Bản án số 107/2024/DS-ST ngày 10/05/2024 của TAND TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 107/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 107/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 107/2024/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 107/2024/DS-ST ngày 10/05/2024 của TAND TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Tam Kỳ (TAND tỉnh Quảng Nam) |
| Số hiệu: | 107/2024/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 10/05/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | xét xử |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ TAM KỲ Độc lập - Tự Do - Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG NAM
Bản án số: 107/2024/DS-ST
Ngày 10-5-2024
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Khôi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Tin
Ông Nguyễn Văn Thông
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Luông - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hà Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ,
tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 276/2023/TLST-DS ngày
30-11-2023 về việc “Tranh chấp hợp vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 37/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà
số 30/2024/QĐST-DS ngày 16-4-2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Diễm Ch, sinh năm 1969 và ông Doãn Tấn Th,
sinh năm 1964, cùng địa chỉ: Khối phố An Hà N, phường An Ph, thành phố Tam K,
tỉnh Quảng N; đều có mặt.
2. Bị đơn: Bà Lương Huỳnh N, sinh năm 2000; Nơi ĐKHKTT: Khối phố
Xuân B, phường Trường X, thành phố Tam K, tỉnh Quảng N; tạm trú: 04 Nguyễn
D, phường An M, thành phố Tam K, tỉnh Quảng N; có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Doãn Vũ Anh T, sinh năm 1992, địa chỉ: Khối phố An Hà N, phường
An Ph, thành phố Tam K, tỉnh Quảng N; vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
+ Ông Lương Đoàn Xuân V, sinh năm 1981, địa chỉ: 306 Cửa Đ, thành phố Hội
A, tỉnh Quảng N; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các lời khai tiếp theo tại bản tự khai và tại phiên tòa
nguyên đơn, bà Võ Thị Diễm Ch trình bày:

2
Bà Lương Huỳnh N và con trai bà (tên là Doãn Vũ Anh T sinh năm 1992)
có mối quan hệ yêu đương với nhau. Sau một thời gian quen nhau thì con trai bà có
dẫn N về ra mắt gia đình bà, từ đó mối quan hệ giữa N và gia đình bà ngày càng trở
nên thân thiết hơn, lâu dần, bà và chồng (tên là Doãn Tấn Thủy) đã coi N là người
thân trong gia đình. Vào khoảng cuối năm 2022, Lương Huỳnh N liên hệ với bà và
chồng bà xin vay số tiền 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng) để duy
trì hoạt động khách sạn của Lương Huỳnh N tại thành phố Hội An, tỉnh Quảng
Nam. Vợ chồng bà chỉ là người lao động bình thường ở quê nên không thể có được
số tiền lớn hàng trăm triệu đồng nên đã nói với N rằng không có tiền cho N vay.
Tuy bị từ chối nhưng bà N vẫn Nều lần về chở vợ chồng chúng bà ra Khách sạn Hội
An thăm dò bởi vì Khách sạn đã bị hư hỏng xuống cấp đóng cửa bỏ không trong 2
năm dịch Covid vừa qua, vì vậy vợ chồng bà cũng mũi lòng cầm thế chấp bia đỏ tại
Ngân hàng Agribank chi nhánh Trường Xuân, nghĩ rằng dù gì cũng thành người
một nhà nên quyết định đi thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của căn
nhà gia đình bà đang sinh sống để vay tiền đưa cho N.
Bà Lương Huỳnh N đã nhận số tiền 250.000.000 đồng này tại Ngân hàng
Agribank (phường Trường Xuân) vào ngày 16/12/2022, lúc giao tiền thì bà giao cho
bà N, có mặt T con bà cũng ở đó. Trước đó, cũng ngày 16/12/2022, tại nhà bà, có
mặt bà, ông T (con tôi), bà N và ông Th (chồng bà) thì bà N viết "Giấy cam kết” với
nội dung: N mượn số tiền 250.000.000 đồng, còn về “Giấy cam kết” thì do tin
tưởng bà N nên vợ chồng bà không kiểm tra nội dung nên Lương Huỳnh N ghi lộn
trả tiền lãi chữ tháng và chữ quý. Sau này một lần nữa vào ngày 16/1/2023 bà N về
có nói đầu tư Khách sạn lại thiếu nhờ cô chủ giúp đỡ, thì chồng bà có chuyển thêm
cho N 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
Sau khi mượn được tiền của vợ chồng bà, quý đầu tiên N đã chuyển trả cho bà
số tiền là 6.288.082 đồng để lấy niềm tin nơi vợ chồng bà. Nhưng đến quý thứ hai
bà N bắt đầu có dấu hiệu bất thường khi chỉ chuyển trả cho vợ chồng bà 2.000.000
đồng. Đến giữa quý thứ ba, do bà Lương Huỳnh N hoàn toàn không có dấu hiệu trả
đủ số tiền lãi như thỏa thuận, vợ chồng bà đã liên hệ với N để yêu cầu bà N trả tiền.
Lúc này bà N đã tỏ thái độ không thiện chí với vợ chồng bà và nói rằng: Đợi khi
nào bán được khách sạn N sẽ trả toàn bộ số tiền lãi và gốc cho vợ chồng bà. Vợ
chồng bà không đồng ý và gọi điện, nhắn tin yêu cầu N ngay lập tức trả tiền gốc
cho vợ chồng bà để chuộc lại sổ đỏ đang thế chấp ở ngân hàng nhưng bà N từ chối
trả nợ. Đến ngày 16/9/2023 (là hạn cuối của quý ba) vợ chồng bà tiếp tục gọi điện
cho N nhưng đã không còn liên lạc được nữa, bà N đã cắt đứt liên lạc với bà. Bà gọi
hỏi con trai mình về N thì được biết con trai bà và Lương Huỳnh N đã chia tay. Đến
thời điểm này, khi đọc lại “Giấy cam kết” vợ chồng bà mới phát hiện rằng Lương
Huỳnh N đã ghi nhầm tiền lãi trả cho ngân hàng giữa tháng và quý; số tiền bà N đã
trả cho bà:

3
Quý 1: 3 tháng lãi 16/12/2022 - 16/3/2023, bà N đã chuyển trả đủ số tiền lãi
phải đóng cho ngân hàng, (chuyển khoảng cho bà Ch để bà Ch đi đóng tiền cho
ngân hàng) số tiền là 6.228.082 đồng.
Quý 2: 3 tháng lãi 16/3/2023 - 16/6/2023, bà N đã chuyển 2.000.000 đồng, còn
lại vợ chồng bà thêm vào.
Quý 3: Từ 16/6/2023 - 16/9/2023, bà gọi Lương Huỳnh N không nghe máy,
không liên lạc được, nên vợ chồng bà phải tự trả.
Bà yêu cầu bà N trả tiền lãi theo thoả thuận trả cho ngân hàng tính từ ngày 17-
12-2022, tức là ngày viết cam kết và bà N nhận tiền.
Trước đây bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lương Huỳnh N trả số tiền
đã mượn là 270.000.000 đồng và số tiền lãi còn lại chưa trả theo thoả thuận tính đến
hết năm 2023 là 17.830.764 đồng. Tại phiên tòa, bà đồng ý trừ số tiền con trai bà là
ông Doãn Vũ Anh T đã sử dụng để trả nợ là 150.000.000 đồng, bà chỉ yêu cầu bà N
còn phải trả cho bà số tiền 120.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày cho mượn tiền
đến nay tổng cộng là 23.500.000 đồng.
Ông Th thống nhất với phần trình bày của bà Ch, không bổ sung gì thêm.
- Bị đơn bà Lương Huỳnh N trình bày:
Bà xin trình bày sự việc như sau về số tiền bà viết giấy cho bà Võ Thị Diễm
Ch - Doãn Tần Th với số tiền vay ngân hàng 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu
đồng y) + 20.000.000 (hai mươi triệu đồng y) không viết giấy. Khoản vào thời gian
tháng 8/2021 bà và ông Doãn Vũ Anh T, sinh năm 1992 là con trai bà Ch bắt đầu
quan hệ tình cảm, sau khi quen nhau được 1 năm thì ông T có thú nhận tâm sự với
bà đã gây ra một khoản nợ và ông T có ý định mượn tiền ba mẹ ông để giải quyết
xong số nợ để làm lại từ đầu. Sau đó, ông T đã nói chuyện với gia đình và bà Ch
đồng ý vay số tiền 250.000.000 (hai trăm năm mươi triệu đồng y) và bà Ch có gọi
cho bà qua nói chuyện bắt bà viết giấy cam kết cho bà Ch. Vì trong giai đoạn quen
nhau bà tin tưởng ông T nên bà viết giấy cam kết cho bà Ch. Sau khi nhận được tiền
ông T đã lấy số tiền 170.000.000 (một trăm bảy mươi triệu đồng y) để đi trả nợ vào
việc riêng của ông, không liên gì đến bà, số tiền còn lại 100.000.000 (một trăm triệu
đồng y) ông T đã đưa cho bà để trả tiền thợ và mua đồ dùng cho khách sạn của gia
đình bà với mục đích để ông T làm thu nhập để trả lãi ngân hàng, tiền lãi khoản vay
từ gia đình ông và bà đã hỗ trợ không lấy chi phí nào từ ông T. Sau khi bà và ông T
chia tay thì bà Ch bắt bà phải trả số tiền 270.000.000 (hai trăm bảy mươi triệu đồng
y), tuy Nên bà chỉ đồng ý trả lại số tiền mà ông T đã đưa cho bà sau khi trừ đi chi
phí sinh lời hay lỗ nhưng bà Ch bắt bà phải trả hết số tiền như bà viết trên giấy. Bà
đã gặp nói chuyện với bà Ch vì bà chưa cho thuê được hoặc bán và chưa mượn
được để trả lại cho ông T nhưng bà Ch bắt buộc bà phải trả cho bằng được số tiền
ông T đầu tư và tiền nợ ông T gây ra. Mặt khác: Trong giai đoạn quen nhau bà cho
ông T mượn mua xe với số tiền 35.000.000 (ba mươi lăm triệu đồng y) và tiền
chuộc điện thoại của ông T 15.000.000 (mười lăm triệu đồng y) và bà có nói về việc

4
ông T mượn của bà với bà Ch và ông T cũng đã nói với mẹ của ông, bà Ch đã nhắn
tin cho bà về việc ông T nợ bà còn nói với bà khi nào ông T có tiền mới trả. Bà có
bằng chứng ghi âm, tin nhắn về việc liên quan tới số tiền mượn của bà Ch, đã cung
cấp cho Toà trong quá trình giải quyết vụ án, đã được công khai cho các bên biết.
Như vậy, trong tổng số tiền 270.000.000 đồng (gồm 20.000.000 đồng ông Th
chuyển khoản cho bà và 250.000.000 đồng ông T và bà nhận từ bà Ch tại Ngân
hàng), sau đó bà và ông T đi trả tiền nợ cho ông T với số tiền 170.000.000 đồng (trả
cho một người lạ mặt bà không biết tên, địa chỉ), trả tiền thợ như đã nói 20.000.000
đồng. Số tiền còn lại 80.000.000 đồng. Sau đó bà mua đồ dùng khách sạn và trả tiền
thợ hết số tiền 80.000.000 đồng này. Như vậy, tổng số tiền ông T đưa cho bà trả
tiền thợ và mua đồ dùng tại khách sạn do bà quản lý là 100.000.000 đồng. Số tiền
này là bà và ông T sử dụng, không liên quan gì đến ông V là ba ruột của bà. Nay bà
chỉ đồng ý trả 50.000.000 đồng trong 100.000.000 đồng còn nợ của bà Ch, ông
Thủy; 50.000.000 đồng còn lại thì ông T phải trả cho bà Ch, ông Th vì đây là số
tiền cả hai cùng nhận. Bà đồng ý khi cho mượn thì có nói trả tiền lãi cho ngân hàng
nhưng không nói cụ thể bao Nêu tiền lãi nên bà không đồng ý trả tiền lãi theo yêu
cầu của bà Ch, ông Thủy.
Trước đó, ông T có mượn tiền của bà 35.000.000 đồng tiền mua xe và
15.000.000 đồng tiền chuộc lại điện thoại cho ông T đã cầm cố. Tổng cộng là
50.000.000 đồng. Và trong thời gian làm tại khách sạn ông T nhận tiền từ khách sạn
nhưng bà không biết cụ thể chính xác là bao Nêu. Bà trình bày vậy để biết chứ bà
không có yêu cầu phản tố hay yêu cầu độc lập mặc dù đã được giải thích cụ thể.
Bà thừa nhận tại Giấy cam kết ngày 16-12-2022 là do chính bà viết và ký tên.
Theo giấy thoả thuận nêu trên thì số tiền lãi 6.400.000 đồng là trả trong 1 quý là 3
tháng. Tổng cộng số tiền bà chuyển khoảng trả cho bà Ch để đóng tiền lãi cho ngân
hàng 2 lần, lần 1 là 6.228.082 đồng, lần 2 là 2.000.000 đồng. Thời điểm trả tiền lãi
thoả thuận là từ khi nhận tiền sau ngày 16-12-2022 một ngày, tức là ngày 17-12-
2022.
- Tại Đơn xin trình bày ý kiến ngày 02-01-2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Doãn Vũ Anh T trình bày:
Vào ngày 16 tháng 12 năm 2022 bà Lương Huỳnh N có mượn của cha mẹ ông
là bà Võ Thị Diễm Ch và ông Doãn Tấn Th số tiền 250.000.000 đồng có viết giấy
mượn tiền, sau đó bà N tiếp tục mượn của ông Th bà Ch số tiền 20.000.000 đồng,
tổng cộng bà N đã mượn của ông Th, bà Ch số tiền là 270.000.000 đồng (Hai trăm
bảy mươi triệu đồng) sử dụng vào mục đích cá nhân của bà N. Việc vay mượn tiền
giữa bà Lương Huỳnh N với vợ chồng bà Võ Thị Diễm Ch và ông Doãn Tấn Th
không liên quan gì đến ông, ông không hề vay mượn tiền của bà Ch ông Th. Ông
cũng không sử dụng tiền mà bà N mượn của bà Ch ông Th, vì vậy ông đề nghị Toà
án giải quyết buộc chị Lương Huỳnh N có trách Nệm trả số tiền 270.000.000 đồng
cùng với tiền lãi của ngân hàng cho bà Võ Thị Diễm Ch và ông Doãn Tấn Th theo

5
quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam phát
biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký thực hiện đầy đủ theo trình tự thủ tục các bước T hành tố tụng đúng quy
định của pháp luật. Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng quy định
của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ các Điều 280, 463, 466 Bộ luật dân sự, đề nghị chấp
nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Ch, ông Th và bà N có quan hệ vay mượn tiền. Bà
N hiện nay đang thường trú tại thành phố Tam Kỳ nên theo quy định tại Điều 26,
Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng
Nam.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
thực hiện đầy đủ các bước T hành tố tụng giải quyết vụ án theo quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T, ông V có đơn xin
vắng mặt nên Hội đồng xét xử T hành xét xử vắng mặt là đảm bảo quy định pháp
luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Giữa bà Ch, ông Th với bà N, ông T có quan hệ quen biết (ông T là con
ruột của bà Ch, ông Th). Ngày 16/12/2022, giữa bà Ch với bà N có thoả thuận về
việc mượn tiền nên bà N có viết "Giấy cam kết”, theo đó bà N có mượn của bà Ch
số tiền 250.000.000 đồng. Sau đó, hai bên đều thừa nhận ông Th có chuyển tiếp cho
bà N mượn số tiền 20.000.000 đồng. Tổng cộng bà N có nhận của ông Th, bà Ch
tổng cộng số tiền là 270.000.000 đồng. Ông Th và bà Ch thống nhất đây là số tiền
chung của vợ chồng ông bà. Xét thấy, đây là sự thỏa thuận tự nguyện của các
đương sự, hợp pháp nên được pháp luật công nhận.
[2.2] Tại phiên tòa, ông Th, bà Ch đồng ý trừ số tiền ông T là con của ông sử
dụng là 150.000.000 đồng nên yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lương Huỳnh N
trả số tiền đã mượn là 120.000.000 đồng và số tiền lãi còn lại chưa trả theo thoả
thuận tính đến ngày xét xử tổng cộng là 23.500.000 đồng.
Bà N thừa nhận Giấy cam kết ngày 16-12-2022 là do chính bà viết và ký tên
và bà cho rằng trong tổng số tiền bà đã nhận 270.000.000 đồng thì bà và ông T đi
trả nợ cho ông T với số tiền 170.000.000 đồng, việc trả nợ này bà Ch, ông Th đều
6
biết. Bà chỉ đồng ý còn nợ bà Ch, ông Th số tiền 100.000.000 đồng, nhưng bà chỉ
chịu trách Nệm trả số tiền 50.000.000 đồng, 50.000.000 đồng còn lại thì ông T phải
trả cho bà Ch, ông Thủy.
Tại nội dung ghi âm từ USB bà N cung cấp và trong quá trình giải quyết vụ án
công khai chứng cứ, Toà án đã mở nội dung ghi âm và trích nội dung ghi âm thể
hiện:
- Đoạn 1: Từ 09p:27’ đến 9p:31 giây:
Bà Ch: Bây giờ nghe cô nói nè, hai trăm bảy, thằng Pin một trăm bảy, con
một trăm hai.
- Đoạn 2: Từ 10p:53’ đến 10p:58 giây:
Bà N: Tự Nên nghĩ lại đi, con còn trẻ tuổi, thôi cô ơi.
Bà Ch: Hai trăm bảy mà thằng con cô hắn lấy bao Nêu cô đành lòng trừ ra,
còn lại cô lấy con…
Bà N: Trừ ra một trăm rưỡi, dạ cô, lấy hết một trăm bảy triệu trả nợ.
- Đoạn 3: Từ 11p:30’ đến 11p:35 giây:
Bà Ch: Bây giờ cô lấy con một trăm hai nếu con không thống nhất cô đưa
lên Công an.
Bà N: Tám chục triệu, với hai chục triệu bỏ ra ngoài ni mà răng cô tính ra
một trăm hai rứa cô.
- Đoạn 4: Từ 10p:43’ đến 10p:46 giây:
Bà Ch: Hai trăm bảy nghe N, thằng con cô hắn lấy chỉ một trăm rưỡi
Bà N: Dạ cô ơi một trăm bảy cô….
Các đương sự đều thống nhất khi giao số tiền 250.000.000 đồng có sự có mặt
của cả ông T, bà N. Bà N cho rằng sau đó thì bà và ông T cùng đi trả tiền nợ cho
ông T với số tiền 170.000.000 đồng. Tại Đơn trình bày ý kiến ông T cho rằng ông
không liên quan đến số tiền này. Tuy Nên, trong quá trình giải quyết vụ án ông
không tham gia. Còn đối với nội dung thừa nhận của bà Ch tại nội dung ghi âm thể
hiện bà Ch biết việc ông T có nợ tiền của người khác. Trong cuộc thoại giữa bà Ch
với bà N thì Nều lần bà Ch cho rằng số tiền bà N còn phải trả cho bà Ch thì trừ đi số
tiền trả nợ cho ông T là con ruột của bà. Tại trích nội dung ghi âm nêu trên bà Ch
thừa nhận với bà N “Bây giờ nghe cô nói nè, hai trăm bảy, thằng Pin một trăm
bảy…”. Nội dung này phù hợp với phần trình bày của bà N.
Tại phiên tòa, bà Ch và ông Thủy đồng ý trừ đi số tiền ông T là con ruột của
ông bà sử dụng là 150.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T (là
con ruột của bà Ch, ông Th) vắng mặt tại các phiên làm việc của Toà án. Hơn nữa,
bà Ch thừa nhận khi giao số tiền 250.000.000 đồng thì có mặt cả ông T, bà N; phù

7
hợp với phần trình bày của bà N là sau khi nhận số tiền này thì bà và ông T cùng đi
trả tiền nợ cho ông T.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, trong tổng số tiền bà N nhận của ông Th, bà
Ch là 270.000.000 đồng thì bà N cùng đi trả nợ cho ông T (con ruột của bà Ch, ông
Th) số tiền 170.000.000 đồng. Số tiền hiện nay bà N còn phải trả cho bà Ch, ông Th
là 100.000.000 đồng, phù hợp với nội dung đồng ý của bà Ch theo nội dung trích từ
USB cuộc thoại nói chuyện giữa bà Ch với bà N. Do đó, cần chấp nhận một phần
yêu cầu khởi kiện của bà Ch, ông Th.
Xét yêu cầu trả tiền lãi của bà bà Ch, ông Th thì thấy: Trong Giấy cam kết
thể hiện khoản tiền mượn có trả tiền lãi suất, tuy Nên hai bên không thống nhất với
nhau về mức lãi suất là bao Nêu phần trăm, của số tiền nào. Do đó, theo quy định
tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự thì tiền lãi suất là 10%/năm. Bà N phải trả
tiền lãi suất cho bà Ch, ông Th đối với số tiền 100.000.000 đồng còn phải trả.
Bà N thừa nhận tiền lãi tính từ sau ngày viết cam kết và nhận tiền, tức tính từ
ngày 17-12-2022. Từ ngày 17-12-2022 đến 10-5-2024 là 508 ngày, cụ thể lãi suất là
100.000.000 đồng x 10%/12/30 ngày x 508 ngày = 14.111.000 đồng. Ông Th, bà
Ch yêu cầu trả tiền lãi là 23.500.000 đồng là Nều hơn nhận định nêu trên. Do đó,
chấp nhận một phần yêu cầu trả tiền lãi của bà Ch, ông Th.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận một phần
yêu cầu khởi kiện của bà Ch, ông Th là phù hợp.
Đối với số tiền bà N cho rằng ông T có mượn tiền của bà 35.000.000 đồng
tiền mua xe và 15.000.000 đồng tiền chuộc lại điện thoại cho ông T đã cầm cố.
Tổng cộng là 50.000.000 đồng. Và trong thời gian làm tại khách sạn ông T nhận
tiền từ khách sạn 10.000.0000 đồng. Trong quá trình giải quyết đã được giải thích
nhưng Bà N không có yêu cầu phản tố nên không xem xét giải quyết.
[2.3] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà N phải chịu theo quy định của pháp luật. Bà
Ch phải chịu tiền án phí đối với số tiền yêu cầu không được Hội đồng xét xử chấp
nhận gồm 20.000.000 đồng tiền gốc và 9.389.000 đồng tiền lãi. Ông Th là người
hơn 60 tuổi, được miễn tiền án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Các Điều 280, 357, Điều 370, Điều 463, khoản 1 Điều 466, Điều
468, Điều 470 của Bộ luật Dân sự;
Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều
147, Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội.

8
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Diễm Ch, ông Doãn
Tấn Th về tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Lương Huỳnh N.
2. Buộc bà Lương Huỳnh N phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Võ Thị Diễm
Ch và ông Doãn Tấn Th số tiền gốc còn nợ theo Giấy cam kết ngày 16-12-2022 là
100.000.000 (một trăm triệu) đồng và tiền lãi là 14.111.000 (mười bốn triệu, một
trăm mười một nghìn) đồng, tổng cộng là 114.111.000 (một trăm mười bốn triệu,
một trăm mười một nghìn) đồng.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Diễm Ch và ông Doãn
Tấn Th về việc buộc bà Lương Huỳnh N thanh toán số tiền nợ gốc là 20.000.000
đồng và 9.389.000 đồng tiền lãi.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bên phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức
lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời
gian và số tiền chậm thi hành án.
4. Về án phí: Buộc bà Lương Huỳnh N phải chịu 5.705.500 (năm triệu, bảy
trăm lẻ năm nghìn, năm trăm) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc bà Võ Thị Diễm Ch phải chịu 734.000 (bảy trăm ba mươi bốn nghìn)
đồng. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Th đã nộp là 6.750.000 (sáu triệu,
bảy trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu số 0001061 ngày 30-11-2023 của
Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Hoàn trả cho bà
Ch, ông Th số tiền còn thừa là 6.016.000 (sáu triệu, không trăm mười sáu nghìn)
đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên
án sơ thẩm (10-5-2024). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15
ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Nam; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP Tam Kỳ;
- Chi cục THADS TP Tam Kỳ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
9
Ngô Văn Khôi
10
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 24/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm