Bản án số 11/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TAND huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 11/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 11/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 11/2024/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 11/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TAND huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Buôn Đôn (TAND tỉnh Đắk Lắk) |
| Số hiệu: | 11/2024/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/05/2024 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | bà H’ và ông Vũ Xuân L có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Đăk Lăk ngày 31/12/2015 trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi nhau, nguyên nhân là do hai vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, không có sự quan tâm chia sẻ. Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi bà H’ và ông Vũ Xuân L sinh sống thì được biết ông L và bà H’ thường xuyên mâu thuẫn cãi nhau, bà H’ bỏ về nhà bố mẹ sinh sống, sau đó hai vợ chồng đã sống ly thân |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN BUÔN ĐÔN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH ĐĂKLĂK
Bản án số: 11/2024/HNGĐ-ST.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024.
V/v:“Tranh chấp Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Vinh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nông Thị Hảo, ông Nguyễn Đình Phượng.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Đinh Ngọc Lương – Thư ký Tòa án nhân
dân huyện Buôn Đôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn tham gia phiên tòa: Ông Y
Rin Niê KDăm – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn mở phiên
toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 35/2024/TLST-
HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 04/2024/QĐXX-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên
tòa số: 01/2024/QĐST-DS ngày 14/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà H’, sinh năm 1985
Trú tại: Buôn Knia 01, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
- Bị đơn: Ông Vũ Xuân L, sinh năm 1982
Trú tại: Thôn 03, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt lần hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 19/3/2024, bản tự khai và tại phiên toà hôm nay, nguyên
đơn bà H’ trình bày:
Bà và ông Vũ Xuân L đăng ký kết hôn ngày 31/12/2015 tại Ủy ban nhân dân xã T,
huyện B, tỉnh Đắk Lắk trên cơ sở tự nguyện. Sau khi cưới nhau bà về chung sống với gia
đình chồng tại thôn 03, xã T, huyện B quá trình chung sống không hạnh phúc, vợ chồng
thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cải nhau. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, vợ
chồng không có sự quan tâm chia sẽ, thường xuyên cãi vã, bất hòa, vợ chồng đã sống ly
thân từ năm 2018 đến nay. Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng
không thể tiếp tục chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng
2
không còn tình cảm nên đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Vũ Xuân
L .
Về con chung: Bà và ông L có 01 con chung là cháu Vũ Khánh L, sinh ngày
17/9/2015 (đã chết năm 2023).
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Vũ Xuân L trình bày:
Ông và bà H’ đăng ký kết hôn ngày 31/12/2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B,
tỉnh Đắk Lắk trên cơ sở tự nguyện. Sau khi cưới nhau bà H’ về chung sống với gia đình
tôi, quá trình chung sống hạnh phúc bình thường, đôi lúc có cãi nhau nhưng không lớn.
Đến năm 2019 bà H’ bỏ về nhà bố mẹ ở Buôn K, xã E sống cho đến nay.
Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng, tôi vẫn còn tình cảm
với bà H’ nên không đồng ý ly hôn, đề nghị vợ cho ông cơ hội để sửa chữa quay về sống
đoàn tụ.
Về con chung: Ông và bà H’ có 01 con chung là cháu Vũ Khánh L, sinh ngày
17/9/2015 (đã chết năm 2023).
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ kiện, Tòa án nhân dân
huyện Buôn Đôn đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của bà H’ và ông Vũ Xuân L
tại Ban tự quản và Hội phụ nữ thôn 03, xã T, huyện B nơi bà H’ và ông L sinh sống. Qua
xác minh tại địa phương thì được biết sau khi kết hôn bà H’ về sống chung với gia đình
ông L tại thôn 03, xã T, hai vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn cải nhau, nay bà H’ bỏ về
sống với bố mẹ đẻ tại Buôn K, xã E, huyện B và hai người đã sống ly thân. Tòa án huyện
Buôn Đôn đã tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải, phân tích các quy định của pháp
luật nhưng bà H’ thì nhất quyết xin được ly hôn với ông L, còn ông L thì không đồng ý ly
hôn, nên hoà giải không thành. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn căn cứ Điều
203 Bộ luật tố tụng Dân sự, đưa vụ án ra xét xử.
Tại phần tranh luận nguyên đơn bà H’ giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị cho rằng
mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị
Hội đồng xét xử giải quyết cho bà được ly hôn với ông Vũ Xuân L. Về tài sản chung và
nợ chung bà H’ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn phát biểu ý kiến về việc tuân
theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, của các đương
sự và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Sau khi thụ lý vụ án hôn nhân gia đình.
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố
tụng, giao thông báo thụ lý vụ án, giao thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ và hòa giải, thu thập chứng cứ làm căn cứ giải quyết vụ án. Ra quyết
định đưa vụ án ra xét xử, tống đạt hợp lệ quyết định xét xử và tại phiên tòa hôm nay,
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về trình
tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, đảm bảo quyền
và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Đối với các đương sự, nguyên đơn chấp hành đúng
3
các quy định pháp luật, bị đơn không chấp hành pháp luật.
Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56 Luật hôn
nhân & gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H. Xử cho bà H’ được
ly hôn với ông Vũ Xuân L.
Về tài sản chung, nợ chung bà H’ không yêu cầu nên không xem xét; bà H’ phải
chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết
quả tranh tụng công khai trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu có trong
hồ sơ vụ kiện, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Bà H’ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Vũ Xuân L thì đây
là “Tranh chấp ly hôn” nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện
Buôn Đôn được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị đơn ông Vũ Xuân L vắng mặt lần thứ hai không có lý do,
Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử
vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Tòa án nhận thấy bà H’ và ông Vũ Xuân L có đăng ký
kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Đăk Lăk ngày 31/12/2015 trên cơ sở tự nguyện.
Quá trình chung sống thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi nhau, nguyên nhân là do hai vợ
chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, không có sự quan tâm chia sẻ. Qua
xác minh tại chính quyền địa phương nơi bà H’ và ông Vũ Xuân L sinh sống thì được
biết ông L và bà H’ thường xuyên mâu thuẫn cãi nhau, bà H’ bỏ về nhà bố mẹ sinh sống,
sau đó hai vợ chồng đã sống ly thân. Quá trình giải quyết tại Tòa án bà H’ nhất quyết đề
nghị ly hôn với ông L. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa hai vợ chồng đã mâu
thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân & Gia đình chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của bà H’, xử cho bà H’ được ly hôn với ông Vũ Xuân L là phù hợp.
[3] Về con chung: Xét thấy bà H’ và ông L có 01 con chung là cháu Vũ Khánh L,
sinh ngày 17/9/2015 (đã chết năm 2023) nên không đề cập giải quyết.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H’ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không
xem xét.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 203; điểm b khoản 2
Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự;
Các điều 51, 56 Luật hôn nhân & Gia đình;

4
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H’.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà H’ được ly hôn với ông Vũ Xuân L.
- Về con chung: Bà H’ và ông L có 01 con chung là cháu Vũ Khánh L, sinh ngày
17/9/2015 (đã chết năm 2023) nên không đề cập giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà H’ không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Bà H’ phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án
phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã
nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện B theo biên lai thu số 0004760 ngày 01/4/2024.
- Quyền kháng cáo: Bà H’ có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định
15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn ông Vũ Xuân L vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn
luật định 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của
pháp luật.
Nơi nhận: TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND huỵên Buôn Đôn;
- THADS huyện B; (Đã ký)
- UBND xã T;
- Các đương sự; Nguyễn Vinh Tuấn
- Lưu hồ sơ.
5
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm