Bản án số 10/2026/DS-PT ngày 13/01/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 10/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 10/2026/DS-PT ngày 13/01/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 10/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn anh Ngô Trọng D; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Ngô Trọng D, buộc bị đơn chị Nguyễn Thị P trả cho anh D số tiền là 150.000.000 (Một trăm năm mươi triệu) đồng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 10/2026/DS-PT
Ngày 13-01-2026
V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang
Các Thẩm phán: Ông Bùi Duy Thạch
Ông Nguyễn Minh Tân
- Thư phiên toà: Hoàng Thị Hồng Hạnh - Thư Toà án nhân dân
thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tnh phố Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 218/2025/TLPT-DS ngày 10
tháng 11 năm 2025 v việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s236/2025/QĐ-PT ngày 10
tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 239/2025/QĐ-PT ngày 31 tháng
12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Ngô Trọng D, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn T, T, huyện
K (nay là xã K), thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1978; địa chỉ: Số B L, phường L, quận
N (nay là phường G), thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn chị Nguyễn Thị P: Chị Nguyễn Thị
Minh A, sinh năm 1997; địa chỉ: Số B L, phường L, quận N (nay phường G),
thành phố Hải Phòng (Giấy uỷ quyn ngày 29/8/2025); có mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn anh Ngô Trọng D, sinh năm 1988; địa chỉ:
Thôn T, xã T, huyện K (nay là xã K), thành phố Hải Phòng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
* Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn anh Ngô Trọng D trình bày:
Vào ngày 09/07/2024 chị Bùi Thị H nhắn tin cho chị Thị Y (vợ anh
Ngô Trọng D) trên zalo với nội dung như sau: “Bán gấp hạ sâu từ 14tỷ500tr còn
12tỷ500tr Mặt đường Lạch Tray dt 47m x 3 tầng, mặt tin 4,7m siêu đẹp, rộng
thênh thang như sân bay, vị trí tuyệt đẹp mạn chưa qua cầu Vượt, sdcc, hưởng TTT,
hạ sâu chỉ còn 12tỷ500tr (ctt)". Sau đó chị Bùi Thị H dẫn nguyên đơn đến gặp chủ
nhà là chị Nguyễn Thị P để đặt cọc mua. Ngày 10/7/2024, anh Ngô Trọng D có làm
hợp đồng đặt cọc 000047 với chị Nguyễn Thi P1 với nội dung như sau:
Anh Duy đặt cọc số tin 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng để mua bất động
sản tại địa chỉ B L, diện tích 47m
2
, thửa đất số 163, tờ bản đồ LT-21 kèm theo giấy
chứng nhận quyn sử dụng đất số AB 121218 do Ủy ban nhân dân quận N, thành
phố Hải Phòng cấp ngày 26/4/2005 với giá 11.900.000.000 (Mười một tỷ chín trăm
triệu) đồng của Nguyễn Thị P qua người môi giới i Thị H. Trong thời hạn 30
ngày kể từ 10/7/2024 tới 10/8/2024 anh D phải nộp đủ số tin còn lại 02 bên sẽ
kí hợp đồng chuyển nhượng mua bán đối với thửa đất trên.
Trong quá trình kết hợp đồng đặt cọc chị H chị P đã gài bẫy anh với điu
khoản s3: Thời hạn đặt mua và thanh toán trong vòng 30 ngày kể từ thời điểm bên
A nhận đủ tin mua. Bên A và bên B sẽ tiến hành kí kết hợp đồng giao dịch là hợp
đồng mua bán/chuyển nhượng, văn bản chuyển nhượng hoặc các văn bản khác được
kết giữa bên A bên B v việc giao dịch các sản phẩm bất động sản thuộc quyn
sở hữu của bên B. Khi hợp đồng giao dịch hoàn tất bên B phải giao đủ số tin n
lại cho bên A. Anh D thấy điu khoản hợp đồng này không đồng nhất với các điu
khoản khác trong hợp đồng, bất thường với một giao dịch mua bán bất động sản
thông thường. Điu khoản này gây bất lợi cho người mua bất động sản rất nhiu.
Hơn nữa, trong quá trình giao dịch anh D nhấn mạnh với chị Bùi Thị H rất nhiu
lần là vợ chồng anh D mua đất mặt đường, và chị Bùi Thị H cũng báo với anh D đây
đất mặt đường. Tuy nhiên thửa đất trên, chị Nguyễn Thị P chị Bùi Thị H đã
không thông báo cho anh D đúng hiện trạng của thửa đất số 163, tờ bản đồ số LT-
21 thuộc địa chỉ s B L, phường L, quận N (nayphường G), thành ph Hải Phòng
dẫn đến việc định giá cao hơn rất nhiu so với giá trị thị trường của thửa đất trên.
Hành vi trên của chị P và chị H sẽ gây thiệt hại rất nhiu cho anh D nếu anh D tiếp
tục thực hiện việc mua bán đối với bất động sản này.
Quá trình xác minh, anh D được biết, vào ngày 08/12/2023, chNguyễn Thị
P nhận cọc số tin 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng của ông Nguyễn Đăng T
(CCCD: 03108000103, trú tại D N, phường Đ, quận H (nay phường H), thành phố
Hải Phòng mục đích để chuyển nhượng căn nhà trên, tuy nhiên do chị P không cung
cấp đủ giấy tờ để thực hiện giao dịch mua bán nên giao dịch trên đã không được
thực hiện. Bản thân chị P cũng không hoàn trả lại số tin trên cho ông T dẫn tới việc
ông T đã làm đơn ngăn chặn việc chuyển nhượng thửa đất trên của chị P tới Chi
3
nhánh văn phòng đăng đất đai quận N, Sở pháp các tổ chức hành ngh
công chứng trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Việc thửa đất trên đang tranh chấp
nhưng chị P không thông báo cho anh D được biết. Nguyên đơn đ nghị Tòa án thu
thập chứng cứ tại Chi nhánh Văn phòng đăng kí đất đai quận N, Sở Tư pháp và các
tổ chức công chứng trên địa bàn thành phố Hải Phòng để xác minh nội dung trên.
Vì vậy, nguyên đơn anh Ngô Trọng D khởi kiện bị đơn chị Nguyễn Thị P đ
nghị Tòa án:
Tuyên bố hợp đồng hợp đồng đặt cọc (Hợp đồng đặt mua bất động sản) s
000047 ngày 10/7/2024 giữa bên bán chị Nguyễn Thị Pbên mua anh Ngô Trọng
D hiệu. Hợp đồng đặt cọc vô hiệu nên buộc chP phải trả cho anh D toàn bộ
số tin đặt cọc là 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng.
* Tại biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn
Thị P và đại diện theo ủy quyền của bị đơn chị Nguyễn Thị Minh A thống nhất trình
bày:
Ngày 09/7/2024, môi giới nhà đất gọi cho chị P, hẹn chiu cùng ngày chị P
nhà, môi giới nhà đất đưa khách qua xem nhà. Chị P mời vợ chồng anh D lên gác
ra ngoài xem toàn bộ ngôi nhà. Khi xem hết xong vợ chồng anh D hỏi: Chị ơi sao
nhà bthụt vào nhỉ, chị P bảo trước kia 2m² là ngõ đi chung của 05 nhà lin k trong
ngõ. Phía trước có mấy hộ diện tích nhỏ nhà dân kinh doanh. Khi nhà nước thực
hiện dự án mở rộng vỉa hè đã đn bù, giải phóng các hộ phía trước đi chỗ khác làm
vỉa hè còn lại 1,7m² của nhà nước, 2m² ngõ đi chung của 05 hộ dân trong ngõ
trước kia. Vợ chồng anh D xem xong các khu vực, kết cấu ngôi nhà nắm bắt được
thông tin, hiện trạng thì hỏi đến diện tích nhà (Chiu rộng, dài). Chị P bảo tổng diện
tích trong bìa 47m² để cho cẩn thận hơn 2 vợ chồng em cứ đo lại. Hai vợ chồng
anh D cũng ưng và có lời: Chị ơi để vợ chồng em v bảo với bố em cùng lên xem
lại nhà chỉ vì bố em chuyên v xây dựng Bất động sản”. Tầm 20 giờ môi giới cùng
hai vợ chồng anh D và bố anh D đến xem lại nhà toàn bộ trên gác dưới nhà cho kỹ.
Khi mọi người xem xong hết trong nhà ra ngoài mặt tin. Hỏi diện tích đủ
47m² không? Chị P nói chú em cẩn thận đi mua thì cứ đo lại. Bên mua đo bằng
điện thoại. Có bảo phía đuôi hụt mấy phân. Chị P bảo cháu đi mua mà bìa như nào
cháu bán như vậy thôi ạ. Tất cả mọi người xem kỹ nói chuyện xong, Vợ chồng
anh D đã ưng anh D nói để mang lên quận kiểm tra bìa đỏ xem như thế nào rồi
anh D sẽ liên lạc, anh chị đi mua nhà nhiu tỷ phải đi kiểm tra bìa cẩn thận cho yên
tâm chứ. Mọi người đu vui vẻ ra v. Khoảng 10 giờ ngày 10/7/2024 môi giới liên
lạc trao đổi điện thoại cho tôi bảo khách hàng mua nhà trả nhà chị 11.700.000.000
(Mười một tỷ bảy trăm triệu) đồng. Chị P bảo giá đó chị không bán được. Môi giới
bảo vậy để em trao đổi lại với khách hàng. Tầm 11 giờ cùng ngày em môi giới gọi
điện cho tôi nói khách hàng đã đi kiểm tra bìa nhà, xong hẹn chị 12 giờ trưa. Khoảng
12 giờ trưa chị P v nhà, một lúc sau em Bùi Thị H (bên môi giới) vợ chồng D
4
đến nhà. Mọi người vào nhà ngồi trao đổi nói chuyện. D nói: Sáng em đi lên quận
kiểm tra bìa đỏ rồi, bây giờ em trả chị 11.800.000.000 (Mười một tỷ m trăm triệu)
đồng. Chị P nói trước khách hàng trả chị mười hai tỷ đồng chị chưa bán. Bây giờ chị
P đang cần, nếu vchồng em thiện trí mua thì đúng 11.900.000.000 (Mười một tỷ
chín trăm triệu) đồng chmới bán. Vợ chồng khách mua nhà (D - Y) bàn bạc và đồng
ý mua với gđó bảo môi giới viết giấy đặt cọc luôn. Sau khi viết giấy đặt cọc
xong, khách hàng D chuyển vào tài khoản chị P 500.000.000 (Năm trăm triệu)
đồng tin đặt cọc mua nhà. Cùng thời điểm ba bên trao đổi giá cả, thỏa thuận trước
khi viết giấy đặt cọc chP cũng nói rõ với mọi người: Bên mua nhà hỗ trợ bên bán
tin rút bìa tại ngân hàng để hoàn tất thủ tục trước khi công chứng mua bán 2 bên.
Vợ chồng khách hàng (D - Y) đồng ý và hẹn trong thời gian sớm nhất rút tin thì s
hỗ trợ chủ nhà để rút bìa tại ngân hàng ra trước ngày công chứng. Đồng thời khách
hàng Duy Y1 hẹn chậm nhất 01 tháng sẽ giao đủ tin và hoàn thiện công chứng mua
bán nhà. Ba bên: bán, mua, môi giới chị Bùi Thị H đọc lại hợp đồng đặt cọc đu
đồng ý nhất trí tên và lăn dấu vân tay. thủ tục đặt cọc xong mi người xin
phép v. Vợ chồng anh Duy Y1 không mua nhà, đặt cọc mua nhà xong không mua
nữa, phá hợp đồng, đã có các lời lẽ đe doạ mẹ con chị P. Vì vậy, Chị P không đồng
ý với quan điểm của nguyên đơn. Chị P chỉ đồng ý hỗ trợ cho nguyên đơn số tin
250.000.000 đồng trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiên. Bị
đơn cho rằng, Hợp đồng đặt cọc giữa nguyên đơn và bị đơn không bị vô hiệu vì: đối
tượng của Hợp đồng khoản tin đặt cọc 500 triệu đồng. Trên thực tế đã được thực
hiện vì nguyên đơn đã chuyển khoản cho bị đơn ngay sau khi ký kết hợp đồng trên.
Hợp đồng đặt cọc kết thúc là do lỗi của bên nguyên đơn, lý do bên nguyên đơn đưa
ra do không nhìn bìa đỏ. Tuy nhiên trước đó, bên bị đơn đã nói tình trạng
căn nhà, gửi ảnh Giấy chứng nhận quyn sử dụng đất cho bên nguyên đơn cũng như
để bên nguyên đơn cùng người nhà đến xem, đo đạc trực tiếp. Thậm chí bên nguyên
đơn còn tự mình lên Ủy ban nhân dân quận N để xem lại thông tin thửa đất, quy
hoạch, trước khi ký kết hợp đồng với b đơn. Như vậy, bên nguyên đơn đã nắm đầy
đủ thông tin trước khi đặt cọc nên không có cơ sở để bị đơn hoàn trả lại khoản tin
đặt cọc. Căn cứ vào Điu 5 của Hợp đồng đặt cọc thì việc bên nguyên đơn đơn
phương chấm dứt hợp đồng, từ chối ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyn sử dụng
đất sau khi kết hợp đồng đặt cọc thì phải chịu hậu quả pháp lý phát sinh mất
khoản tin đặt cọc trên. Sau thời hạn 30 ngày đã thỏa thuận, mục đích của hợp đồng
đặt cọc hoàn toàn thể đạt được vì: Thứ nhất, tại thời điểm ký kết hợp đồng đặt
cọc, bên nguyên đơn đã nắm tình trạng của thửa đất bao gồm: Đất không có tranh
chấp: Tháng 12/2023 bđơn kết hợp đồng đặt cọc nhằm mục đích chuyển
nhượng thửa đất trên cho ông T. Tuy nhiên hợp đồng đã kết thúc ông T không
muốn mua thửa đất nữa. Sau đó ông T làm đơn kiến nghị đến Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai quận N nhưng cơ quan này chỉ tiếp nhận chứ không cập nhật
thay đổi tình trạng tranh chấp của thửa đất. Thứ hai, trong toàn bộ quá trình, trước,
5
trong và sau khi ký kết hợp đồng đặt cọc bên bị đơn luôn thể hiện thiện chí tiếp tục
kết hợp đồng chuyển nhượng quyn sử dụng đất nhưng bên từ chối bên nguyên
đơn. Bên nguyên đơn thậm chí còn những lời lẽ lăng mạ, i nhọ, đe dọa tinh
thần của bên bị đơn. Bị đơn đã được Toà án giải thích v hậu quả pháp lý của việc
tuyên bố hợp đồng vô hiệu nhưng chị P vẫn không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp
đồng vô hiệu.
vậy, nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bđơn chị Nguyễn Thị
P đ nghị Toà án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn v
việc tuyên bố hợp đồng đặt cọc (Hợp đồng đặt mua bất động sản) số 000047 ngày
10/7/2024 giữa bên bán chị Nguyễn Thị P và bên mua anh Ngô Trọng Dhiệu,
buộc chị Nguyễn Thị P hoàn trả cho anh Ngô Trọng D toàn bộ số tin đặt cọc
500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng.
* Trong qtrình giải quyết vụ án, người làm chứng chị Bùi Thị H trình bày:
Ngày 10/7/2024, tại số B L, phường L, quận N (nay là phường G), thành phố
Hải Phòng, chị H chứng kiến việc đặt cọc mua bán căn nhà số B L giữa chị P với
anh D. Trước đó 01 ngày, anh D đến xem thực tế ngôi nhà chị P đang bán. Quá
trình thỏa thuận giá cả, hai bên mua bán theo hiện trạng nhà mặt đường chứ không
trao đổi qua lại v việc căn nhà là nhà mặt ngõ. Ngay sáng ngày 11/7/2024, sau khi
kiểm tra pháp ngôi nhà, anh D đã gặp chị P để thỏa thuận lại việc hủy bỏ hợp đồng
đặt cọc hôm trước. Toàn bộ quá trình xem nhà, chị P2 không đưa cho anh D sổ chứng
nhận quyn sử dụng đất của mình mà chỉ có hình ảnh được chụp lại trên điện thoại.
Sau khi không đạt được thỏa thuận hủy bỏ hợp đồng đặt cọc, hai bên đã đưa vụ việc
ra Tòa án.
Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 29
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Ngô Trọng
D v việc tuyên bố hợp đồng đặt cọc (Hợp đồng đặt mua bất động sản) số 000047
ngày 10/7/2024 giữa bên bán chị Nguyễn Thị P và bên mua anh Ngô Trọng D là vô
hiệu, buộc chị P trả cho anh D toàn bsố tin đặt cọc 500.000.000 (Năm trăm
triệu) đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên v án phí và quyn kháng cáo đối với các
đương sự.
* Sau khi xét x thẩm, ngày 10/10/2025 nguyên đơn anh Ngô Trọng D
kháng cáo đối với Bản án dân sự thẩm s17/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng, đ nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét
xử lại vụ án theo hướng hủy bản án dân sự sơ thẩm trên.
6
Tại giai đoạn phúc thẩm, nguyên đơn anh Ngô Trọng D không cung cấp thêm
được tài liệu, chứng cứ gì mới.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
V thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc
thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành thực hiện đúng các quyn
và nghĩa vụ quy định tại B luật Tố tụng dân sự.
V quan điểm đối với kháng cáo của nguyên đơn anh Ngô Trng D:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh luận tại phiên tòa,
căn cứ vào khoản 1 Điu 308 Bộ luật Tố tụng dân sự đ nghị Hội đồng xét xử: Không
chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn anh Ngô Trọng D; giữ nguyên Bản án dân sự
thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực
3 - Hải Phòng.
V án phí: Nguyên đơn anh Ngô Trọng D phải nộp 300.000 đồng tin án phí
dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- V tố tụng:
[1] V quan hệ pháp luật thẩm quyn giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp
v hợp đồng đặt cọc thuộc tranh chấp v giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 3
Điu 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vụ án có kháng cáo nên thuộc thẩm quyn giải
quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng theo điểm b khoản 1 Điu 38 của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Xét kháng cáo của nguyên đơn anh Ngô Trọng D:
[2] V thời hiệu khởi kiện của hợp đồng: Thời điểm ký kết hợp đồng đặt cọc
ngày 10/7/2024. Ngày 22/7/2024, anh Ngô Trọng D nộp đơn khởi kiện vụ án
“Tranh chấp về hợp đồng đặt cọc” đối với chị Nguyễn Thị P là còn thời hiệu theo
quy định tại Điu 429 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] V yêu cầu Tuyên bố hợp đồng đặt cọc (Hợp đồng đặt mua bất động sản)
số 000047 được lập ngày 10/07/2024 giữa anh Ngô Trọng D chNguyễn Thị P
vô hiệu:
Căn cứ Hợp đồng đặt cọc mua bất động sản (v việc chuyển nhượng quyn sử dụng
đất và tài sản gắn lin với đất) được lập ngày 10/07/2024 giữa anh Ngô Trọng D
chị Nguyễn Thị P để thực hiện mục đích bảo đảm giao kết thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng quyn sử dụng đất tài sản gắn lin với đất tại địa chỉ tại số B L,
phường L, quận N (nay là phường G), thành phố Hải Phòng, diện tích 47m
2
thuộc
thửa đất số 163, tờ bản đồ LT-21 kèm theo giấy chứng nhận quyn sử dụng đất số
7
AB 121218 do UBND quận N, thành phố Hải phòng cấp ngày 26/4/2005 với giá
11.900.000.000 (Mười một tỷ chín trăm triệu) đồng.
[3.1] V hình thức của Hợp đồng:
Theo quy định tại khoản 2 Điu 119 của Bộ luật dân sự; thì Hợp đồng đặt cọc không
thuộc các trường hợp phải công chứng, chứng thực. Do vậy, Hợp đồng đặt cọc (Hợp
đồng đặt mua bất động sản) số 000047 được lập ngày 10/07/2024 giao kết giữa anh
Ngô Trọng D chị Nguyễn Thị P đã tuân thủ đúng theo quy định tại các Điu 116,
118, 119 của Bộ luật dân sự. Từ khi ký Hợp đồng đặt cọc đến nay, các bên giao kết
hợp đồng chưa bất kỳ văn bản thỏa thuận nào khác thay thế Hợp đồng đặt cọc
này cũng không ai yêu cầu quan thẩm quyn hủy Hợp đồng đặt cọc. Do
vậy Hội đồng xét xử xác định Hợp đồng đặt cọc (Hợp đồng đặt mua bất động sản)
số 000047 được lập ngày 10/07/2024 giao kết giữa anh Ngô Trọng D chị Nguyễn
Thị P đã phát sinh hiệu lực.
[3.2] V chủ thể nội dung: Anh Ngô Trọng D chị Nguyễn Thị P chủ thế
đứng ra lập Hợp đồng đặt cọc (Hợp đồng đặt mua bất động sản) có đủ năng lực pháp
luật, năng lực hành vi dân sự đầy đủ; nội dung công việc được đặt cọc chuyển
nhượng quyn sử dụng đất tài sản gắn lin với đất, không trái luật, trái đạo đức
hội không thuộc đối tượng không ththực hiện và các bên kết hợp đồng đặt
cọc hoàn toàn tự nguyện không bị nhầm lẫn, lừa dối, ép buộc. Do giao dịch không
vi phạm điu cấm của luật, trái đạo đức xã hội và tuân thủ theo đúng trình tự thủ tục
được quy định tại các điu 116, 117, 119 và Điu 328 của Bộ luật dân sự; đối tượng
giao dịch của hợp đồng đặt cọc là có thật và không vi phạm quy định của pháp luật
nên Hợp đồng đặt cọc (Hợp đồng đặt mua bất động sản) số 000047 được lập ngày
10/7/2024 là hoàn toàn hợp pháp và phát sinh hiệu lực với các bên kể từ thời điểm
giao kết.
[3.3] Các bên đu xác nhận ngày 10/7/2024, anh D đã đặt cọc cho chị Nguyễn
Thị P số tin 500.000.000 đồng, chị P đã nhận được số tin đặt cọc trên; Ngay sau
khi ký kết hợp đồng đặt cọc (Hợp đồng đặt mua bất động sản), anh D cho rằng: Chị
P đã không thông báo cho anh D đúng hiện trạng của thửa đất không phải đất mặt
đường dẫn đến việc định giá cao hơn rất nhiu so với giá trị thị trường. Tuy nhiên
tại Điu 1 Hợp đồng đặt cọc (Hợp đồng đặt mua bất động sản) quy định: n A đồng
ý bán/chuyển nhượng cho Bên B và Bên B đồng ý đặt mua Bất động sản: Địa chỉ: B
L, N, Hải Phòng; Thửa đất: 163; Tờ bản đồ số LT-21; Diện tích:47m
2
. Kèm giấy
chứng nhận QSH-QSD đất số AB 121218; Giá trị chuyển nhượng 11.900.000.000
đồng (Bằng chữ: Mười một tỷ chín trăm triệu) đồng và các bên đã tự nguyện ký kết
hợp đồng, không ai bị ép buộc. Như vậy, trong Hợp đồng đặt cọc (Hợp đồng đặt
mua bất động sản) số 000047 được lập ngày 10/07/2024 giữa anh Ngô Trng D
chị Nguyễn Thị P đã đầy đủ thông tin của thửa đất, anh D phải có nghĩa vụ biết
v vị trí thửa đất.
8
Anh D1 cho rằng, vào ngày 08/12/2023 chị P nhận cọc số tin 100.000.000
đồng của ông Nguyễn Đăng T, mục đích để chuyển nhượng căn nhà trên. Tuy nhiên
do chP không cung cấp đủ giấy tờ đ thực hiện giao dịch mua bán nên giao dịch
trên đã không được thực hiện. Bản thân chị P cũng không hoàn trả lại số tin trên
cho ông T dẫn tới việc ông T đã làm đơn ngăn chặn việc chuyển nhượng thửa đất
trên của chP tới Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận N, Sở Tư pháp và các
tổ chức hành ngh công chứng trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Việc thửa đất trên
đang có tranh chấp nhưng chị P không thông báo cho anh D1 được biết. Trong quá
trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ tại Sở Tư pháp
Hải Phòng và Văn phòng đăng đất đai quận N Tại Công văn trả lời của Sở
pháp thành phố Hải phòng thể hiện: “…Theo Quy chế thì thông tin tại Đơn đề nghị
của ông Nguyễn Đăng T nêu trên là thông tin cảnh báo, không phải thông tin ngăn
chặn. Bộ phận tra cứu thông tin công chứng, Sở pháp đã cung cấp thông tin cảnh
báo nêu trên cho các công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng khi yêu
cầu tra cứu thông tin công chứng liên quan đến bất động sản nêu trên theo đúng quy
định. Tại công văn trả lời của Chi nhánh Văn phòng Đ: “...Kiểm tra tài liệu ông T
cung cấp đối chiếu với quy định trên thì không có sđể Chi nhánh Văn phòng
Đ thực hiện việc tạm dừng thủ tục đăng biến động đất đai, tài sản gắn liền với
đất tại địa chỉ nêu trên theo yêu cầu..” Như vậy, việc ông T có đơn ngăn chặn việc
chuyển nhượng thửa đất của chị P không làm ảnh hưởng đến việc chị P ký hợp đồng
đặt cọc với anh D1. Tuy nhiên, căn nhà trên đang thuộc diện tranh chấp v hợp đồng
đặt cọc trước đó mà chị P2 không thông tin lại cho người mua trước khi đặt cọc. Vì
vậy, bị đơn là chị P2 cũng có một phần lỗi đối với việc mua bán căn nhà tại địa chỉ
trên.
Từ những phân tích ở trên, Hội đồng xét xử nhận thấy việc anh Ngô Trọng D
khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bhợp đồng đặt cọc (Hợp đồng đặt mua bất động
sản) số 000047 được lập ngày 10/07/2024 giữa anh Ngô Trọng D và chị Nguyễn Thị
P vô hiệu là không có căn cứ, tuy nhiên chị P cũng một phần lỗi vì vậy chị P phải
chịu 30% giá trị của hợp đồng đặt cọc tức chị P phải trả lại cho anh D 150.000.000
đồng và anh D phải chịu 70% giá trị hợp đồng đặt cọc.
Xét thấy, việc kháng cáo của nguyên đơn anh Ngô Trọng D là có căn cứ một
phần nên cần sửa Bản án dân sự thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng theo quy định tại khoản 2 Điu
308 của Bộ luật T tụng dân sự.
[4] V án phí: Căn cứ khoản 1 Điu 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản
1 Điu 26, điểm a khoản 3 Điu 27, khoản 2 Điu 29 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
9
V án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn anh Ngô Trọng D phải nộp 300.000
(Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự thẩm không giá ngạch 17.500.000
(Mười bảy triệu năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn chị Nguyễn Thị P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của
nguyên đơn anh Ngô Trọng D được Toà án chấp nhận số tin 7.500.000 (Bảy triệu
năm trăm nghìn) đồng.
V án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn anh Ngô
Trọng D được chấp nhận nên anh D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điu 26, điểm a khoản 1 Điu 35, điểm b khoản 1 Điu
38, điểm a khoản 1 Điu 39, khoản 1 Điu 147, Điu 266, Điu 273; khoản 2 Điu
308; Điu 309 ca Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 5 Điu 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi,
bổ sung một số điu của Bộ luật T tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư
pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ vào các Điu 116, 117, 118, 119, 275, 328 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điu 26, điểm a khoản 3 Điu 27, khoản 2 Điu 29 của
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn anh Ngô Trọng D; sửa Bản án dân
sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 3 - Hải Phòng.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Ngô Trọng D,
buộc bị đơn chị Nguyễn Thị P trả cho anh D số tin là 150.000.000 (Một trăm năm
mươi triệu) đồng.
2. V án phí:
V án phí dân sự: Nguyên đơn anh Ngô Trọng D phải nộp 300.000 (Ba trăm
nghìn) đồng án phí dân sự thẩm không giá ngạch 17.500.000 (Mười bảy
triệu năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự thẩm. Anh D1 đã nộp stin 12.000.000
(Mười hai triệu) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003228 ngày 20 tháng 11
năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyn, thành phố Hải Phòng
(nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Hải Phòng) và 300.000 đồng tin tạm
ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005473 ngày
10
31/10/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Ngô Trọng D còn phải
nộp số tin 5.200.000 (Năm triệu hai trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn chị Nguyễn Thị P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tin là 7.500.000
(Bảy triệu năm trăm nghìn) đồng.
V án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn anh Ngô Trọng D không phải nộp
án phí dân sự phúc thẩm.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điu 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân s quyn
thỏa thuận thi hành án, quyn yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điu 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điu 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- TAND khu vực 3 - Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 3 - Hải Phòng ;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hồng Giang
Tải về
Bản án số 10/2026/DS-PT Bản án số 10/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 10/2026/DS-PT Bản án số 10/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất