Bản án số 107/2025/DS-ST ngày 22/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 107/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 107/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 107/2025/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 107/2025/DS-ST ngày 22/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 107/2025/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 22/08/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 107/2025/DS-ST
Ngày: 22/8/2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đặng Thị Ngọc Hằng.
2. Ông Nguyễn Kiên Hiển.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Nhật Vi Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân
Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Khu vực 1,
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
931/TLST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt
cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 51/2025/QĐXXST-DS
ngày 09 tháng 7 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2025/QĐST-DS
ngày 30 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH Một thành viên Chuyển phát nhanh X.
Trụ sở: Điện Biên Phủ, Phường 15, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí
Minh (Nay là Điện Biên Phủ, phường Thạnh Mỹ Tây, Thành phố Hồ Chí
Minh).
Địa chỉ liên hệ: Hoàng Trọng Mậu, phường Tân Hưng, Quận 7, Thành
phố Hồ Chí Minh (Nay là Hoàng Trọng Mậu, phường Tân Hưng, Thành phố
Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Hy V – Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng H - Theo Giấy uỷ quyền số
26/2024/GUQ/HCM ngày 19/6/2024.
Bị đơn:
1. Ông Huỳnh Anh T, sinh năm 1968.
2. Bà Trần Thị Diệu T sinh năm 1974.
Cùng địa chỉ: Hai Bà Trưng, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ
Chí Minh (Nay là số Hai Bà Trưng, phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí
Minh).
(ông H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
ông T và bà T vắng mặt không có lý do)
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/4/2023, các lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên Chuyển phát nhanh X
có ông Hoàng H là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 22/8/2020, Công Ty TNHH Một thành viên Chuyển phát nhanh X
(Sau đây gọi là “Công ty”) cùng ông Huỳnh Anh T và bà Trần Thị Diệu T (Sau
đây gọi là “Bên Cho Thuê”) có ký Hợp đồng thuê mặt bằng số
21.08.2020/HĐTMB/JTHCM - HAT để thuê diện tích mặt bằng tại địa chỉ
Trần Quang Khải, phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh với thời
gian thuê được tính kể từ ngày 25/8/2020 đến hết ngày 31/8/2022 (sau đây gọi
là “Hợp đồng thuê”). Sau đó, ngày 31/8/2022 hai bên đã ký Phụ lục 01 để gia
hạn thời gian thuê mặt bằng nêu trên thêm 01 tháng từ ngày 01/9/2022 đến hết
ngày 30/9/2022. Để đảm bảo thực hiện Hợp đồng thuê, Công ty đã đặt cọc cho
Bên Cho Thuê số tiền là 74.000.000 đồng (bảy mươi bốn triệu đồng), hiện nay
Bên Cho Thuê đang giữ số tiền này.
Sau đó trong quá trình hoàn trả Mặt Bằng Thuê, Công ty đã tiến hành sửa
chữa Mặt Bằng Thuê và đã hoàn trả lại Mặt Bằng Thuê cho Bên cho thuê vào
ngày 10/10/2022. Vào ngày 11/10/2022, bà Trần Thị Diệu T đại diện cho Bên
Cho Thuê và ông Lê Hoàng T đại diện cho Công ty đã ký Biên Bản Bàn Giao
Nhà Thuê, theo đó, Bên Cho Thuê đã xác nhận Mặt Bằng Thuê đã được bàn
giao vào ngày 10/10/2022, hiện trạng Mặt Bằng Thuê như ban đầu, không có
bất kỳ khiếu nại, khiếu kiện gì đối với Mặt Bằng Thuê và tài sản gắn liền.
Trong Biên bản bàn giao nhà thuê Bên Cho Thuê có đề nghị:
1. Thanh toán tiền nhà đến hết ngày 10/10/2022.
2. Công ty đóng thuế dứt điểm đến ngày 10/10/2022.
3. Thanh toán phần công nợ của năm 2021 (09 tháng).
4. Tiền bồi thường nền nhà: 3.500.000 đồng.
Đối với các đề nghị nêu trên Công ty đã có hướng xử lý như sau:
1. Số tiền thuê Mặt Bằng Thuê từ ngày 01/10/2022 đến hết ngày
10/10/2022 là: (46.000.000 đồng/31 ngày) x 10 ngày = 14.839.000 đồng (Mười
bốn triệu, tám trăm ba mươi chín nghìn đồng) và tiền bồi thường nền nhà (đề
nghị số 4): 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng), Công ty đồng ý
thanh toán tổng số tiền 18.339.000 đồng (Mười tám triệu, ba trăm ba mươi chín
nghìn đồng) nêu trên bằng hình thức cấn trừ trực tiếp vào số tiền đặt cọc Bên
Cho Thuê đang giữ của Công ty.
2. Đối với đề nghị đóng thuế dứt điểm đến ngày 10/10/2022, Công ty đã
thanh toán đầy đủ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyển.
3. Riêng đề nghị thanh toán công nợ của năm 2021 (09 tháng), Công ty
không có công nợ với Bên Cho Thuê bởi các lẽ sau:
- Công ty đã thanh toán đầy đủ tiền thuê cho Bên cho thuê đến hết ngày
30/09/2022.
3
- Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Hợp đồng thuê: “Năm đầu tiên,
giá thuê là 37.000.000 đồng/tháng (bằng chữ: ba mươi bảy triệu đồng) được
đảm bảo cố định trong năm đầu tiên. Năm thứ hai trở đi (từ 01/09/2021), sẽ
điều chỉnh giá thuê theo tình hình thị trường, tình hình dịch bệnh nhưng không
vượt quá 3.000.000 đồng/tháng (bằng chữ: ba triệu đồng)”. Theo quy định này,
không mặc nhiên tới ngày 01/9/2021 Mặt Bằng Thuê nêu trên sẽ được tự động
tăng giá mà giá thuê “sẽ được điều chỉnh theo tình hình thị trường, tình hình
dịch bệnh” và chỉ có giá trị khi hai bên có lập văn bản xác nhận việc tăng/giảm
giá theo quy định tại khoản 5 Điều 9 của đồng thuê: “Việc sửa đổi Hợp đồng
chỉ có hiệu lực nếu được lập bằng văn bản dạng phụ lục và được ký kết bởi
người đại diện hợp pháp của các Bên. Các Phụ lục kèm theo Hợp đồng hoặc
bất kỳ các văn bản bổ sung và sửa đổi nào được ký kết hợp lệ đều là một bộ
phận của Hợp đồng, có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành như Hợp đồng”.
Thực tế hai bên không có thỏa thuận điều chỉnh giá thuê (tăng/giảm giá), giữa
hai bên không tồn tại văn bản thỏa thuận phụ lục Hợp đồng nào về việc xác
định tăng giá hoặc giảm giá Mặt Bằng Thuê. Do đó, Công ty không tồn tại
công nợ tiền thuê năm 2021 đối với Bên Cho Thuê.
Việc xử lý các đề nghị này đã được Công ty gửi Công văn 1303/2023/CV-
TH gửi bưu điện ngày 17/03/2023 tới địa chỉ Trần Quang Khải, Phường Tân
Định, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh và thường trú của Bên Cho Thuê ở Hai Bà
Trưng, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng đều
không được Bên Cho Thuê tiếp nhận và phản hồi.
Xét thấy Công ty đã hoàn thành tất cả các nghĩa vụ cũng như đáp ứng các
yêu cầu của Bên Cho Thuê đưa ra và Hợp đồng thuê cũng đã hết hạn từ ngày
30/9/2022. Tuy nhiên, đã gần 05 tháng kể từ ngày Hợp đồng hết hạn nhưng
Công ty vẫn chưa nhận lại khoản tiền đặt cọc còn lại là 55.661.000 đồng (Năm
mươi lăm triệu, sáu trăm sáu mươi mốt nghìn đồng). Công ty cũng không liên
lạc được với Bên Cho Thuê.
Do đó, Công ty kính đề nghị Quý Tòa xem xét chấp nhận các yêu cầu khởi
kiện sau:
- Buộc ông Huỳnh Anh T và bà Trần Thị Diệu T phải thanh toán cho
Công ty số tiền 55.661.000 đồng (Năm mươi lăm triệu, sáu trăm sáu mươi một
nghìn đồng chẵn) là tiền đặt cọc còn lại chưa hoàn trả.
- Thời hạn và phương thức thanh toán: thanh toán một lần ngay khi bản án
hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn ông Huỳnh Anh T và bà Trần Thị Diệu T đã được Tòa án tống đạt,
niêm yết Giấy triệu tập, Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm
tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của
pháp luật, nhưng bị đơn vẫn không có mặt theo triệu tập nên Tòa án không ghi
nhận được lời khai.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Công ty TNHH Một thành viên Chuyển phát nhanh X có ông Hoàng H là
đại diện theo ủy quyền có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
4
- Bị đơn ông Huỳnh Anh T và bà Trần Thị Diệu T vắng mặt không có lý
do.
Nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên Chuyển phát nhanh X có ông
Hoàng H là đại diện theo ủy quyền giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa
án giải quyết:
Buộc ông Huỳnh Anh T và bà Trần Thị Diệu T phải thanh toán cho Công
ty số tiền 55.661.000 đồng là tiền đặt cọc còn lại chưa hoàn trả.
Thời hạn và phương thức thanh toán: thanh toán một lần ngay khi bản án
hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án số:
931/TB-TLVA ngày 06/12/2024 nhưng đều không có ý kiến bằng văn bản gửi
Tòa án nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh, cũng không có yêu cầu
phản tố. Ngoài ra, Tòa án đã làm thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo
về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải,
Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định pháp
luật nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Bị đơn cũng không có ý kiến gì
liên quan đến chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án,
thu thập chứng cứ và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa
án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.
- Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý
vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy
định Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Nguyên đơn
có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ
hai đối với việc xét xử nhưng vắng mặt không rõ lý do, không đến tham gia
phiên tòa xem như từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình. Căn cứ
Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét
xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.
- Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét, quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Xét quan hệ tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn trong vụ án này là
tranh chấp về dân sự mà cụ thể là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” được quy
định tại khoản 3 Điều 26 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
5
[1.2] Về thẩm quyền: Xét ông T và bà T có địa chỉ cư trú tại phường Xuân
Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều
35 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025),
điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí
Minh.
[1.3] Xét thủ tục xét xử vắng mặt: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng
mặt.
Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu
tập để trình bày ý kiến; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết
định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng
mặt không có lý do.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án
nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử vắng mặt
nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về áp dụng quy định pháp luật để giải quyết vụ án:
Xét giao dịch dân sự do các bên xác lập và đang thực hiện có nội dung và
hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự nên áp dụng quy định của
Bộ luật Dân sự để giải quyết vụ án.
[3] Xét yêu cầu của Công ty TNHH Một thành viên Chuyển phát nhanh X:
Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của Công ty TNHH
Một thành viên Chuyển phát nhanh X, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Căn cứ Hợp đồng cho thuê mặt bằng số
21.08.2020/HĐTMB/JTHCM-HAT ngày 22/8/2020 có nội dung: “… trong
vòng 02 (hai) ngày làm việc kể từ khi ký kết Hợp đồng, Bên Thuê sẽ thực hiện
đặt cọc cho Bên Cho Thuê số tiền là 74.000.000 VNĐ. Tiền đặt cọc này không
tính lãi và sẽ luôn được giữ nguyên trong suốt thời hạn thuê và được hoàn trả
cho Bên Thuê trong vòng 05 (năm) ngày làm việc sau khi hết thời hạn thuê
hoặc được xử lý theo các trường hợp khác quy định tại Hợp đồng này.” Hợp
đồng có chữ ký xác nhận giữa ông T, bà T và Công ty X nên làm phát sinh
quyền và nghĩa vụ của hai bên.
[3.2] Ngày 11/10/2022, bà Trần Thị Diệu T và đại diện Công ty X là ông
Lê Hoàng T đã ký Biên bản bàn giao nhà thuê. Theo đó, hai bên đã xác nhận
Mặt Bằng Thuê đã được bàn giao vào ngày 10/10/2022, hiện trạng Mặt Bằng
Thuê như ban đầu, không có bất kỳ khiếu nại, khiếu kiện gì đối với Mặt Bằng
Thuê và tài sản gắn liền. Trong Biên bản bàn giao nhà thuê bà T có các đề
nghị:
“1. Thanh toán tiền nhà đến hết ngày 10/10/2022.
…
4. Tiền bồi thường nền nhà: 3.500.000 đồng.”
6
Công ty X có hướng xử lý như sau: Số tiền thuê từ ngày 01/10/2022 đến
hết ngày 10/10/2022 là: (46.000.000 đồng/31 ngày) x 10 ngày = 14.839.000
đồng và tiền bồi thường nền nhà là 3.500.000 đồng, Công ty đồng ý thanh toán
tổng số tiền 18.339.000 đồng bằng hình thức cấn trừ trực tiếp vào số tiền đặt
cọc 74.000.000 đồng mà ông T, bà T đang giữ. Tính đến hiện tại ông T và bà T
vẫn chưa hoàn trả số tiền 55.661.000 đồng cho Công ty X.
[3.3] Căn cứ khoản 1 Điều 280 Bộ luật Dân sự quy định: “Nghĩa vụ trả
tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức
đã thỏa thuận.”
[3.4] Xét thấy đã quá thời hạn quy định theo Hợp đồng cho thuê mặt bằng
số 21.08.2020/HĐTMB/JTHCM-HAT ngày 22/8/2020 mà ông T và bà T vẫn
chưa hoàn trả tiền cọc cho Công ty X là vi phạm thỏa thuận đã cam kết và vi
phạm Điều 280 Bộ luật Dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận
yêu cầu của Công ty X về việc buộc ông Huỳnh Anh T và bà Trần Thị Diệu T
phải thanh toán cho Công ty số tiền 55.661.000 đồng.
[4] Như đã phân tích, xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu
vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật
nên được chấp nhận. Do bị đơn không tham gia tố tụng và không có lời khai
nên không giải quyết.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Anh T và bà Trần Thị Diệu T phải
nộp là 2.783.050 đồng.
- Hoàn lại cho Công ty TNHH Một thành viên Chuyển phát nhanh X số
tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.391.525 đồng theo biên lai số
AA/2022/0000501 ngày 29/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3
(Nay là Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 1).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 (đã được sửa đổi, bổ
sung theo Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025), điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 179, Điều 180, khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3
Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Một
thành viên Chuyển phát nhanh X:

7
Buộc ông Huỳnh Anh T và bà Trần Thị Diệu T phải thanh toán cho Công
ty số tiền 55.661.000 đồng (Năm mươi lăm triệu, sáu trăm sáu mươi mốt nghìn
đồng) là tiền đặt cọc còn lại chưa hoàn trả.
Thời hạn và phương thức thanh toán: thanh toán một lần ngay khi bản án
hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Huỳnh Anh T và bà Trần Thị Diệu T phải nộp 2.783.050 đồng (Hai
triệu, bảy trăm tám mươi ba nghìn, không trăm năm mươi đồng).
- Hoàn lại cho Công ty TNHH Một thành viên Chuyển phát nhanh X số
tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.391.525 đồng (Một triệu, ba trăm chín mươi
mốt nghìn, năm trăm hai mươi lăm đồng) theo biên lai số AA/2022/0000501
ngày 29/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3 (Nay là Phòng Thi
hành án Dân sự Khu vực 1).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo:
Công ty TNHH Một thành viên Chuyển phát nhanh X, ông Huỳnh Anh T
và bà Trần Thị Diệu T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND Tp.HCM; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Khu vực 1, Tp. HCM;
- Phòng THA Dân sự Khu vực 1;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, Hồ sơ (…).
Phạm Văn Tuấn
8
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Đặng Thị Ngọc Hằng Nguyễn Kiên Hiển Phạm Văn Tuấn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng