Bản án số 105/2026/HNGĐ-ST ngày 06/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 105/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 105/2026/HNGĐ-ST ngày 06/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 7 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 105/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/08/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn Chiến Đ, yêu cầu ông Đ nuôi con chung, bà T không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 105/2026/HNGĐ-ST Bản án số 105/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 105/2026/HNGĐ-ST Bản án số 105/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 7 – VĨNH LONG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 105/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 06-8-2026
V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Từ Xuân Tiếng
Bà Võ Thị Thanh Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đình Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 7 – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long tham gia phiên
tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Thắm – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh
Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 192/2026/TLST-HNGĐ ngày 19
tháng 5 năm 2026 về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 180/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2026; Quyết
định hoãn phiên tòa số 145/2026/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2026, giữa:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1984
Địa chỉ: Số nhà A, tổ A, đường C, khu phố C, phường B, Thành phố Đ.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Chiến Đ, sinh năm 1988
Địa chỉ: Ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long
Bà T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Ông Đ vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt
nhưng theo đơn khởi kiện, bản tự khai bà trình bày:
Bà và ông Nguyễn Văn Chiến Đ kết hôn vào năm 2017, trên cơ sở tự
nguyện, có đặng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay
là xã H, tỉnh Vĩnh Long) và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày
21/4/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu.
Đến năm 2019, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan
2
điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp, nên đã sống ly thân từ đó đến nay. Do
xác định tình cảm vợ chồng không còn hàn gắn được nữa nên bà yêu cầu được ly
hôn với ông Đ.
Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Thế D, sinh ngày 14/3/2017,
hiện nay đang sống với ông Đ. Bà yêu cầu ông Đ tiếp tục nuôi dưỡng con chung,
bà không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét
giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Văn Chiến Đ đã được tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản
tố tụng mời đến Tòa án tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận
công khai chứng cứ, hòa giải và dự phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án nhưng ông
vắng mặt không có lý do nên không có lời khai cũng như không có ý kiến phản
đối đối với yêu cầu khởi kiện của bà T.
Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký:
Thực hiện đúng quy định tại các Điều 204, 237, 239, 243, 247, 248, 249, 258, 260
của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều
70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ
theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83,
84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết
326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T.
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Văn
Chiến Đ. Về con chung: Giao con là Nguyễn Thế D, sinh ngày 14/3/2017 cho ông
Đ tiếp tục nuôi dưỡng. Vì lợi ích của con, ông Đ được quyền yêu cầu bà T cấp
dưỡng nuôi con trong vụ án khác. Về tài sản chung, nợ chung: Bà T trình bày
không có.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm bà T phải chịu 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu ly hôn và tranh chấp nuôi con với ông
Nguyễn Văn Chiến Đ, cư trú tại ấp T, xã H, tỉnh Vĩnh Long (trước đây là xã T,
huyện G, tỉnh Bến Tre) là vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết
3
của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Vĩnh Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28,
khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn
ông Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại tòa
không có lý do và bà T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét
xử tiến hành giải quyết vụ án vắng mặt bà T, ông Đ là phù hợp với quy định tại
Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Đ kết hôn và năm 2017, trên cơ sở tự
nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay
là xã H, tỉnh Vĩnh Long) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 21/4/2017
nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Theo bà T trình bày, sau khi kết hôn,
vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu. Đến năm 2019, vợ chồng phát sinh
mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không
hợp nên đã sống ly thân từ đó đến nay. Do xác định tình cảm vợ chồng không còn
hàn gắn được nữa nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Đ. Xét thấy, Tòa án đã tiến
hành hòa giải để bà T, ông Đ đoàn tụ nhưng ông Đ không đến tham dự các phiên
hòa giải và bà T kiên quyết yêu cầu ly hôn, đã chứng tỏ ông bà không muốn hàn
gắn tình cảm vợ chồng. Hơn nữa, bà T và ông Đ không còn chung sống với nhau
trong một thời gian dài, mỗi người có một cuộc sống riêng. Như vậy, có cơ sở xác
định quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng
không còn tình cảm, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo
dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn
nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông
Đ là phù hợp.
[3] Về con chung: Bà T và ông Đ có 01 con chung là Nguyễn Thế D, sinh
ngày 14/3/2017. Bà T yêu cầu ông Đ tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, con
chung là Thế D đã đủ 07 tuổi, thuộc trường hợp phải lấy ý kiến con theo quy định
tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tòa án đã ra thông báo về việc
lấy ý kiến con chưa thành niên nhưng bà T và ông Đ không đưa con đến Tòa để
lấy ý kiến theo quy định. Theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao thì nguyện
vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên chỉ là một trong những yếu tố Tòa án phải xem
xét trong quá trình giải quyết vụ án, việc quyết định giao con cho bên nào trực tiếp
nuôi phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặc của con. Mặt khác, theo quy định tại
Điều 214, 217 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì việc không lấy được lời
khai của con không phải là căn cứ để đình chỉ hay tạm đình chỉ giải quyết vụ án.
Vì vậy, Tòa án tiếp tục tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung mà không
cần phải lấy ý kiến con chưa thành niên là phù hợp. Hiện nay, con chung đang
sinh sống ổn định với ông Đ. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích về mọi mặt,
4
tránh làm xáo trộn cuộc sống hiện nay của con, cần giao con chung cho ông Đ tiếp
tục nuôi dưỡng là phù hợp.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân gia đình
quy định “Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”.
Theo quy định trên ông Đ là người trực tiếp nuôi con nhưng ông vắng mặt không
có ý kiến về việc yêu cầu bà T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét
xử không xem xét. Vì vậy, bà T không phải cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, vì lợi
ích của con ông Đ có quyền khởi kiện bà T yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp
dưỡng nuôi con bằng một vụ kiện khác.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T khai không có nên Hội đồng xét xử
không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí hôn nhân, gia đình sơ thẩm: Bà T phải chịu là 300.000 đồng
nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[7] Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 –
Vĩnh Long phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Các
Điều 147, 227, 228, 273, 278 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều
27 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T đối với ông
Nguyễn Văn Chiến Đ.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông
Nguyễn Văn Chiến Đ.
- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thế D, sinh ngày 14/3/2017 cho
ông Nguyễn Văn Chiến Đ được quyền tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi có khả năng lao động tự nuôi sống bản
thân.
Bà Nguyễn Thị Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Vì lợi ích của con, ông Đ có quyền khởi kiện bà T yêu cầu Tòa án giải quyết
việc cấp dưỡng nuôi con bằng một vụ kiện khác.
Bà Nguyễn Thị Thanh T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục con chung, không ai được cản trở bà thực hiện quyền này.
5
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức được
quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết
định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung , nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thanh T khai không có nên
Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000đ
(Ba trăm nghìn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là
300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số:
0008768 ngày 11/5/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Quyền kháng cáo, kháng nghị: Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng
nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án. Riêng đương
sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được thông báo, niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 của Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8, 34,
36, 71, 72 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo
quy định của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND khu vực 7 – Vĩnh Long; (Đã ký)
- THADS tỉnh Vĩnh Long;
- TAND tỉnh Vĩnh Long;
- UBND xã H, tỉnh Vĩnh Long;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Khắc Giang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 105/2026/HNGĐ-ST Bản án số 105/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 105/2026/HNGĐ-ST Bản án số 105/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất