Bản án số 11/2018/HSST ngày 10/04/2018 của TAND huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 11/2018/HSST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 11/2018/HSST
| Tên Bản án: | Bản án số 11/2018/HSST ngày 10/04/2018 của TAND huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Ân Thi (TAND tỉnh Hưng Yên) |
| Số hiệu: | 11/2018/HSST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 10/04/2018 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ÂN THI
TỈNH HƢNG YÊN
-----------------------
Án số:11/2018/HSST
Ngày 10 tháng 4 năm 2018
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ÂN THI - TỈNH HNG YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lƣơng Thị Thủy
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Đình Động
Ông Vũ Huy Hách
Thư ký phiên toà: Ông Dƣơng mạnh Hùng – Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ân Thi tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Hữu - KSV
Ngày 10 tháng 04 năm 2018 tại trụ sở TAND huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên mở phiên toà xét xử công
khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2018/HSST ngày 12/02/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số 11/2018/QĐXXST-HS ngày 27/3/2018 đối với :
Bị cáo: Bùi Trung H SN 1985 Giới tính: Nam
Nơi sinh và nơi cư trú: T thị trấn  T,  T, H.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ học vấn: 12/12.
Họ tên cha: Bùi Trung D SN 1957. Nghề nghiệp: Trồng trọt.
Họ tên mẹ: Bùi Thị V SN 1960. Nghề nghiệp: Trồng trọt.
Em gái: Bùi Huyền T SN 1987. Nghề nghiệp: Trồng trọt.
Em gái: Bùi Thị Th SN 1993. Nghề nghiệp: Trồng trọt.
Vợ là Hoàng Thị M SN 1986. Nghề nghiệp: Trồng trọt.
Có 02 con là Bùi Trung Th SN 2007 và Bùi Thị Thành TSN 2010

2
Tiền án, tiền sự: Chưa
Bị cáo Bùi Trung Hiếu đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Trại tạm giam Công an
tỉnh Hưng Yên, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như
sau:
Khoảng 12h00 ngày 24/12/2017, Bùi Trung Hiếu nhận được điện thoại của một người tên là
Luyến ở thôn Ba Đông, xã Phan Sào Nam, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên gọi cho Hiếu nói “Có hàng
xuống mà lấy” (nghĩa là bảo Hiếu xuống lấy ma túy đá). Đến khoảng 17h00 cùng ngày, Hiếu thuê xe
taxi biển số 89A- 079.70 của hãng taxi Ân Thi do anh Bùi Đắc Thịnh SN 1980 ở thôn Cù Tu, xã
Xuân Trúc, huyện Ân Thi điều khiển để đi đến thôn Ba Đông, xã Phan Sào Nam, huyện Phù Cừ mua
ma túy, nhưng Hiếu không nói cho anh Thịnh biết việc Hiếu thuê xe để đi mua ma túy. Khi đến thôn
Ba Đông, xã Phan Sào Nam, huyện Phù Cừ, Hiếu bảo anh Thịnh dừng xe taxi lại để chờ Hiếu, còn
Hiếu một mình đi vào một ngõ để gặp thanh niên tên Luyến, do Hiếu không có tiền nên bảo thanh
niên tên Luyến bán chịu ma túy cho Hiếu, thanh niên tên Luyến nhất trí và được thanh niên tên Luyến
hướng dẫn Hiếu ra chỗ viên gạch ở cổng đầu ngõ nhấc viên gạch lên để lấy ma túy, theo chỉ dẫn Hiếu
đi ra nhấc viên gạch lên thấy có 01 túi nilon màu trắng có viền mầu đỏ bên trong chứa ma túy và 60
túi nilon nhỏ màu trắng có viền màu đỏ nên cầm đút vào túi quần bò phía trước bên phải Hiếu đang
mặc, sau đó đi ra chỗ xe taxi anh Thịnh đang đỗ chờ bảo chở về nhà; trên đường anh Thịnh điều
khiển xe taxi chở Hiếu về đến đoạn đường liên xã thuộc địa phận thôn 7, xã Hạ Lễ, huyện Ân Thi,
huyện Ân Thi lúc này vào khoảng 18 giờ cùng ngày thì bị Công an huyện Ân Thi phối hợp cùng
Công an xã Hạ Lễ, huyện Ân Thi kiểm tra phát hiện trong người Hiếu đang cất giấu trái phép ma túy
nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hiếu. Vật chứng thu giữ: Tại túi quần bò phía
trước bên phải Hiếu đang mặc 01 túi nilon màu trắng có viền đỏ, kích thước (7,5 x 06)cm, bên trong
có chứa chất kết tinh màu trắng, Hiếu khai là ma túy đá vừa mua của thanh niên tên Luyến, niêm
phong trong phong bì ký hiệu số (1); tại túi áo Vest bên phải Hiếu đang mặc 01 điện thoại di động
nhãn hiệu Nokia màu đen bên trong lắp sim số thuê bao 0968.750.540; thu tại túi áo Vest bên phải
Hiếu đang mặc 60 túi nilon mỗi túi có kích thước (02 x 02)cm; tại túi quần bò phía sau bên phải Hiếu
đang mặc số tiền 150.000 đồng.
Kết luận giám định số 22/KLGĐ - PC54 ngày 25/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh
Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định thu của Bùi Trung Hiếu là ma túy loại Methamphetamine, có trọng
lượng 21,1812 gam. Methamphetamine, STT: 67 danh mục II Nghị định 82/2013/NĐ - CP ngày 19/7/2013
của Chính Phủ. Sau giám định hoàn lại đối tượng giám định bao gồm: 21,0456 gam mẫu gửi giám định và
bao gói thu của Bùi Trung Hiếu trong bao niêm phong số 22/KLGĐ.
Quá trình điều tra, Bùi Trung Hiếu đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như
đã nêu trên. Hiếu khai số ma túy mua của của thanh niên tên Luyến mục đích mang về cất giấu và để sử
dụng dần.
3
Đối với thanh niên tên Luyến, Hiếu khai là người bán ma túy cho Hiếu, Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an huyện Ân Thi đã tiến hành xác minh tại thôn Ba Đông và tại xã Phan Sào Nam, huyện Phù Cừ,
nhưng không làm rõ được người có tên Luyến như Hiếu đã khai.
Đối với anh Bùi Đức Thịnh do không biết Hiếu thuê xe taxi để chở đi mua ma túy về sử dụng; nên
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ân Thi không xử lý.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ân Thi thu giữ: 01 túi nilon
màu trắng có viền màu đỏ kích thước (7,5 x 06)cm bên trong chứa ma túy, loại Methamphetamine, có
khối lượng 21,1812 gam, sau giám định cơ quan giám định hoàn lại 21,0456 gam mẫu gửi giám định và bao
gói trong bao niêm phong số 22/KLGĐ; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen bên trong lắp sim số
thuê bao 0968.750.540, số tiền 150.000 đồng, và 60 túi nilon mỗi túi có kích thước (02 x 02)cm của
Bùi Trung Hiếu.
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các
tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do cơ quan CSĐT công an huyện Ân Thi đã thu thập được, phù hợp
với nội dung bản cáo trạng mà VKSND huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo.
Cáo trạng số 10 ngày 12 tháng 02 năm 2018 của VKS huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị
cáo Bùi Trung Hiếu phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 2 Điều 249 của BLHS năm
2015.
Đại diện VKS giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị
HĐXX:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Trung Hiếu phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; điểm c khoản 1 Điều
47 BLHS năm 2015 ; Điều 135; điểm a,c khoản 2; điểm c khoản 3 Điều 106 của BLTTHS ; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt: bị cáo Bùi Trung Hiếu từ 7 năm 06 tháng đến 8 năm tù, thời gian tính từ ngày 24/12/2017.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 21,0456g Methamphetamine; 60 túi nilon cùng sim điện thoại
số 0968750540
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen có đặc điểm như biên
bản quản lý vật chứng.
Trả lại bị cáo số tiền 150.000đ
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
4
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi,
tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và các cơ quan tiến hành tố tụng: Trong
quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Cơ quan điều tra công an huyện Ân Thi; Kiểm sát viên, VKSND
huyện Ân Thi đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự , thủ tục tố tụng theo quy định của BLTTHS. Bị
cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố
tụng.
T¹i phiªn toµ, bÞ c¸o Bùi Trung Hiếu ®· thµnh khai nhËn hµnh vi ph¹m téi nh- Bản cáo trạng của
VKS đã truy tố: Khoảng 18h00 ngày 24/12/2017, Bùi Trung Hiếu đã có hành vi tàng trữ 01 túi nilon
có chứa ma túy trong người đã bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Ân Thi bắt quả tang tại địa phận xã
Hạ Lễ, huyện Ân Thi. Theo Kết luận giám định số 22/KLGĐ - PC54 ngày 25/12/2017 của Phòng kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định thu của Bùi Trung Hiếu là ma túy loại
Methamphetamine, có trọng lượng 21,1812 gam. Methamphetamine, STT: 67 danh mục II Nghị định
82/2013/NĐ - CP ngày 19/7/2013 của Chính Phủ.
Lêi khai nhËn cña bÞ c¸o phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như biên bản lấy lời khai của
người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định vµ c¸c tµi liÖu chøng cø kh¸c cã
trong hå s¬ do C¬ quan CS§T C«ng an huyÖn ¢n Thi ®· thu thËp ®-îc.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hµnh vi cña bÞ c¸o lµ nguy hiÓm cho x· héi x©m ph¹m ®Õn
chÝnh s¸ch ®éc quyÒn cña Nhµ n-íc ta trong viÖc qu¶n lý mét sè mÆt hµng cÊm, bÞ c¸o cã ®ñ nhËn thøc ®Ó
biÕt r»ng c¸c chÊt ma tuý nãi chung vµ Methamphetamine nãi riªng lµ mÆt hµng Nhµ n-íc cÊm mua b¸n l-u
th«ng trªn thÞ tr-êng, nh-ng bị cáo do coi th-êng ph¸p luËt đã cè ý thùc hiÖn hµnh vi ph¹m téi nh»m tho¶
m·n nhu cÇu cña b¶n th©n. HiÖn nay tÖ n¹n ma tuý ®ang lµ hiÓm ho¹ cña toµn x· héi, g©y t¸c h¹i rÊt lín
®Õn søc khoÎ, lµm suy tho¸i nßi gièng, huû ho¹i phÈm gi¸ con người, ph¸ ho¹i h¹nh phóc gia ®×nh vµ lµ mÇm
mèng cña rÊt nhiÒu lo¹i téi ph¹m nghiªm träng kh¸c, ¶nh h-ëng ®Õn t×nh h×nh trËt tù, an toµn x· héi. V×
vËy viÖc ®-a bÞ c¸o ra xÐt xö nghiªm minh, kÞp thêi tr-íc ph¸p luËt lµ cÇn thiÕt nh»m móc ®Ých trõng trÞ
gi¸o dông ng-êi ph¹m téi vµ gãp phÇn vµo viÖc ®Êu tranh phßng chèng téi ph¹m chung.
Tõ nh÷ng ph©n tÝch vµ nhËn ®Þnh nªu trªn HĐXX có đủ cơ sở kết luận : Bị cáo Bùi Trung Hiếu
phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự
năm 2015.
Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/NQ14 ngày 20/62017; khoản 3 Điều 7 BLHS
năm 2015 thì điểm g khoản 2 Điều 249 của BLHS năm 2015 có lợi cho bị cáo hơn so với điểm m khoản 2
Điều 194 của BLHS năm 1999 nên sẽ áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249 của BLHS năm 2015 để xét xử đối
với hành vi phạm tội của bị cáo.
Như vậy, VKSND huyện Ân Thi đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là chính xác,
đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
5
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt ngoµi viÖc ®¸nh gi¸ tÝnh chÊt mức độ của
hành vi phạm tội, H§XX cßn c©n nh¾c xem xÐt ®Õn các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Bị cáo không ph¶i chÞu tình tiết tăng nặng nào, tại CQĐT cũng như tại phiên
tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bÞ c¸o được hưởng tình tiết giảm
nhẹ tr¸ch nhiÖm h×nh sù ®-îc quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51của BLHS.
VÒ nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, ch-a có tiền án, tiền sù, phạm tội lần
đầu nhưng l¹i ph¹m téi rất nghiªm träng nªn xÐt thấy cần phải ¸p dông một hình phạt
nghiêm khắc, bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ
tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã
hội, đồng thời góp phần đấu tranh phòng và chống loại tội phạm này.
Về hình phạt bổ sung: Xét về hoàn cảnh kinh tế cũng như việc bị cáo không có việc làm ổn định,
nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền là đối với bị cáo.
Về vật chứng: 21,0456g Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định là mặt hàng cấm nên
cho tịch thu, tiêu hủy.
Chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung
quỹ Nhà nước, còn đối với số tiền 150.000 đồng không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị
cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Trung Hiếu phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 điểm c khoản Điều 47 BLHS
năm 2015 ; Điều 135; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Trung Hiếu 07 năm 06 tháng tù, thời gian tính từ ngày 24/12/2017.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 21,0456g Methamphetamine.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen có đặc điểm như biên
bản quản lý vật chứng.
Trả lại bị cáo số tiền 150.000đ
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

6
NƠI NHẬN:
- VKS huyện;
- Bị cáo;
- Công an;
- Lưu HS.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà
Lƣơng Thị Thủy
7
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm