Bản án số 102/2023/HNGĐ-ST ngày 10/05/2023 của TAND huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 102/2023/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 102/2023/HNGĐ-ST ngày 10/05/2023 của TAND huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Cái Bè (TAND tỉnh Tiền Giang)
Số hiệu: 102/2023/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/05/2023
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông X xin ly hôn bà H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN CÁI BÈ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 102/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10-5-2023
“V/v tranh chấp xin ly hôn”
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vũ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Thanh Hùng
2. Ông Quách Trung Sơn
- Thư phiên tòa: Nguyễn Công Thúy An Thư Tòa án nhân dân
huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang không tham
gia phiên toà.
Ngày 10 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái xét xử
thẩm công khai vụ án thụ số 765/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm
2022 về “tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
40/2023/QĐXX-ST ngày 88 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ông Phạm Văn X sinh năm: 1977
Địa chỉ: tổ A, khu B, thị trấn C, huyện D, tỉnh Tiền Giang
2. Bị đơn: Võ Thị Diệu H sinh năm: 1979
Địa chỉ: ấp E, xã G, huyện D, tỉnh Tiền Giang
(Các đương sự có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đngày 01 tháng 11 năm 2022 trong quá
trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Phạm Văn X trình bày: ông và
Thị Diệu H tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng với nhau vào năm 2002 có đăng
ký kết hôn. Vợ chồng ông sống hạnh pc đến năm 2018 thì phát sinh mâu
thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thường hay cãi nhau nên ông
bà H sống ly thân với nhau hơn 03 năm nay, không có trao đổi hàn gắn tình cảm.
Nay ông xác định không còn tình cảm với H nên yêu cầu được ly hôn. Về con
chung: ông H 01 con chung tên Phạm Văn H, sinh năm 2004 đã trưởng
thành nên ông không yêu cầu. Về tài sản chung nợ chung: không nên
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2
Tại phiên tòa bị đơn là bà Võ Thị Diệu H trình bày: bà thống nhất với ông
X về thời gian điều kiện kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2018 thì
xảy ra mâu thuẫn do ông X cờ bạc quan htình cảm với người khác nên
vợ chồng không còn chung sống với nhau tđó đến nay, không n gắn tình
cảm. Nay ông X xin ly hôn bà không đồng ý. Về con chung: vợ chồng có 01 con
chung đã trưởng thành như ông X trình bày. Về tài sản chung và nợ chung:
không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về thẩm quyền: Ông Phạm Văn X khởi kiện bà Võ Thị Diệu H về việc
xin ly hôn. H trú tại ấp E, G, huyện D, tỉnh Tiền Giang. Do đó, Tòa án
nhân dân huyện D, tỉnh Tiền Giang thụ giải quyết đúng thẩm quyền quy
định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Văn X và Võ Thị Diệu H tự
nguyện xác lập quan hệ vợ chồng với nhau vào năm 2002 được Ủy ban nhân dân
thị trấn C, huyện D, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27 tháng
7 năm 2004 nên quan hn nhân giữa ông X và bà H được pháp luật thừa
nhận. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống ông X xác định vợ chồng xảy ra
mâu thuẫn do ông cờ bạc không còn tình cảm với H, vợ chồng cãi
nhau nên đã không còn chung sống với nhau từ năm 2021 đến nay, không
trao đổi hàn gắn tình cảm nên yêu cầu ly hôn với H. Còn H cho rằng
nguyên nhân mâu thuẫn do ông X cờ bạc quan hệ tình cảm với người
khác nhưng vẫn còn tình cảm với ông X nên không đồng ý ly hôn. Xét thấy, ông
X và bà H đều xác định trong quá trình chung sống có xảy ra mâu thuẫn như ông
trình bày, ông X và bà H không còn chung sống với nhau từ 2021 đến nay mà
không hàn gắn tình cảm được với nhau thể hiện qua việc ông X yêu cầu ly
hôn với bà H đã được Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Tiền Giang giải quyết việc
hôn nhân của ông bằng Bản án hôn nhân gia đình thẩm số
45/2021/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 3 năm 2021 Bản án hôn nhân gia đình
phúc thẩm số 42/2021/HNGĐ-PT ngày 10 tháng 11 năm 2021 nhưng sau khi
cấp sơ thẩm phúc thẩm giải quyết thì ông X và bà H vẫn không đoàn tụ được
với nhau thể hiện qua việc ông X xác định không còn tình cảm với H nên
cương quyết xin ly hôn cho thấy quan hệ hôn nhân giữa ông X H đã lâm
vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân
không đạt được nên cho ông X ly hôn với H là phù hợp điều 56 Luật hôn
nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Ông X và bà H 01 con chung tên Phạm Văn H, sinh
ngày 06 tháng 9 năm 2004 đã trưởng thành nên Tòa án không đặt ra xem xét giải
quyết.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: không nên Hội đồng xét xử không
đặt ra xem xét giải quyết.
3
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 57 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều
27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí lệ phí Tòa án; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Phạm Văn X và bà Võ Thị Diệu H.
2. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Tòa án không đặt ra xem xét,
giải quyết.
3. Về án phí: Ông Phạm Văn X phải chịu án phí hôn nhân gia đình
thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng
án phí hôn nhân gia đình thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)
theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010559 ngày 15 tháng 11
năm 2022 của Chi cục thi hành án dân shuyện D, tỉnh Tiền Giang; ông X đã
nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang
xét xử phúc thẩm.
5. Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi nh án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện D;
- Chi cục THADS huyện D;
- Ủy ban nhân dân thị trấn C,
huyện D, tỉnh Tiền Giang;
- Lưu hồ sơ vụ án. Nguyễn Thanh Vũ
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
Tải về
Bản án số 102/2023/HNGĐ-ST Bản án số 102/2023/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất