnh Thanh Duyên
Ông Mai Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Hà - Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ba Duy - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số:
MERGEFIELD Số_thụ_lý 670/2024/TLPT-HC ngày 10 tháng 8 năm 202 về việc
“Khiếu kiện hành vi không thực hiện việc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất”, do Bản án hành chính sơ thẩm số 15/2024/HC-ST ngày 16 tháng 4 năm 2024
của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2891/2024/QĐ-PT ngày
10 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Trần Quốc B, sinh năm 1970; Địa chỉ: B B,
phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh(có mặt).
- Người bị kiện: Văn phòng tỉnh Đ (sau đây gọi tắt là “VPĐKĐĐ”);
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Nguyễn Văn P; Chức
vụ: Phó Giám đốc VPĐKĐĐ tỉnh Đ (theo văn bản ủy quyền ngày 06 tháng 5 năm
2022) (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Phương L(Diệp Linda N năm 1948 (vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền của bà L: Ông Cao Xuân L1sinh năm 1973;
Địa chỉ liên hệ: Số B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
2. Bà Đỗ Nữ Lệ Q năm 1972 (có mặt);
2
Người đại diện theo ủy quyền của bà Q: Ông Trần Quốc B; Địa chỉ: B B,
phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh(theo văn bản ủy quyền ngày 22 tháng
3 năm 2024) (có mặt).
- Người kháng cáo: Người khởi kiện Trần Quốc B
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người
khởi kiện Trần Quốc B1 bày:
Năm 2008, ông Trần Quốc B2 kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất (sau đây gọi tắt là “QSDĐ”) với Công ty Cổ phần Đ2 (sau đây gọi tắt là “Công
ty Đ2”), theo Hợp đồng công chứng số 165/2008, quyển số 7/2008-TP/CC-
SCC/HĐGD, đã thanh toán đầy đủ (nguồn tiền do người thân bên nước ngoài
chuyển về để ông kinh doanh bất động sản) và đã được Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Đcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây gọi tắt là
“GCN.QSDĐ”) số AL 015712 ngày 11 tháng 4 năm 2008, AL 015714 ngày 08
tháng 5 năm 2008 (cập nhật trang 4).
Ngày 17 tháng 7 năm 2020, ông B3 VPĐKĐĐ tỉnh Đ - chi nhánh B31 thủ
tục đăng ký cấp lại GCN.QSDĐ và tài sản gắn liền trên đất; hồ sơ đã được xem
xét đầy đủ theo Biên nhận số 198/BNHS-VPÐK. Tuy nhiên, VPĐKĐĐ tỉnh Đ -
chi nhánh B32 thực hiện việc cấp lại GCN.QSDĐ theo quy định pháp luật. Ông
B4 làm đơn phản ánh và đăng ký gặp lãnh đạo Sở Tđể phản ánh vụ việc. Lãnh
đạo Sở Tđã lập biên bản làm việc, kết luận: Chỉ đạo Giám đốc VPĐKĐĐ tỉnh Đ
- chi nhánh B33 hành cấp lại GCN.QSDĐ và tài sản trên đất theo quy định pháp
luật, nhưng VPĐKĐĐ tỉnh Đồng Nai - chi nhánh B34 chưa cấp lại GCN.QSDĐ
cho ông B5 đúng quy định pháp luật.
Do đó, ông B6 kiện yêu cầu Tòa án:
- Tuyên hành vi không cấp lại GCN.QSDĐ của VPĐKĐĐ tỉnh Đồng Nai
đối với các thửa đất số 95, 96, tờ bản đồ số 106, xã P (nay là phường P), thành
phố B, tỉnh Đồng Naicho ông Trần Quốc B7 trái quy định của pháp luật.
- Buộc VPĐKĐĐ tỉnh Đồng Nai thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo pháp
luật quy định.
* Người bị kiện VPĐKĐĐ tỉnh Đtrình bày:
Quá trình sử dụng đất, cấp GCN tại thửa đất số 95, 96, tờ bản đồ số 106,
phường P, thành phố B: Công ty Đ1sử dụng thửa đất số 96, diện tích 1.047,0m
2
và thửa đất số 95, diện tích 1.580,0m
2
thuộc tờ bản đồ số 106 tại xã P, huyện L
(nay là phường P), thành phố B Sở Tthừa ủy quyền Ủy ban nhân dân (sau đây gọi
tắt là “UBND”) tỉnh cấp GCN.QSDĐ số AL 015714 và AL 015712.
Năm 2008, ông Trần Quốc B8 chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số
95 và 96 nêu trên của Công ty Đ2 theo Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số
165/2008 (được Phòng Ccông chứng ngày 28 tháng 7 năm 2008) và Hợp đồng
chuyển nhượng QSDĐ số 84 (được UBND phường P ngày 03 tháng 12 năm
2008), và được Văn phòng Đ3(nay là VPĐKĐĐ chi nhánh L3cập nhật thay đổi
3
tên chủ mới trên trang 4 GCN.QSDĐ số AL 015714 ngày 05 tháng 5 năm 2009
và AL 015712 ngày 17 tháng 3 năm 2009.
Ngày 13 tháng 3 năm 2020, ông B9 đơn báo mất GCN.QSDĐ sổ AL
015712 cấp ngày 11 tháng 4 năm 2008 và số AL 015714 cấp ngày 08 tháng 5 năm
2008, được Công an phường P nhận ngày 14 tháng 3 năm 2020 và UBND phường
P nhận ngày 02 tháng 6 năm 2020.
Ngày 03 tháng 7 năm 2020, UBND phường Pcó văn bản số 353/UBND về
việc báo cáo kết quả niêm yết thông báo mất GCN.QSDĐ của ông B10 phường
PTheo nội dung văn bản, UBND đã niêm yết thông báo mất GCN.QSDĐ số AL
015714 và AL 015712 từ ngày 02 tháng 6 năm 2020 đến ngày 02 tháng 7 năm
2020, không có ai nộp đơn khiếu nại, tranh chấp tại UBND phường, hai
GCN.QSDĐ nêu trên hiện không đăng ký thế chấp, tín chấp tại địa phương.
Ngày 17 tháng 7 năm 2020, VPĐKĐĐ chi nhánh B35 tiếp nhận hồ sơ đề
nghị cấp lại GCN.QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của
ông B11 với thửa đất số 95, 96, tờ bản đồ số 106 nêu trên.
Trong quá trình thẩm tra hồ sơ nhận thấy thửa đất có sự thay đổi về hình
thể, ranh giới, diện tích trên bản đồ địa chính và GCN.QSDĐ đã cấp. Vì vậy, ngày
14 tháng 8 năm 2020, VPĐKĐĐ chi nhánh B36 tổ chức cuộc họp cùng với ông
B12 đại diện Công ty Đ4 thống nhất xử lý hồ sơ cấp lại GCN.QSDĐ cho ông BTại
cuộc họp, đại diện phía Công ty Đ5 biết: Năm 2019, bà Diệp L1 Ncó nộp đơn đề
nghị ngăn mọi giao dịch liên quan đến lô đất B12 (thửa đất số 96) và lô đất B32
(thửa đất số 95) nêu trên tại phường P lý do bà D Linda Ncho rằng bà là chủ sử
dụng của hai lô đất trên, nhưng do bà là người Việt Nam định cư ở nước ngoài
nên không đứng tên trên GCN được và đã để cháu là ông Trần Quốc B13 tên
giùm. Hiện tại, bản chính của hai GCN nêu trên bà Diệp L1 Nđang giữ, đồng thời
ông Cao X L1có cung cấp đơn ngăn chặn giao dịch QSDĐ của bà D L2Nguyễn
đề ngày 05 tháng 5 năm 2019 và bản cam kết giữa ông B12 dì ruột là bà D
L2Nguyễn đề ngày 24 tháng 4 năm 2019 (có lăn vân tay và ký tên). Nội dung của
giấy cam kết có ghi: “Bà D1 người Việt định cư ở nước ngoài (quốc tịch Hoa Kỳ)
cho nên không đứng tên trên GCN được nên có nhờ cháu là ông B13 tên trên GCN
và bà D2 cho ông B14 30% lợi nhuận từ 02 lô đất nêu trên”.
Ngày 27 tháng 8 năm 2020, chi nhánh B36 có văn bản số 5407/VPĐK.BH-
ĐKTK thông báo cho ông Trần Quốc B15 biết hiện tại 02 GCN của ông B16 bị
mất, vì vậy hồ sơ cớ mất GCN của ông B7 không có cơ sở để giải quyết.
Ngày 09 tháng 11 năm 2020, UBND phường P văn bản số 720/UBND gửi
VPĐKĐĐ chi nhánh B1về việc không giải quyết cấp GCN.QSDĐ của ông Trần
Quốc B17 với thửa đất số 95 và thửa đất số 96, tờ bản đồ số 106 tại phường P văn
bản ghi: “Bản chính GCN số AL 015712 thuộc thửa đất 95, tờ bản đồ số 106 và
GCN số AL 015714 thuộc thửa đất số 96, tờ bản đồ số 106 hiện bà Diệp L1 Nđang
giữ, do đó, UBND phường Pđề nghị VPĐKĐĐ tỉnh Đchi nhánh B1không giải
quyết việc cấp lại GCN.QSDĐ số AL 015712, AL 015714, cũng như ngăn chặn
các giao dịch liên quan đến 02 thửa đất trên”.
4
Ngày 10 tháng 11 năm 2020, VPĐKĐĐ chi nhánh B35 tiếp nhận đơn của
ông Cao Xuân L2(người nhận ủy quyền của bà Diệp Linda N tại Thành phố Hồ
Chí Minh. Nội dung đơn đề nghị ngăn chặn giao dịch và cấp đổi GCN số AL
015712 thuộc thửa đất 95 và GCN số AL 015714 thuộc thửa đất số 96, tờ bản đồ
số 106 tại phường P
Ngày 02 tháng 12 năm 2020, VPĐKĐĐ chi nhánh B1có văn bản số
7820/VPÐK-ĐKTK thông báo cho ông Cao X L1và Trần Quốc B15 biết hồ sơ
cấp lại GCN của ông Trần Quốc B7 không đủ cơ sở giải quyết.
- Ý kiến về việc cấp lại GCN.QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất của thửa đất số 95, 96, tờ bản đồ số 106 tại phường P
Theo quy định tại điểm k khoản 1 Điều 99 Luật Đất đai năm 2013; Điều 77
Nghị định số 43/2014/NÐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về việc
cấp lại GCN.QSDĐ thì người sử dụng đất chỉ được xem xét cấp lại GCN.QSDĐ
khi bị mất GCN. Tuy nhiên, theo kết quả xác minh và ý kiến của UBND phường
P văn bản số 720/UBND ngày 09 tháng 11 năm 2020 thì hiện nay 02 bản gốc
GCN.QSDĐ số AL015714 và số AL015712 đối với thửa đất số 95, 96, tờ bản đồ
số 106 tại phường P ông Trần Quốc B18 bị mất.
Do đó, yêu cầu cấp lại GCN.QSDĐ đối với thửa đất số 95, 96, tờ bản đồ số
106 tại phường P ông Trần Quốc B7 chưa đủ cơ sở thực hiện.
* Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 15/2024/HC-ST ngày 16 tháng 4
năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, đã quyết định:
Căn cứ Điều 30, Điều 32, khoản 1 Điều 157, Điều 158, khoản 2 Điều 193,
Điều 194, Điều 204, Điều 206 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Điều 101, Điều
102, Điều 105 Luật Đất đai năm 2013; Điều 20, khoản 2 Điều 37, Điều 77 Nghị
định số 43/2014/NĐ-CP; Điều 10 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quốc B19 việc: Yêu cầu
Tòa án tuyên hành vi không cấp lại GCN.QSDĐ của VPĐKĐĐ tỉnh Đồng Nai
đối với các thửa đất số 95, 96, tờ bản đồ số 106 tại xã P (nay là phường P), thành
phố B, tỉnh Đồng Naicho ông Trần Quốc B7 trái quy định của pháp luật.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các
đương sự theo luật định.
- Ngày 26 tháng 4 năm 2024, người khởi kiện Trần Quốc B có đơn kháng
cáo bản án sơ thẩm, với lý do kháng cáo:
1. Tòa sơ thẩm chưa đưa bên có liên quan vào vụ án là Công ty Đ2 - bên đã
bán đất rồi xin điều chỉnh dự án, làm mất 233m
2
đất của người khởi kiện là xâm
phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện.
5
2. Tòa sơ thẩm chưa làm rõ ông Cao Xuân L3 tham gia tố tụng, tranh tụng
là đại diện Công ty Đ6 nhận ủy quyền của bà Nguyễn Thị Phương L(hộ chiếu
K0146102) hay Diệp Linda N (hộ chiếu 591699152).
Vì thế, ông Bkháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người có kháng cáo Trần Quốc B1 bày: Giữ nguyên các lý do và yêu
cầu kháng cáo nêu trên.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Phương L - ông Cao
X L1trình bày: Ông là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Phương
L(Diệp Linda N “Hợp đồng ủy quyền” ngày 12 tháng 12 năm 2022, được công
chứng tại Văn phòng C1(số B, C, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh).
Ông cũng là người đại diện theo ủy quyền của bà Phương L4 vụ án dân sự Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Nai thụ lý sơ thẩm số 43/2023/TLST-DS ngày 28 tháng 3
năm 2023 về tranh chấp QSDĐ và yêu cầu hủy GCN.QSDĐ, giữa bà Nguyễn Thị
Phương L5 ông Trần Quốc B17 với QSDĐ tại thửa 95, 96, tờ bản đồ số 106 thuộc
GCN.QSDĐ số AL 015712 và AL 015714 trong vụ án này. Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Nai đã xử ngày 19 tháng 3 năm 2024 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà
Phương L
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời
điểm hiện nay thấy rằng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia
tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính, không có vi
phạm.
Về nội dung: Khi giải quyết, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá toàn
diện chứng cứ; quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là có căn cứ, đúng quy định
của pháp luật; ông Bkháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới nên
đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông B20 nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện
kiểm sát phát biểu ý kiến, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Đơn kháng cáo của ông Trần Quốc B còn trong hạn luật định và hợp lệ
được xem xét tại cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 206 Luật Tố tụng hành
chính năm 2015.
[2] Người bị kiện có yêu cầu xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan vắng mặt có người đại diện theo ủy quyền nên căn cứ Điều 225 Luật Tố
tụng hành chính, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.
[3] Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết và thời hiệu khởi kiện
6
Tòa sơ thẩm xác định và thụ lý giải quyết là đúng theo quy định Luật Tố tụng
hành chính.
- Về nội dung:
Đối với kháng cáo yêu cầu hủy án sơ thẩm của ông Trần Quốc B21:
[1] Theo “Hợp đồng ủy quyền” do Văn phòng C1 (số B C, phường A, Quận
A, Thành phố Hồ Chí Minh) công chứng số 026707, quyển số 12/2022/TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 12 tháng 12 năm 2022, thể hiện (BL 102-105):
Bà Nguyễn Thị Phương L(Diệp Linda Nsinh năm 1948; hộ chiếu:
K0146102 cấp tại Ttại S; bà Phương L6 ủy quyền cho ông Cao Xuân L7 năm
1973; địa chỉ thường trú: 304 tầng C, Chung cư B, phường F, quận B, Thành phố
Hồ Chí Minh(địa chỉ liên hệ: Số B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí
Minh
- Căn cứ ủy quyền: Bà Phương L8 tiến hành nộp đơn khởi kiện ông Trần
Quốc B22 bà Đỗ Nữ Lệ Q2 với tranh chấp QSDĐ tại các thửa đất sau:
+ Thửa đất số 95, tờ bản đồ số 106 tại xã P, huyện L, tỉnh Đồng Naitheo
GCN.QSDĐ số AL 015712 do Sở T tỉnh Đcấp ngày 11 tháng 4 năm 2008, đăng
ký biến động ngày 17 tháng 3 năm 2009.
+ Thửa đất số 96, tờ bản đồ số 106 tại xã P, huyện L, tỉnh Đồng Naitheo
GCN.QSDĐ số AL 015714 do Sở T tỉnh Đcấp ngày 08 tháng 5 năm 2008, đăng
ký biến động ngày 17 tháng 3 năm 2009.
- Phạm vi ủy quyền: Được toàn quyền thay mặt và nhân danh bà Phương
L9 hệ Tòa án nhân dân các cấp có thẩm quyền và cơ quan nhà nước khác có liên
quan để nộp, nhận đơn khởi kiện, các giấy tờ liên quan, giải quyết tranh chấp nêu
trên với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của bà Phương L10 giai đoạn xét
xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm (nếu có)…
- Thời hạn ủy quyền là 10 (mười) năm.
Như vậy, bà Phương L6 ủy quyền cho ông Cao X L1tham gia tố tụng tại
Tòa án nhân dân các cấp để giải quyết tranh chấp liên quan đến các thửa đất số
95, 96, tờ bản đố số 106 theo GCN.QSDĐ số AL 015712 và GCN.QSDĐ số AL
015714 nêu trên.
Do đó, việc ông Bkháng c cho rằng: Tòa sơ thẩm chưa làm rõ tư cách ông
Cao Xuân L3 tham gia tố tụng, tranh tụng là đại diện Công ty Đ6 nhận ủy quyền
của bà Nguyễn Thị Phương L(hộ chiếu K0146102) hay Diệp Linda N(hộ chiếu
591699152), để yêu cầu hủy án sơ thẩm là không có căn cứ chấp nhận.
[2] Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 7 năm 2021 và quá trình tố tụng tại
cấp sơ thẩm, ông Trần Quốc B1 bày và yêu cầu như sau:
Năm 2008, ông Trần Quốc B2 kết hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ với
Công ty Đ7, quyển số 7/2008-TP/CC-SCC/HĐGD, đã thanh toán đầy đủ và đã
được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T.QSDĐ số AL 015712 ngày 11 tháng 4
năm 2008, AL 015714 ngày 08 tháng 5 năm 2008 (cập nhật trang 4).
7
Ngày 13 tháng 3 năm 2020, ông Trần Quốc B23 đơn báo mất GCN.QSDĐ
số AL 015712 cấp ngày 11 tháng 4 năm 2008 và số AL 015714 cấp ngày 08 tháng
5 năm 2008, được Công an phường P nhận ngày 14 tháng 3 năm 2020 và UBND
phường P nhận ngày 02 tháng 6 năm 2020.
Theo ông B24 17 tháng 7 năm 2020, ông B3 VPĐKĐĐ tỉnh Đ - chi nhánh
B31 thủ tục đăng ký cấp lại GCN.QSDĐ và tài sản gắn liền trên đất, hồ sơ đã
được xem xét đầy đủ và được cấp Biên nhận số 198/BNHS-VPÐK. Tuy nhiên,
VPĐKĐĐ tỉnh Đ - chi nhánh B32 thực hiện việc cấp lại GCN.QSDĐ theo quy
định pháp luật.
Do đó, ông B6 kiện yêu cầu Tòa án:
- Tuyên hành vi không cấp lại GCN.QSDĐ của VPĐKĐĐ tỉnh Đồng Nai
đối với các thửa đất số 95, 96, tờ bản đồ số 106 tại xã P (nay là phường P), thành
phố B, tỉnh Đồng Naicho ông Trần Quốc B7 trái quy định của pháp luật.
- Buộc VPĐKĐĐ tỉnh Đồng Nai thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo pháp
luật quy định.
Với trình bày và yêu cầu khởi kiện như nêu trên thì khi giải quyết vụ án,
Tòa án phải tiến hành xem xét các chứng cứ của người khởi kiện, người bị kiện
và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan… cung cấp và Tòa án thu thập được,
đối chiếu các quy định của pháp luật để xem xét việc: VPĐKĐĐ tỉnh Đ1 đồng ý
cấp lại GCN.QSDĐ cho ông Trần Quốc B17 với các thửa đất số 95, 96, tờ bản đồ
số 106 tại xã P (nay là phường P), thành phố B, tỉnh Đồng Nailà đúng hay trái quy
định của pháp luật, từ đó đưa ra phán quyết cuối cùng là chấp nhận hay bác yêu
cầu của người khởi kiện.
Trong vụ án này, lý do để ông Trần Quốc B25 cấp lại GCN.QSDĐ đối với
các thửa đất 95, 96 nêu trên là: Ông Trần Quốc B26 mất GCN.QSDĐ, cụ thể là
mất GCN.QSDĐ số AL 015712 cấp ngày 11 tháng 4 năm 2008 và số AL 015714
cấp ngày 08 tháng 5 năm 2008. Cho nên, vụ án không liên quan gì đến quyền và
nghĩa vụ của Công ty Đ1
Do đó, kháng cáo yêu cầu hủy án sơ thẩm của ông B27 lý do: Tòa sơ thẩm
chưa đưa bên có liên quan vào vụ án là Công ty Đ2 - bên đã bán đất rồi xin điều
chỉnh dự án, làm mất 233m
2
đất của ông B xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp
của ông, cũng là không có căn cứ để chấp nhận. Riêng trường hợp ông B28 rằng:
Công ty Đ8 điều chỉnh dự án, làm mất 233m
2
đất của ông, thì là lĩnh vực tranh
chấp dân sự, không liên quan đến vụ án hành chính này.
[3] Mặc dù ông B18 kháng cáo về nội dung, nhưng Hội đồng xét xử cũng
xem xét và nhận thấy: Nhận định và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là có căn
cứ, đúng quy định của pháp luật, do: Việc cớ mất GCN.QSDĐ số AL 015712 cấp
ngày 11 tháng 4 năm 2008 và số AL 015714 cấp ngày 08 tháng 5 năm 2008 của
ông B5 đơn ngày 13 tháng 3 năm 2020 là không có thật, vì các GCN.QSDĐ nêu
trên hiện do bà Nguyễn Thị Phương L (Diệp Linda N giữ và bà Nguyễn Thị
Phương L11 khởi kiện ông Trần Quốc B19 việc “Tranh chấp QSDĐ và yêu cầu
hủy GCN.QSDĐ” tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai theo vụ án dân sự sơ thẩm
8
thụ lý số 43/2023/TLST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2023. Tại vụ án nói trên, bà
Phương L12 cầu hủy các GCN.QSDĐ số AL 015714 và AL 015712 được cập
nhật chủ sử dụng đất cho ông Trần Quốc B29 trang 4. Vụ việc đã được giải quyết
bằng Bản án dân sự số 10/2024/DS-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Nai, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Phương
L(Diệp Linda N
[4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại
diện Viện kiểm sát, bác kháng cáo của ông Trần Quốc B30 nguyên án sơ thẩm.
[5] Về án phí hành chính phúc thẩm:
Ông Trần Quốc B phải nộp 300.000 đồng, được khấu trừ từ 300.000 đồng
tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0000314 ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai,
nên không phải nộp thêm.
[6] Quyết định khác của án sơ thẩm về án phí không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 30, Điều 32, khoản 1 Điều 157, Điều 158, khoản 2 Điều 193,
Điều 194, Điều 204, Điều 206, khoản 1 Điều 241, Điều 296 Luật Tố tụng hành
chính năm 2015;
Áp dụng Điều 101, Điều 102, Điều 105 Luật Đất đai năm 2013; Điều 20,
khoản 2 Điều 37, Điều 77 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP; Điều 10 Thông tư số
24/2014/TT-BTNMT; Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Bác kháng cáo của người khởi kiện Trần Quốc B30; Giữ nguyên Bản án
hành chính sơ thẩm số 15/2024/HC-ST ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Nai.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quốc B19 việc:
Yêu cầu Tòa án tuyên hành vi không cấp lại GCN.QSDĐ của VPĐKĐĐ
tỉnh Đồng Nai đối với các thửa đất số 95, 96, tờ bản đồ số 106 tại xã P (nay là
phường P), thành phố B, tỉnh Đồng Naicho ông Trần Quốc B7 trái quy định của
pháp luật.
3. Về án phí hành chính phúc thẩm:
Ông Trần Quốc B phải nộp 300.000 đồng, được khấu trừ từ 300.000 đồng
tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0000314 ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai,
nên không phải nộp thêm.
9
4. Quyết định khác của án sơ thẩm về án phí không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
- TAND tỉnh Đồng Nai;
- VKSND tỉnh Đồng Nai;
- Cục THADS tỉnh Đồng Nai;
- Các đương sự (3);
- Lưu VT (5), HS (2), 15b, (TK-PH).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Tửu
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm