Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 23/02/2024 của TAND Q. Hải Châu, TP. Đà Nẵng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 102/2024/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 102/2024/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 23/02/2024 của TAND Q. Hải Châu, TP. Đà Nẵng |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND Q. Hải Châu (TAND TP. Đà Nẵng) |
| Số hiệu: | 102/2024/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/02/2024 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Huỳnh Tấn L cùng đồng phạm "Mua bán trái phép chất ma túy" |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 102/2023/HS-ST
Ngày 09/9/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hải
Ông Nguyễn Văn Sanh
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Tòa
án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Bích Tâm- Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Trường Tiểu học Trần Văn Ơn, quận
Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai lưu động
vụ án hình sự thụ lý số 81/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2023 theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 72/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2023 đối
với các bị cáo:
1/Huỳnh Tấn L. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 10/5/1971 tại thành phố
Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT: 338F đường N, tổ 16, phường A, quận B, thành phố Hồ
Chí Minh. Chỗ ở: K572/118 đường Ô, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không;
Trình độ văn hóa: 9/12. Con ông: Huỳnh Tấn T (sinh năm: 1952) và bà: Nguyễn
Thị Ú (sinh năm: 1953) đều còn sống, Gia đình có 02 anh, em. Bị cáo là con thứ
nhất. Có vợ: Nguyễn Thị T (sinh năm: 1971, đã ly hôn) và 01 con sinh năm 1996.
Tiền án: TAND thành phố Đà Nẵng xử phạt 06 năm về tội “Trộm cắp tài
sản XHCN” và “Trộm cắp tài sản công dân” tại Bản án số 47/HSST ngày
24.6.2000.
2
TAND quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 07 năm 06 tháng tù về
tội "Mua bán trái phép chất ma túy" tại Bản án số 56/HSST ngày 21/8/2006.
TAND thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xử phạt 10 năm tù về tội "Mua bán
trái phép chất ma túy" tại Bản án số 197/2013/HSST ngày 19/12/2013. Bị cáo đã
chấp hành xong, ra tù về lại địa phương ngày 10/11/2021.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: TAND tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng xử phạt 15 tháng tù, cho
hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội "Đánh bạc" tại Bản án số
191/HSPT ngày 09/12/1993.
TAND thành phố Đà Nẵng xử phạt 06 tháng tù về tội "Gây rối trật tự công
cộng". Tổng hợp với thời gian chưa chấp hành của Bản án trước, tổng hợp hình
phạt là 21 tháng tù giam tại Bản án số 18/HSST ngày 17/01/1996.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại
Nhà tạm giữ Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, có mặt.
2/Nguyễn Anh T. Tên gọi khác: Không - Sinh ngày: 23/4/1991 tại tỉnh
Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Q. Quốc tịch:
Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: LĐPT; Trình độ văn
hóa: 9/12. Con ông: Nguyễn T(sinh năm: 1960, đã chết) và bà: Nguyễn Thị S
(sinh năm: 1960, sống). Gia đình có 02 chị, em. Bị cáo là con thứ hai. Có 01 con
sinh năm 2013.
Tiền án: TAND quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 08 năm tù về
tội "Mua bán trái phép chất ma túy" tại Bản án số 129/2014/HSST ngày
29/9/2014. Bị cáo đã chấp hành xong, ra tù về lại địa phương ngày 30/4/2020.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị tạm
giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại
phiên tòa.
3/Võ Quang S. Tên gọi khác: Không - Sinh ngày: 08/8/1995 tại tỉnh Quảng
Nam; Nơi ĐKTT và chỗ ở: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Q. Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: LĐPT; Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông: Võ Quang C (sinh năm:
1958) và bà: Nguyễn Thị Hồng P (sinh năm: 1964), đều còn sống. Gia đình có 04
3
anh, em. Bị cáo là con thứ tư. Có vợ: Đoàn Thị C (sinh năm: 1996) và 01 con sinh
năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam, hiện đang tạm
giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Đặng Tuấn V, sinh năm 1994. Địa chỉ: Khối phố Phước X, thị trấn
N, huyện Duy X, tỉnh Q, vắng mặt.
2/ Ông Huỳnh Văn T. Sinh năm: 1991. Địa chỉ: tổ 6 phường T, quận T,
thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
3/ Ông Trần Duy V. Sinh năm: 1981. Địa chỉ: tổ 15 phường H, quận T,
thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
4/ Ông Nguyễn Trung N. Sinh năm: 1992. Địa chỉ: Khối phố B, thị trấn T,
huyện Tiên P, tỉnh Q, có mặt.
5/ Ông Đặng Văn P. Sinh năm: 1986. Địa chỉ: tổ 34 phường T, quận T,
thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
6/ Bà Nguyễn Thị Mỹ L. Sinh năm: 1986. Địa chỉ: tổ 52 phường H, quận
L, thành phố Đà Nẵng, có mặt.
- Người chứng kiến:
1/ Ông Võ Minh Đ, sinh năm 1989. Địa chỉ: Tổ 01 phường P, quận H,
thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
2/ Ông Doãn Bá H. Sinh năm: 1986. Địa chỉ: tổ 11 phường H, quận H,
thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 18.3.2023, Nguyễn Anh T rủ Đặng Tuấn V ra
Đà Nẵng để sử dụng ma tuý cùng. T điều khiển xe mô tô biển số 43D1-742.69
chở V đến ngã tư Nguyễn Văn Linh - Nguyễn Hoàng, phường Hải Châu 2, quận
Hải Châu rồi để V đứng đợi, T đi vào kiệt đường Nguyễn Hoàng (không nhớ cụ
thể địa chỉ), dùng số điện thoại 0905.373.344 gọi cho L (số điện thoại
0768.187.827) hỏi mua 300.000 đồng ma tuý Heroin. Sau khi mua ma túy, T cất
giấu ma túy vào trong túi quần phía trước, bên phải đang mặc, rồi điều khiển xe
4
mô tô chở V đi tìm chỗ sử dụng, khi đến trước nhà số 327 Nguyễn Hoàng,
phường Hòa Thuận Đông, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng thì bị Cơ quan
CSĐT Công an quận Hải Châu phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 0,123 gam ma tuý
Heroin trên người T.
Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 18.3.2023, Võ Quang S điều khiển xe mô tô
biển số 92M1-244.41 đến kiệt 572 Ông Ích Khiêm, rồi dùng số điện thoại
0374.235.788 gọi đến số 0768.187.827 của L hỏi mua 300.000 đồng ma tuý
Heroin. Sau khi mua ma túy, Sự cất giấu 0,268 gam ma túy Heroin vào trong túi
quần phía trước, bên trái đang mặc, rồi điều khiển xe mô tô đi tìm chỗ sử dụng,
khi đến khu vực đường Tô Hiến Thành, phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà, thành
phố Đà Nẵng thì bị Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu phát hiện, bắt quả
tang, thu giữ 0,268 gam ma tuý Heroin.
Vật chứng thu giữ: Thu giữ của Nguyễn Anh T: 01 gói giấy bạc, bên
trong có chất bột rắn màu trắng được niêm phong ký hiệu A, 01 xe mô tô hiệu
Jupiter Gravita, màu đen vàng, gắn biển số 43D1-742.69, 01 điện thoại di động
hiệu Nokia, màu xanh đen, số Imei 355515222364364, gắn sim số 0905.373.344
(là điện thoại Tuấn dùng liên lạc mua ma tuý), 01 điện thoại di động có dòng chữ
Samsung, màu xanh, số Imei 354556100319477/01, không gắn sim (là điện thoại
T dùng để chơi game, không liên quan đến việc phạm tội); Thu giữ của Võ Quang
S: 01 gói giấy màu vàng, bên trong có chất bột rắn màu trắng. Được niêm phong
ký hiệu B, 01 xe mô tô hiệu Honda SH, màu trắng đen, biển số 92M1-244.41, 01
điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Imei 354275389359399, gắn sim số
0374.235.788 (là điện thoại S dùng liên lạc mua ma tuý).
Từ lời khai của T và S, khoảng 13 giờ 40 phút ngày 18.3.2023, Cơ quan
CSĐT Công an quận Hải Châu tiến hành bắt và khám xét khẩn cấp nơi ở của
Huỳnh Tấn L tại địa chỉ K572/118 Ông Ích Khiêm, tổ 35, phường Hải Châu 2,
quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu phát
hiện, thu giữ: Tại vị trí bàn máy may trong nhà, phát hiện dưới 03 cuộn chỉ có 02
gói giấy màu trắng và 01 gói giấy màu vàng bên trong đều chứa chất bột rắn màu
trắng. Được niêm phong, ký hiệu: 118A.
Tại vị trí trên giá để khăn trong phòng tắm của nhà phát hiện một hộp giấy
màu vàng trên có chữ BRIGADA, được bỏ vào trong 01 bao ni lông, bên ngoài có
che lại bằng 01 cái khăn màu xanh. Bên trong hộp giấy có 04 bao ni lông chứa lần
5
lượt: 01 bao ni lông kích thước (4,5 x 7,5) cm chứa 03 gói giấy màu vàng bên
trong chứa chất bột rắn màu trắng; 01 bao ni lông kích thước (5 x 8,5) cm chứa 06
gói giấy màu trăng bên trong chứa chất bột rắn màu trắng; 01 bao ni lông kích
thước (8 x 12) cm chứa 15 gói giấy màu vàng bên trong chứa chất bột rắn màu
trắng; 01 bao ni lông kích thước (8 x 14) cm chứa 20 gói giấy màu vàng bên trong
chứa chất bột rắn màu trắng. Tất cả được niêm phong, ký hiệu: 118B. Huỳnh Tấn
L khai nhận tất cả các chất trên đều là ma túy Heroin, được cất giấu để bán cho
con nghiện; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu vàng, số Imei
357282091400294, gắn sim số 0768.187.827 (là điện thoại L dùng liên lạc mua
bán ma tuý); 340.000 đồng (là tiền bán ma túy vào sáng ngày 18/3/2023 L đã chi
tiêu còn lại bị thu giữ).
Quá trình điều tra xác định: Do không có việc làm, nhưng lại muốn có tiền
tiêu xài cá nhân và ma tuý để sử dụng, từ đầu tháng 3.2023, Huỳnh Tấn L bắt đầu
mua bán trái phép chất ma tuý. L đã 02 lần mua ma túy Heroin của H (không rõ
lai lịch) tại khu vực Bến xe trung tâm Đà Nẵng, phường Hòa An, quận Cẩm Lệ,
thành phố Đà Nẵng về cất giấu trong nhà nhằm mục đích lấy bớt để sử dụng và
bán kiếm lời. Đầu tháng 3.2023, L mua của H 20 gói ma túy Heroin với giá
2.000.000 đồng. Tiếp đến, ngày 17.3.2023, L mua của Hùng 50 gói ma túy
Heroin với giá 5.000.000 đồng. Ma tuý L mua của H được phân chia sẵn thành
từng gói và bán lại cho người nghiện với giá từ 150.000 đồng đến 300.000 đồng
mỗi gói. L dùng số điện thoại 0768.187.827 để liên lạc giao dịch với người mua.
Khi người mua gọi đến số điện thoại của L, L sẽ mang ma tuý đến đầu kiệt 572
Ông Ích Khiêm hoặc đầu kiệt 105 Nguyễn Hoàng, quận Hải Châu, thành phố Đà
Nẵng để giao. Nếu người mua không liên lạc được qua số điện thoại, thì sẽ đến
trực tiếp nhà L tại K572/118 Ông Ích Khiêm, phường Hải Châu 1, quận Hải
Châu, thành phố Đà Nẵng để mua ma túy.
Từ đầu tháng 3.3023 đến ngày 18.3.2023, L đã bán ma túy nhiều lần cho
những người nghiện, nhưng chỉ nhớ đã bán cho Nguyễn Anh T, Võ Quang S,
Huỳnh Văn T và Trần Duy V tổng 11 lần, thu lợi bất chính 2.150.000 đồng. Cụ
thể:
Lần 1, 2: Khoảng sáng ngày 10 và 17.3.2023, tại đầu kiệt 105 Nguyễn
Hoàng, L 02 lần bán ma tuý Heroin cho T, mỗi lần bán 01 gói với giá 300.000
đồng. L thu lợi bất chính mỗi lần 200.000 đồng.
6
Lần 3: Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 18.3.2023, tại kiệt đường Nguyễn
Hoàng (không nhớ cụ thể địa chỉ) L bán 01 gói ma tuý Heroin cho T với giá
300.000 đồng. L thu lợi bất chính 200.000 đồng. (Lần T bị bắt quả tang)
Lần 4: Khoảng đầu tháng 3.2023(không nhớ rõ ngày), tại đầu kiệt 105
Nguyễn Hoàng, L bán 01 gói ma tuý Heroin cho S với giá 250.000 đồng. L thu
lợi bất chính 150.000 đồng.
Lần 5: Vào sáng ngày 15.3.2023, tại đầu kiệt 105 Nguyễn Hoàng, L bán 01
gói ma tuý Heroin cho S với giá 300.000 đồng. L thu lợi bất chính 200.000 đồng.
Lần 6: Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 18.3.2023, tại kiệt 572 Ông Ích Khiêm
L bán 01 gói ma tuý Heroin cho S với giá 300.000 đồng. L thu lợi bất chính
200.000 đồng. (Lần S bị bắt quả tang)
Lần 7, 8: Khoảng ngày 07 và 13.3.2023, T dùng số điện thoại
0932.441.883 gọi cho L để trao đổi mua ma tuý Heroin, L đồng ý và bán cho T 02
lần tại đầu kiệt 105 Nguyễn Hoàng, mỗi lần bán 01 gói với giá 300.000 đồng. L
thu lợi bất chính mỗi lần 200.000 đồng.
Lần 9, 10: Khoảng ngày 01 và 07.3.2023, V dùng số điện thoại
0774.445.703 gọi cho L để trao đổi mua ma tuý Heroin, L đồng ý và bán cho V
02 lần tại kiệt đường Nguyễn Hoàng (không nhớ cụ thể địa chỉ), mỗi lần bán 01
gói với giá 300.000 đồng. L thu lợi bất chính mỗi lần 200.000 đồng.
Lần 11: Khoảng sáng ngày 18.3.2023, Tr và V góp tiền để mua ma túy
cùng sử dụng. Tr dùng số điện thoại 0932.441.883 gọi cho L để trao đổi mua ma
tuý Heroin, L đồng ý và bán cho Tr 01 gói ma tuý Heroin giá 300.000 đồng giao
tại đầu kiệt 105 Nguyễn Hoàng. Sau khi mua ma túy, Tr cùng V đến khu vực bờ
hồ đường Hàm Nghi, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng cùng sử dụng hết.
Kết quả thử test, L, T, S, Tr, V, V đều dương tính với ma túy.
Theo Kết luận giám định số 244/KLMT-KTHS ngày 24.3.2023 của Phòng
kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Chất bột rắn màu trắng
trong mẫu niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma tuý; loại Heroin, khối
lượng chất bột mẫu A là 0,123 gam.
Theo Kết luận giám định số 239/KLMT-KTHS ngày 24.3.2023 của Phòng
kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Chất bột rắn màu trắng
trong mẫu niêm phong ký hiệu B gửi giám định là ma tuý; loại Heroin, khối
lượng chất bột mẫu B là 0,268 gam.
7
Theo Kết luận giám định số 240/KLMT-KTHS ngày 24.3.2023 của Phòng
kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Chất bột rắn màu trắng
trong các mẫu niêm phong ký hiệu 118A và 118B gửi giám định là ma tuý; loại
Heroin, khối lượng chất bột mẫu 118A là 0,573 gam, mẫu 118B là 9,744 gam.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Tuấn V, ông Huỳnh Văn
T, ông Trần Duy V, ông Đặng Văn P, bà Nguyễn Thị Mỹ L đều vắng mặt tại
phiên tòa. Tòa án tiến hành công bố lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan theo quy định và các bị cáo thừa nhận lời khai của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là đúng.
Người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa đã được Tòa án công bố lời khai,
lời khai của người chứng kiến phù hợp với lời khai của các bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 80/CT-VKSngày 27/7/2023 Viện kiểm sát nhân dân
quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Huỳnh Tấn L về tội “Mua bán trái
phép chất ma túy” theo điểm b, i , q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, truy tố
Nguyễn Anh T, Võ Quang S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại
điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với
các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn L phạm tội
“Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Anh T, Võ Quang S phạm tội
“Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, i , q khoản 2
Điều 251, điểm b khoản 1 điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự
xử phạt: Bị cáo Huỳnh Tấn L mức án từ 12 năm đến 13 năm tù; áp dụng điểm c
khoản 1 Điều 249, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; áp dụng
điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt
bị cáo Võ Quang S từ 01năm đến 01 năm 06 tháng tù; Do các bị cáo đều không
có điều kiện về kinh tế nên không đề xuất HĐXX áp dụng hình phạt bổ sung.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Huỳnh Tấn L, Nguyễn
Anh T, Võ Quang S, Trần Duy V, Đặng Tuấn V Công an quận Hải Châu đã ra
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính; Huỳnh Văn T có hành vi sử dụng trái
phép chất ma túy, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã xử lý hành chính áp dụng
biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 12 tháng là phù hợp.
8
Đối với người thanh niên tên H có hành vi bán ma túy cho L, hiện chưa xác
định được lai lịch, Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu tiếp tục điều tra, làm rõ
xử lý sau là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu
gồm: Xe mô tô hiệu Honda SH, màu trắng đen, biển số 92M1-244.41 do Nguyễn
Trung N đứng tên đăng ký là phù hợp; Xe mô tô hiệu Jupiter Gravita, màu đen
vàng, gắn biển số 43D1-742.69 do Đặng Văn P đứng tên đăng ký, ông P đã bán
xe cho chị Nguyễn Thị Mỹ L - là chị ruột của Nguyễn Anh T nhưng chưa tiến
hành thủ tục sang tên. Vào sáng ngày 18.3.2023, chị L cho T mượn đi công việc,
không biết T sử dụng xe để đi mua ma túy.
Đề nghị HĐXX áp dụng điều 47 BLHS, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tuyên tịch thu tiêu hủy đối với 04 phong bì niêm phong mẫu A, B, 118A, 118B
hoàn trả theo Kết luận giám định số 244/KLMT-KTHS ngày 24.3.2023 của
Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng và theo Kết luận giám định
số 239/KLMT-KTHS ngày 24.3.2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành
phố Đà Nẵng và theo Kết luận giám định số 240/KLMT-KTHS ngày 24.3.2023
của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh đen, số Imei
355515222364364, gắn sim số 0905.373.344 của Nguyễn Anh T, 01 điện thoại di
động hiệu Nokia, màu đen, số Imei 354275389359399, gắn sim số 0374.235.788
của Võ Quang S, 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu vàng, số Imei
357282091400294, gắn sim số 0768.187.827 của Huỳnh Tấn L là phương tiện
công cụ phạm tội nên đề nghị tuyên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động có dòng chữ Samsung, màu xanh, số Imei
354556100319477/01, không gắn sim của Nguyễn Anh T không liên quan đến
hành vi phạm tội nên đề nghị HĐXX tuyên trả lại cho bị cáo T.
Truy thu đối với bị cáo L số tiền thu lợi bất chính là 1.810.000đ.
Đối với 340.000 đồng thu giữ của Huỳnh Tấn L là tiền do L bán ma túy mà
có nên cần tuyên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
Các bị cáo Huỳnh Tấn L, Nguyễn Anh T, Võ Quang S không có ý kiến
tranh luận gì.
9
Tại phiên tòa các bị cáo trình bày lời nói sau cùng, các bị cáo Huỳnh Tấn L,
Nguyễn Anh T, Võ Quang S xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được
hưởng mức án nhẹ để các bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hải
Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các
bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào ý kiến hoặc
khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ
đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ lời khai của các bị cáo, lời khai của người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến HĐXX có đủ cơ sở xác định:
Từ đầu tháng 3.2023 đến ngày 18.3.2023, Huỳnh Tấn L (không có việc làm ổn
định) 02 lần mua ma tuý Heroin của H (không rõ lai lịch) để bán lại cho Nguyễn
Anh T (03 lần, mỗi lần 300.000 đồng), Võ Quang S (03 lần, trong đó có 01 lần
250.000 đồng và 02 lần 300.000 đồng), Huỳnh Văn T (03 lần, mỗi lần 300.000
đồng) và Trần Duy V (02 lần, mỗi lần 300.000 đồng). Ngày 18.3.2023 Huỳnh
Tấn L đang cất giấu 10,317 gam ma túy Heroin tại nhà để bán cho người khác thì
bị khám xét khẩn cấp thu giữ. Cộng với khối lượng ma túy L đã bán vào sáng
ngày 18.3.2023 cho Tuấn là 0,123 gam ma túy Heroin và bán cho Sự là 0,268
gam ma túy Heroin, thì tổng khối lượng ma túy L mua bán trái phép là 10,708
gam ma túy Heroin. L thu lợi bất chính số tiền 2.150.000 đồng và dùng tiền thu
lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy để làm nguồn sống chính.
Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 18.3.2023, tại trước nhà số 327 Nguyễn
Hoàng, phường Hòa Thuận Đông, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn
Anh T có hành vi tàng trữ trái phép 0,123 gam ma túy Heroine nhằm mục đích sử
dụng thì bị Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu phát hiện, bắt quả tang.
10
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 18.3.2023, tại khu vực đường Tô Hiến Thành,
phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, Võ Quang S có hành vi
tàng trữ trái phép 0,268 gam ma túy Heroine nhằm mục đích sử dụng thì bị Cơ
quan CSĐT Công an quận Hải Châu phát hiện, bắt quả tang.
Căn cứ Kết luận giám định số 244/KLMT-KTHS ngày 24.3.2023 của
Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận: Chất bột rắn màu
trắng trong mẫu niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma tuý; loại Heroin, khối
lượng chất bột mẫu A là 0,123 gam, Kết luận giám định số 239/KLMT-KTHS
ngày 24.3.2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận:
Chất bột rắn màu trắng trong mẫu niêm phong ký hiệu B gửi giám định là ma tuý;
loại Heroin, khối lượng chất bột mẫu B là 0,268 gam, Kết luận giám định số
240/KLMT-KTHS ngày 24.3.2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành
phố Đà Nẵng kết luận: Chất bột rắn màu trắng trong các mẫu niêm phong ký hiệu
118A và 118B gửi giám định là ma tuý; loại Heroin, khối lượng chất bột mẫu
118A là 0,573 gam, mẫu 118B là 9,744 gam.
Bị cáo L thừa nhận hành vi tàng trữ 10,708 gam ma túy Heroin nhằm mục
đích mua bán, bị cáo L đã bán ma túy 11 lần và đối với bản án số 197/2013/HSST
ngày 19/12/2013 của TAND thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xử phạt bị cáo L 10
năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy nhưng chưa được xóa án tích nên
lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm do đó hành vi
của bị cáo L phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại
điểm b, i, q khoản 2 Điều 251 BLHS; bị cáo T thừa nhận tàng trữ 0,123 gam ma
túy Heroin và bị cáo S thừa nhận tàng trữ 0,268 gam ma túy Heroin nhằm mục
đích sử dụng cho nhu cầu nghiện của bản thân, do đó, hành vi của các bị cáo T, S
phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1
Điều 249 BLHS như cáo trạng số 80/CT- VKS ngày 27/7/2023 của Viện Kiểm
sát nhân dân Quận Hải Châu, TP Đà Nẵng đã truy tố đối với các bị cáo là đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của các bị cáo thì
thấy: Ma tuý tổng hợp là loại độc chất, có tính chất gây nghiện, có hại cho sức
khoẻ và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội do đó bị Nhà nước
cấm tự do mua bán, tàng trữ, sử dụng nhưng bị cáo L vì mục đích siêu lợi nhuận
từ việc mua bán ma túy, các bị cáo T, S vì coi thường pháp luật đã cố tình vi
11
phạm. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có mức hình phạt thích
đáng, xử cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là hết sức cần thiết để
răn đe giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo
thì thấy:
Đối với bị cáo Huỳnh Tấn L là người có nhân thân xấu, bị cáo đã 05 lần bị
Tòa án xử phạt tù về các tội “Đánh bạc”, “Gây rối trật tự công cộng”, “Trộm
cắp tài sản XHCN”,“Trộm cắp tài sản công dân”,"Mua bán trái phép chất ma
túy" nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà sau khi thi hành án
xong bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức coi thường
pháp luật, bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi mua bán ma túy và lấy nguồn thu lợi
bất chính làm nguồn sống chính, do đó hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình
sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo L đã thành khẩn
khai báo nên cần được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định
tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình.
Đối với Nguyễn Anh T cũng là người có nhân thân xấu ngày 29/9/2014 bị
cáo đã bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 08 năm
tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" tại Bản án số 129/2014/HSST nhưng bị
cáo T cũng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, bị cáo
chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên lần phạm tội
này thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 BLHS. Quá
trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo T đã thành khẩn khai báo nên cần
được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1
Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình.
Đối với Võ Quang S là thanh niên trưởng thành nhưng sớm nghiện ngập
nên đi vào con đường phạm tội, bị cáo nhận thức được Nhà nước cấm việc tàng
trữ ma túy nhưng vẫn tàng trữ để sử dụng cho nhu cầu nghiện của bản thân thể
hiện ý thức coi thường pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể
hiện thái độ ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có ông ngoại là liệt sĩ, cha ruột là
thương binh, bị cáo đã có thời giam tham gia phục vụ trong quân đội nên cần
được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s
khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình.
12
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ
luật hình sự đều quy định hình phạt tiền bổ sung, tuy nhiên, căn cứ các tài liệu
chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo không có
việc làm ổn định, không có tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp
dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Huỳnh Tấn L, Nguyễn
Anh T, Võ Quang S, Huỳnh Văn T, Đặng Tuấn V, Trần Duy V Công an quận Hải
Châu, TP Đà Nẵng đã ra Quyết định xử phạt hành chính là có cơ sở.
Đối với đối tượng tên H đã bán trái phép ma túy cho L và và những đối
tượng khác đã mua ma túy của L hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên
cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu tách ra, tiếp tục điều tra xử lý sau là phù
hợp.
Đối Đặng Tuấn Văn không thỏa thuận, không tham gia vào việc mua ma
túy của Nguyễn Anh T, đồng thời, Văn cũng không biết Tuấn cất giấu ma túy nên
không có căn cứ để xử lý hình sự đối với Văn về tội “Tàng trữ trái phép chất ma
tuý”.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô hiệu Honda SH, màu trắng đen, biển số 92M1-244.41 do
Nguyễn Trung N đứng tên đăng ký và xe mô tô hiệu Jupiter Gravita, màu đen
vàng, gắn biển số 43D1-742.69 do Đặng Văn P đứng tên đăng ký, ông P đã bán
xe cho chị Nguyễn Thị Mỹ L; ông N và chị L đều không biết các bị cáo S, T sử
dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Hải
Châu, thành phố Đà Nẵng đã trả lại xe cho anh N, chị L là phù hợp. Tại phiên tòa,
anh N, chị L xác nhận đã nhận lại tài sản và không có ý kiến yêu cầu gì nên
HĐXX không đề cập đến.
Đối với 04 phong bì niêm phong mẫu A, B, 118A, 118B hoàn trả theo các
Kết luận giám định số 244/KLMT-KTHS ngày 24.3.2023, số 239/KLMT-KTHS
ngày 24.3.2023 ; số 240/KLMT-KTHS ngày 24.3.2023 của Phòng kỹ thuật hình
sự Công an thành phố Đà Nẵng là tang vật của vụ án cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh đen, số Imei
355515222364364, gắn sim số 0905.373.344 thu giữ của Nguyễn Anh T, 01 điện
thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Imei 354275389359399, gắn sim số
0374.235.788 thu giữ của Võ Quang S, 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu
13
vàng, số Imei 357282091400294, gắn sim số 0768.187.827 thu giữ của Huỳnh
Tấn L là phương tiện công cụ phạm tội nên cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà
nước.
Đối với 01 điện thoại di động có dòng chữ Samsung, màu xanh, số Imei
354556100319477/01, không gắn sim thu giữ của Nguyễn Anh T không liên quan
đến hành vi phạm tội nên cần tuyên trả lại cho bị cáo T.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được bị cáo L đã thu lợi bất
chính từ việc bán trái phép chất ma túy số tiền 2.150.000đ. Thời điểm bắt quả
tang, thu giữ của bị cáo số tiền 340.000đ nên cần tiếp tục truy thu đối với bị cáo L
số tiền 1.810.000đ để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 340.000 đồng thu giữ của Huỳnh Tấn L là tiền do L bán ma túy
mà có nên cần tuyên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
[7] Từ những nhận định trên, xét thấy lời luận tội của vị đại diện Viện
kiểm sát nhân dân quận Hải Châu về tội danh và đề xuất áp dụng các điều luật
cũng như đề nghị mức hình phạt là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí: Các bị cáo Huỳnh Tấn L, Nguyễn Anh T, Võ Quang S phải
chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Tấn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma
túy”; Bị cáo Nguyễn Anh T, Võ Quang S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
túy”.
1.1 Căn cứ điểm b, i, q khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 1 Điều 52, điểm s
khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn L 12(Mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 18/3/2023.
1.2 Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s
khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 18/3/2023.
1.3 Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật
hình sự.
14
Xử phạt bị cáo Võ Quang S 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 18/3/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật
tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ 04 phong bì niêm phong mẫu A, B, 118A, 118B
hoàn trả theo Kết luận giám định số 244/KLMT-KTHS ngày 24.3.2023, Kết luận
giám định số 239/KLMT-KTHS ngày 24.3.2023, Kết luận giám định số
240/KLMT-KTHS ngày 24.3.2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành
phố Đà Nẵng.
Truy thu đối với bị cáo Huỳnh Tấn L số tiền 1.810.000đ nộp vào ngân sách
nhà nước.
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia,
màu xanh đen, số Imei 355515222364364, gắn sim số 0905.373.344; 01 điện
thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Imei 354275389359399, gắn sim số
0374.235.788; 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu vàng, số Imei
357282091400294, gắn sim số 0768.187.827.
Tuyên trả lại 01 điện thoại di động có dòng chữ Samsung, màu xanh, số
Imei 354556100319477/01 cho Nguyễn Anh T.
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 340.000đ.
(Các vật chứng nêu trên hiện nay Chi cục thi hành án dân sự quận Hải
Châu đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10 tháng 8 năm 2023)
3. Về án phí HSST: Các bị cáo Huỳnh Tấn L, Nguyễn Anh T, Võ Quang S
mỗi người phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa
có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người tham
gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo được kháng cáo bản án
trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hợp lệ.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
15
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP. Đà Nẵng; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP. Đà Nẵng;
- Sở Tư pháp TP. Đà Nẵng; (Đã ký)
- VKSND quận Hải Châu;
- Công an quận Hải Châu;
- Cơ quan THA Hình sự quận Hải Châu;
- Chi Cục THADS quận Hải Châu;
- Bị cáo; người tham gia tố tụng; Hồ Thị Mỹ Dung
- Lưu hồ sơ vụ án.
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm