Bản án số 11/2023/HNGĐ-ST ngày 24/02/2023 của TAND huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình về tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 11/2023/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 11/2023/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 11/2023/HNGĐ-ST ngày 24/02/2023 của TAND huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình về tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Kỳ Sơn (TAND tỉnh Hòa Bình) |
| Số hiệu: | 11/2023/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/02/2023 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chị P và anh M tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1992 đến nay, không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà chỉ làm lễ cưới theo phong tục, tập quán của địa phương nên theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình thì quan hệ giữa chị P và anh M không làm phát sinh quyền nghĩa vụ của vợ và chồng |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KỲ SƠN
TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 11/2023/HNGĐ-ST
Ngày 24 tháng 02 năm 2023
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vi Thị Khuyên.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vi Thị Khiểu;
2. Bà Thái Thị Ly.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng–Thư ký Tòa án Tòa án nhân
dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia
phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lộc–Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh
Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 67/2022/TLST- HNGĐ
ngày 23 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp về nuôi con, tài sản của nam nữ chung
sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn”, theo quyết định đưa vụ
án ra xét xử số 07/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2023, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lầu Y P, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Bản T, xã N, huyện K, tỉnh Nghệ An; Có mặt.
- Bị đơn: Anh Xồng Chí M, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Bản T, xã N, huyện K, tỉnh Nghệ An.
Đang chấp hành án phạt tù tại: Đội 41 - K1- Phân trại số 01, Trại giam số 03
– Bộ Công an (đóng tại huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn chị Lầu Y P trình bày:
Về quan hệ tình cảm: Chị và anh Xồng Chí M tự nguyện chung sống với
nhau từ năm 1992, không đăng ký kết hôn tại UBND xã phường, thị trấn mà chỉ tổ
chức lễ cưới, mời hai họ, anh em tới dự lễ cưới theo phong tục tại địa phương.
2
Thời gian đầu chung sống tình cảm vợ chồng hạnh phúc, về sau phát sinh xảy ra
mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Xồng Chí M nghiện ngập, không quan tâm
chăm sóc gia đình. Đến năm 2006 anh Xồng Chí M vi phạm pháp luật phải đi chấp
hành án phạt tù cho đến nay. Hiện nay chị P không còn tình cảm với anh M nên
không muốn tiếp tục chung sống đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố chị và anh
Xồng Chí M không phải là vợ chồng.
Về con chung: Chị P và anh M có 03 con chung là Xồng Y N, sinh ngày
16/01/1996; Xồng Bá C, sinh ngày 20/9/1999 và Xồng Y C, sinh ngày 14/11/2003.
Hiện nay cả 03 con chung đều đã trưởng thành và đã lập gia đình nên chị P không
yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa bị đơn anh Xồng Chí M vắng mặt (do đang chấp hành án phạt
tù tại Trại giam số 3), tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, anh M trình bày:
Về quan hệ tình cảm: Anh M thừa nhận về thời điểm chung sống, phong tục,
tập quán về việc chung sống đúng như chị P trình bày. Anh Xồng Chí M đồng ý
không công nhận quan hệ vợ chồng với chị Lầu Y P.
Về con chung: Anh và chị P có 03 con chung là Xồng Y N, sinh ngày
16/01/1996; Xồng Bá C, sinh ngày 20/9/1999 và Xồng Y C, sinh ngày 14/11/2003.
Hiện nay cả 03 con chung đều đã trưởng thành và đã lập gia đình nên anh M không
yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề con chung.
Về tài sản chung: Anh M cho rằng vợ chồng có một mảnh đất khoảng 100m
2
và nhà trên đất, tuy nhiên hiện nay do anh đang phải đi thi hành án nên không yêu
cầu Tòa án giải quyết, khi nào anh về sẽ giải quyết sau.
Về nợ chung: Không có nợ chung nên anh M không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An
phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, xác định quan hệ tranh chấp;
Trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định
tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ, tống đạt đảm bảo
quyền của đương sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng
theo trình tự từ Điều 239 đến Điều 260 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành
pháp luật của Thư ký phiên tòa được thực hiện đúng quy định tại Điều 51 của Bộ
luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự: chấp hành đúng
quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
3
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 9, 14 và 53 của
Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản
5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Về hôn nhân: Không công nhận chị Lầu Y P và anh Xồng Chí M là vợ
chồng.
Về con chung: Chị P và anh M có 03 con chung là Xồng Y N, sinh ngày
16/01/1996; Xồng Bá C, sinh ngày 20/9/1999 và Xồng Y C, sinh ngày 14/11/2003.
Nay con chung đều đã đủ tuổi trưởng thành đã lập gia đình riêng nên không xem
xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lầu Y P và anh Xồng Chí M không yêu cầu
Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị Lầu Y P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp
luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Lầu Y P yêu cầu Tòa án giải
quyết không công nhận chị và anh Xồng Chí M là vợ chồng, bị đơn anh Xồng Chí
M có địa chỉ cư trú tại xã Nậm Cắn, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An. Đây là tranh
chấp hôn nhân gia đình về “Tranh chấp về nuôi con, tài sản của nam nữ chung
sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn theo quy định tại khoản 7 Điều 28, Điều
35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục
tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án
nguyên đơn chị Lầu Y P có mặt tại phiên tòa; bị đơn anh Xồng Chí M vắng mặt do
đang chấp hành án phạt tù tại trại giam, tuy nhiên trong quá trình giải quyết đã có
lời khai đầy đủ. Do đó việc giải quyết vụ án, xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng
quy định tại Điều 207 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ tình cảm chung sống với nhau như vợ chồng: Chị P và anh
M tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1992 đến nay, không đăng ký kết hôn tại
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà chỉ làm lễ cưới theo phong tục, tập quán của
địa phương nên theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình thì quan hệ giữa
chị P và anh M không làm phát sinh quyền nghĩa vụ của vợ và chồng. Sau thời
gian chung sống với nhau thì giữa hai người phát sinh nhiều nhiều mâu thuẫn,
nguyên nhân là do anh M nghiệp ngập, phải đi chấp hành án phạt tù từ năm 2006
4
cho đến nay. Hiện nay chị P không còn tình cảm với anh M, không muốn tiếp tục
duy trì cuộc sống chung. Xét thấy, việc chung sống, thời gian chung sống giữa chị
P và anh M là đúng thực tế, nay có bên yêu cầu ly hôn nên căn cứ các Điều 9, 14
và Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố chị Lầu Y P và anh Xồng Chí
M không phải là vợ chồng.
[4] Về con chung: Chị Lầu Y P và anh Xồng Chí M trong thời gian chung
sống có 03 con chung là Xồng Y N, sinh ngày 16/01/1996; Xồng Bá C, sinh ngày
20/9/1999 và Xồng Y C, sinh ngày 14/11/2003. Hiện nay cả 03 cháu đều đã đủ tuổi
trưởng thành và đã lập gia đình nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Chị Lầu Y P và anh Xồng Chí
M thống nhất không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn
bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội
đồng xét xử nên cần chấp nhận.
[7] Về án phí: Nguyên đơn chị Lầu Y P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo
quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy
định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân gia
đình;
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lầu Y P.
1. Về hôn nhân: Không công nhận chị Lầu Y P và anh Xồng Chí M là vợ
chồng.
2. Về án phí: Chị Lầu Y P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) tiền án
phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004279 ngày 19/12/2022 tại Chi
cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An. (Chị P đã nộp đủ tiền án phí
dân sự sơ thẩm).
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Lầu Y P có quyền kháng cáo đến
Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm
5
(ngày 24/02/2023). Bị đơn anh Xồng Chí M vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án
trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo
quy định./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND tỉnh Nghệ An
- VKSND huyện Kỳ Sơn;
- VKSND tỉnh Nghệ An;
- Chi cục THADS huyện Kỳ Sơn;
- Lưu hồ sơ; VP.TA
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Vi Thị Khuyên
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 30/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 29/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 22/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 21/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 16/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 07/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 01/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 29/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 29/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 01/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 27/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 27/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 26/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 26/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm