Bản án số 10/2026/DS-PT ngày 13/01/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 10/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 10/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 10/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 10/2026/DS-PT ngày 13/01/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hải Phòng |
| Số hiệu: | 10/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 13/01/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn anh Ngô Trọng D; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Ngô Trọng D, buộc bị đơn chị Nguyễn Thị P trả cho anh D số tiền là 150.000.000 (Một trăm năm mươi triệu) đồng. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 10/2026/DS-PT
Ngày 13-01-2026
V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang
Các Thẩm phán: Ông Bùi Duy Thạch
Ông Nguyễn Minh Tân
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hồng Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân
thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 218/2025/TLPT-DS ngày 10
tháng 11 năm 2025 v việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 236/2025/QĐ-PT ngày 10
tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 239/2025/QĐ-PT ngày 31 tháng
12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Ngô Trọng D, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện
K (nay là xã K), thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1978; địa chỉ: Số B L, phường L, quận
N (nay là phường G), thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn chị Nguyễn Thị P: Chị Nguyễn Thị
Minh A, sinh năm 1997; địa chỉ: Số B L, phường L, quận N (nay là phường G),
thành phố Hải Phòng (Giấy uỷ quyn ngày 29/8/2025); có mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn anh Ngô Trọng D, sinh năm 1988; địa chỉ:
Thôn T, xã T, huyện K (nay là xã K), thành phố Hải Phòng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
* Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn anh Ngô Trọng D trình bày:
Vào ngày 09/07/2024 chị Bùi Thị H có nhắn tin cho chị Vũ Thị Y (vợ anh
Ngô Trọng D) trên zalo với nội dung như sau: “Bán gấp hạ sâu từ 14tỷ500tr còn
12tỷ500tr Mặt đường Lạch Tray dt 47m x 3 tầng, mặt tin 4,7m siêu đẹp, hè rộng
thênh thang như sân bay, vị trí tuyệt đẹp mạn chưa qua cầu Vượt, sdcc, hưởng TTT,
hạ sâu chỉ còn 12tỷ500tr (ctt)". Sau đó chị Bùi Thị H dẫn nguyên đơn đến gặp chủ
nhà là chị Nguyễn Thị P để đặt cọc mua. Ngày 10/7/2024, anh Ngô Trọng D có làm
hợp đồng đặt cọc 000047 với chị Nguyễn Thi P1 với nội dung như sau:
Anh Duy đặt cọc số tin 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng để mua bất động
sản tại địa chỉ B L, diện tích 47m
2
, thửa đất số 163, tờ bản đồ LT-21 kèm theo giấy
chứng nhận quyn sử dụng đất số AB 121218 do Ủy ban nhân dân quận N, thành
phố Hải Phòng cấp ngày 26/4/2005 với giá 11.900.000.000 (Mười một tỷ chín trăm
triệu) đồng của Nguyễn Thị P qua người môi giới là Bùi Thị H. Trong thời hạn 30
ngày kể từ 10/7/2024 tới 10/8/2024 anh D phải nộp đủ số tin còn lại và 02 bên sẽ
kí hợp đồng chuyển nhượng mua bán đối với thửa đất trên.
Trong quá trình kí kết hợp đồng đặt cọc chị H và chị P đã gài bẫy anh với điu
khoản số 3: Thời hạn đặt mua và thanh toán trong vòng 30 ngày kể từ thời điểm bên
A nhận đủ tin mua. Bên A và bên B sẽ tiến hành kí kết hợp đồng giao dịch là hợp
đồng mua bán/chuyển nhượng, văn bản chuyển nhượng hoặc các văn bản khác được
kí kết giữa bên A và bên B v việc giao dịch các sản phẩm bất động sản thuộc quyn
sở hữu của bên B. Khi hợp đồng giao dịch hoàn tất bên B phải giao đủ số tin còn
lại cho bên A. Anh D thấy điu khoản hợp đồng này không đồng nhất với các điu
khoản khác trong hợp đồng, bất thường với một giao dịch mua bán bất động sản
thông thường. Điu khoản này gây bất lợi cho người mua bất động sản rất nhiu.
Hơn nữa, trong quá trình giao dịch anh D có nhấn mạnh với chị Bùi Thị H rất nhiu
lần là vợ chồng anh D mua đất mặt đường, và chị Bùi Thị H cũng báo với anh D đây
là đất mặt đường. Tuy nhiên thửa đất trên, chị Nguyễn Thị P và chị Bùi Thị H đã
không thông báo cho anh D đúng hiện trạng của thửa đất số 163, tờ bản đồ số LT-
21 thuộc địa chỉ số B L, phường L, quận N (nay là phường G), thành phố Hải Phòng
dẫn đến việc định giá cao hơn rất nhiu so với giá trị thị trường của thửa đất trên.
Hành vi trên của chị P và chị H sẽ gây thiệt hại rất nhiu cho anh D nếu anh D tiếp
tục thực hiện việc mua bán đối với bất động sản này.
Quá trình xác minh, anh D được biết, vào ngày 08/12/2023, chị Nguyễn Thị
P có nhận cọc số tin 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng của ông Nguyễn Đăng T
(CCCD: 03108000103, trú tại D N, phường Đ, quận H (nay là phường H), thành phố
Hải Phòng mục đích để chuyển nhượng căn nhà trên, tuy nhiên do chị P không cung
cấp đủ giấy tờ để thực hiện giao dịch mua bán nên giao dịch trên đã không được
thực hiện. Bản thân chị P cũng không hoàn trả lại số tin trên cho ông T dẫn tới việc
ông T đã làm đơn ngăn chặn việc chuyển nhượng thửa đất trên của chị P tới Chi
3
nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận N, Sở Tư pháp và các tổ chức hành ngh
công chứng trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Việc thửa đất trên đang có tranh chấp
nhưng chị P không thông báo cho anh D được biết. Nguyên đơn đ nghị Tòa án thu
thập chứng cứ tại Chi nhánh Văn phòng đăng kí đất đai quận N, Sở Tư pháp và các
tổ chức công chứng trên địa bàn thành phố Hải Phòng để xác minh nội dung trên.
Vì vậy, nguyên đơn anh Ngô Trọng D khởi kiện bị đơn chị Nguyễn Thị P đ
nghị Tòa án:
Tuyên bố hợp đồng hợp đồng đặt cọc (Hợp đồng đặt mua bất động sản) số
000047 ngày 10/7/2024 giữa bên bán chị Nguyễn Thị P và bên mua anh Ngô Trọng
D là vô hiệu. Hợp đồng đặt cọc vô hiệu nên buộc chị P phải trả cho anh D toàn bộ
số tin đặt cọc là 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng.
* Tại biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn
Thị P và đại diện theo ủy quyền của bị đơn chị Nguyễn Thị Minh A thống nhất trình
bày:
Ngày 09/7/2024, môi giới nhà đất gọi cho chị P, hẹn chiu cùng ngày chị P ở
nhà, môi giới nhà đất đưa khách qua xem nhà. Chị P mời vợ chồng anh D lên gác và
ra ngoài xem toàn bộ ngôi nhà. Khi xem hết xong vợ chồng anh D hỏi: Chị ơi sao
nhà bị thụt vào nhỉ, chị P bảo trước kia 2m² là ngõ đi chung của 05 nhà lin k trong
ngõ. Phía trước có mấy hộ diện tích nhỏ nhà dân ở kinh doanh. Khi nhà nước thực
hiện dự án mở rộng vỉa hè đã đn bù, giải phóng các hộ phía trước đi chỗ khác làm
vỉa hè còn lại 1,7m² là của nhà nước, 2m² là ngõ đi chung của 05 hộ dân trong ngõ
trước kia. Vợ chồng anh D xem xong các khu vực, kết cấu ngôi nhà và nắm bắt được
thông tin, hiện trạng thì hỏi đến diện tích nhà (Chiu rộng, dài). Chị P bảo tổng diện
tích trong bìa là 47m² để cho cẩn thận hơn 2 vợ chồng em cứ đo lại. Hai vợ chồng
anh D cũng ưng và có lời: “Chị ơi để vợ chồng em v bảo với bố em cùng lên xem
lại nhà chỉ vì bố em chuyên v xây dựng Bất động sản”. Tầm 20 giờ môi giới cùng
hai vợ chồng anh D và bố anh D đến xem lại nhà toàn bộ trên gác dưới nhà cho kỹ.
Khi mọi người xem xong hết trong nhà và ra ngoài mặt tin. Hỏi diện tích có đủ
47m² không? Chị P có nói chú và em cẩn thận đi mua thì cứ đo lại. Bên mua đo bằng
điện thoại. Có bảo phía đuôi hụt mấy phân. Chị P bảo cháu đi mua mà bìa như nào
cháu bán như vậy thôi ạ. Tất cả mọi người xem kỹ và nói chuyện xong, Vợ chồng
anh D đã ưng và anh D nói để mang lên quận kiểm tra bìa đỏ xem như thế nào rồi
anh D sẽ liên lạc, anh chị đi mua nhà nhiu tỷ phải đi kiểm tra bìa cẩn thận cho yên
tâm chứ. Mọi người đu vui vẻ ra v. Khoảng 10 giờ ngày 10/7/2024 môi giới liên
lạc trao đổi điện thoại cho tôi bảo khách hàng mua nhà trả nhà chị 11.700.000.000
(Mười một tỷ bảy trăm triệu) đồng. Chị P bảo giá đó chị không bán được. Môi giới
bảo vậy để em trao đổi lại với khách hàng. Tầm 11 giờ cùng ngày em môi giới gọi
điện cho tôi nói khách hàng đã đi kiểm tra bìa nhà, xong hẹn chị 12 giờ trưa. Khoảng
12 giờ trưa chị P v nhà, một lúc sau em Bùi Thị H (bên môi giới) và vợ chồng D
4
đến nhà. Mọi người vào nhà ngồi trao đổi nói chuyện. D nói: Sáng em đi lên quận
kiểm tra bìa đỏ rồi, bây giờ em trả chị 11.800.000.000 (Mười một tỷ tám trăm triệu)
đồng. Chị P nói trước khách hàng trả chị mười hai tỷ đồng chị chưa bán. Bây giờ chị
P đang cần, nếu vợ chồng em thiện trí mua thì đúng 11.900.000.000 (Mười một tỷ
chín trăm triệu) đồng chị mới bán. Vợ chồng khách mua nhà (D - Y) bàn bạc và đồng
ý mua với giá đó và bảo môi giới viết giấy đặt cọc luôn. Sau khi viết giấy đặt cọc
xong, khách hàng D chuyển vào tài khoản chị P là 500.000.000 (Năm trăm triệu)
đồng tin đặt cọc mua nhà. Cùng thời điểm ba bên trao đổi giá cả, thỏa thuận trước
khi viết giấy đặt cọc chị P cũng nói rõ với mọi người: Bên mua nhà hỗ trợ bên bán
tin rút bìa tại ngân hàng để hoàn tất thủ tục trước khi công chứng mua bán 2 bên.
Vợ chồng khách hàng (D - Y) đồng ý và hẹn trong thời gian sớm nhất rút tin thì sẽ
hỗ trợ chủ nhà để rút bìa tại ngân hàng ra trước ngày công chứng. Đồng thời khách
hàng Duy Y1 hẹn chậm nhất 01 tháng sẽ giao đủ tin và hoàn thiện công chứng mua
bán nhà. Ba bên: bán, mua, môi giới chị Bùi Thị H đọc lại hợp đồng đặt cọc đu
đồng ý nhất trí ký tên và lăn dấu vân tay. Mà thủ tục đặt cọc xong mọi người xin
phép v. Vợ chồng anh Duy Y1 không mua nhà, đặt cọc mua nhà xong không mua
nữa, phá hợp đồng, đã có các lời lẽ đe doạ mẹ con chị P. Vì vậy, Chị P không đồng
ý với quan điểm của nguyên đơn. Chị P chỉ đồng ý hỗ trợ cho nguyên đơn số tin
250.000.000 đồng trong trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiên. Bị
đơn cho rằng, Hợp đồng đặt cọc giữa nguyên đơn và bị đơn không bị vô hiệu vì: đối
tượng của Hợp đồng là khoản tin đặt cọc 500 triệu đồng. Trên thực tế đã được thực
hiện vì nguyên đơn đã chuyển khoản cho bị đơn ngay sau khi ký kết hợp đồng trên.
Hợp đồng đặt cọc kết thúc là do lỗi của bên nguyên đơn, lý do bên nguyên đơn đưa
ra là do không nhìn kĩ bìa đỏ. Tuy nhiên trước đó, bên bị đơn đã nói rõ tình trạng
căn nhà, gửi ảnh Giấy chứng nhận quyn sử dụng đất cho bên nguyên đơn cũng như
để bên nguyên đơn cùng người nhà đến xem, đo đạc trực tiếp. Thậm chí bên nguyên
đơn còn tự mình lên Ủy ban nhân dân quận N để xem lại thông tin thửa đất, quy
hoạch, trước khi ký kết hợp đồng với bị đơn. Như vậy, bên nguyên đơn đã nắm đầy
đủ thông tin trước khi đặt cọc nên không có cơ sở để bị đơn hoàn trả lại khoản tin
đặt cọc. Căn cứ vào Điu 5 của Hợp đồng đặt cọc thì việc bên nguyên đơn đơn
phương chấm dứt hợp đồng, từ chối ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyn sử dụng
đất sau khi ký kết hợp đồng đặt cọc thì phải chịu hậu quả pháp lý phát sinh là mất
khoản tin đặt cọc trên. Sau thời hạn 30 ngày đã thỏa thuận, mục đích của hợp đồng
đặt cọc hoàn toàn có thể đạt được vì: Thứ nhất, tại thời điểm ký kết hợp đồng đặt
cọc, bên nguyên đơn đã nắm rõ tình trạng của thửa đất bao gồm: Đất không có tranh
chấp: Tháng 12/2023 bị đơn có ký kết hợp đồng đặt cọc nhằm mục đích chuyển
nhượng thửa đất trên cho ông T. Tuy nhiên hợp đồng đã kết thúc vì ông T không
muốn mua thửa đất nữa. Sau đó ông T có làm đơn kiến nghị đến Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai quận N nhưng cơ quan này chỉ tiếp nhận chứ không cập nhật
thay đổi tình trạng tranh chấp của thửa đất. Thứ hai, trong toàn bộ quá trình, trước,
5
trong và sau khi ký kết hợp đồng đặt cọc bên bị đơn luôn thể hiện thiện chí tiếp tục
ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyn sử dụng đất nhưng bên từ chối là bên nguyên
đơn. Bên nguyên đơn thậm chí còn có những lời lẽ lăng mạ, bôi nhọ, đe dọa tinh
thần của bên bị đơn. Bị đơn đã được Toà án giải thích v hậu quả pháp lý của việc
tuyên bố hợp đồng vô hiệu nhưng chị P vẫn không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp
đồng vô hiệu.
Vì vậy, nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn chị Nguyễn Thị
P đ nghị Toà án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn v
việc tuyên bố hợp đồng đặt cọc (Hợp đồng đặt mua bất động sản) số 000047 ngày
10/7/2024 giữa bên bán chị Nguyễn Thị P và bên mua anh Ngô Trọng D là vô hiệu,
buộc chị Nguyễn Thị P hoàn trả cho anh Ngô Trọng D toàn bộ số tin đặt cọc là
500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, người làm chứng chị Bùi Thị H trình bày:
Ngày 10/7/2024, tại số B L, phường L, quận N (nay là phường G), thành phố
Hải Phòng, chị H có chứng kiến việc đặt cọc mua bán căn nhà số B L giữa chị P với
anh D. Trước đó 01 ngày, anh D có đến xem thực tế ngôi nhà chị P đang bán. Quá
trình thỏa thuận giá cả, hai bên mua bán theo hiện trạng nhà mặt đường chứ không
trao đổi qua lại v việc căn nhà là nhà mặt ngõ. Ngay sáng ngày 11/7/2024, sau khi
kiểm tra pháp lý ngôi nhà, anh D đã gặp chị P để thỏa thuận lại việc hủy bỏ hợp đồng
đặt cọc hôm trước. Toàn bộ quá trình xem nhà, chị P2 không đưa cho anh D sổ chứng
nhận quyn sử dụng đất của mình mà chỉ có hình ảnh được chụp lại trên điện thoại.
Sau khi không đạt được thỏa thuận hủy bỏ hợp đồng đặt cọc, hai bên đã đưa vụ việc
ra Tòa án.
Với nội dung như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 29
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Ngô Trọng
D v việc tuyên bố hợp đồng đặt cọc (Hợp đồng đặt mua bất động sản) số 000047
ngày 10/7/2024 giữa bên bán chị Nguyễn Thị P và bên mua anh Ngô Trọng D là vô
hiệu, buộc chị P trả cho anh D toàn bộ số tin đặt cọc là 500.000.000 (Năm trăm
triệu) đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên v án phí và quyn kháng cáo đối với các
đương sự.
* Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/10/2025 nguyên đơn anh Ngô Trọng D
kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng, đ nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét
xử lại vụ án theo hướng hủy bản án dân sự sơ thẩm trên.
6
Tại giai đoạn phúc thẩm, nguyên đơn anh Ngô Trọng D không cung cấp thêm
được tài liệu, chứng cứ gì mới.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
V thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc
thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành và thực hiện đúng các quyn
và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
V quan điểm đối với kháng cáo của nguyên đơn anh Ngô Trọng D:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh luận tại phiên tòa,
căn cứ vào khoản 1 Điu 308 Bộ luật Tố tụng dân sự đ nghị Hội đồng xét xử: Không
chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn anh Ngô Trọng D; giữ nguyên Bản án dân sự
sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực
3 - Hải Phòng.
V án phí: Nguyên đơn anh Ngô Trọng D phải nộp 300.000 đồng tin án phí
dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- V tố tụng:
[1] V quan hệ pháp luật và thẩm quyn giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp
v hợp đồng đặt cọc thuộc tranh chấp v giao dịch dân sự theo quy định tại khoản 3
Điu 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vụ án có kháng cáo nên thuộc thẩm quyn giải
quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng theo điểm b khoản 1 Điu 38 của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Xét kháng cáo của nguyên đơn anh Ngô Trọng D:
[2] V thời hiệu khởi kiện của hợp đồng: Thời điểm ký kết hợp đồng đặt cọc
là ngày 10/7/2024. Ngày 22/7/2024, anh Ngô Trọng D nộp đơn khởi kiện vụ án
“Tranh chấp về hợp đồng đặt cọc” đối với chị Nguyễn Thị P là còn thời hiệu theo
quy định tại Điu 429 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] V yêu cầu Tuyên bố hợp đồng đặt cọc (Hợp đồng đặt mua bất động sản)
số 000047 được lập ngày 10/07/2024 giữa anh Ngô Trọng D và chị Nguyễn Thị P
vô hiệu:
Căn cứ Hợp đồng đặt cọc mua bất động sản (v việc chuyển nhượng quyn sử dụng
đất và tài sản gắn lin với đất) được lập ngày 10/07/2024 giữa anh Ngô Trọng D và
chị Nguyễn Thị P để thực hiện mục đích bảo đảm giao kết và thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng quyn sử dụng đất và tài sản gắn lin với đất tại địa chỉ tại số B L,
phường L, quận N (nay là phường G), thành phố Hải Phòng, diện tích 47m
2
thuộc
thửa đất số 163, tờ bản đồ LT-21 kèm theo giấy chứng nhận quyn sử dụng đất số
7
AB 121218 do UBND quận N, thành phố Hải phòng cấp ngày 26/4/2005 với giá
11.900.000.000 (Mười một tỷ chín trăm triệu) đồng.
[3.1] V hình thức của Hợp đồng:
Theo quy định tại khoản 2 Điu 119 của Bộ luật dân sự; thì Hợp đồng đặt cọc không
thuộc các trường hợp phải công chứng, chứng thực. Do vậy, Hợp đồng đặt cọc (Hợp
đồng đặt mua bất động sản) số 000047 được lập ngày 10/07/2024 giao kết giữa anh
Ngô Trọng D và chị Nguyễn Thị P đã tuân thủ đúng theo quy định tại các Điu 116,
118, 119 của Bộ luật dân sự. Từ khi ký Hợp đồng đặt cọc đến nay, các bên giao kết
hợp đồng chưa có bất kỳ văn bản thỏa thuận nào khác thay thế Hợp đồng đặt cọc
này và cũng không ai yêu cầu Cơ quan có thẩm quyn hủy Hợp đồng đặt cọc. Do
vậy Hội đồng xét xử xác định Hợp đồng đặt cọc (Hợp đồng đặt mua bất động sản)
số 000047 được lập ngày 10/07/2024 giao kết giữa anh Ngô Trọng D và chị Nguyễn
Thị P đã phát sinh hiệu lực.
[3.2] V chủ thể và nội dung: Anh Ngô Trọng D và chị Nguyễn Thị P là chủ thế
đứng ra lập Hợp đồng đặt cọc (Hợp đồng đặt mua bất động sản) có đủ năng lực pháp
luật, năng lực hành vi dân sự đầy đủ; nội dung công việc được đặt cọc chuyển
nhượng quyn sử dụng đất và tài sản gắn lin với đất, không trái luật, trái đạo đức
xã hội và không thuộc đối tượng không thể thực hiện và các bên ký kết hợp đồng đặt
cọc hoàn toàn tự nguyện không bị nhầm lẫn, lừa dối, ép buộc. Do giao dịch không
vi phạm điu cấm của luật, trái đạo đức xã hội và tuân thủ theo đúng trình tự thủ tục
được quy định tại các điu 116, 117, 119 và Điu 328 của Bộ luật dân sự; đối tượng
giao dịch của hợp đồng đặt cọc là có thật và không vi phạm quy định của pháp luật
nên Hợp đồng đặt cọc (Hợp đồng đặt mua bất động sản) số 000047 được lập ngày
10/7/2024 là hoàn toàn hợp pháp và phát sinh hiệu lực với các bên kể từ thời điểm
giao kết.
[3.3] Các bên đu xác nhận ngày 10/7/2024, anh D đã đặt cọc cho chị Nguyễn
Thị P số tin 500.000.000 đồng, chị P đã nhận được số tin đặt cọc trên; Ngay sau
khi ký kết hợp đồng đặt cọc (Hợp đồng đặt mua bất động sản), anh D cho rằng: Chị
P đã không thông báo cho anh D đúng hiện trạng của thửa đất không phải đất mặt
đường dẫn đến việc định giá cao hơn rất nhiu so với giá trị thị trường. Tuy nhiên
tại Điu 1 Hợp đồng đặt cọc (Hợp đồng đặt mua bất động sản) quy định: Bên A đồng
ý bán/chuyển nhượng cho Bên B và Bên B đồng ý đặt mua Bất động sản: Địa chỉ: B
L, N, Hải Phòng; Thửa đất: 163; Tờ bản đồ số LT-21; Diện tích:47m
2
. Kèm giấy
chứng nhận QSH-QSD đất số AB 121218; Giá trị chuyển nhượng 11.900.000.000
đồng (Bằng chữ: Mười một tỷ chín trăm triệu) đồng và các bên đã tự nguyện ký kết
hợp đồng, không ai bị ép buộc. Như vậy, trong Hợp đồng đặt cọc (Hợp đồng đặt
mua bất động sản) số 000047 được lập ngày 10/07/2024 giữa anh Ngô Trọng D và
chị Nguyễn Thị P đã có đầy đủ thông tin của thửa đất, anh D phải có nghĩa vụ biết
v vị trí thửa đất.
8
Anh D1 cho rằng, vào ngày 08/12/2023 chị P có nhận cọc số tin 100.000.000
đồng của ông Nguyễn Đăng T, mục đích để chuyển nhượng căn nhà trên. Tuy nhiên
do chị P không cung cấp đủ giấy tờ đ thực hiện giao dịch mua bán nên giao dịch
trên đã không được thực hiện. Bản thân chị P cũng không hoàn trả lại số tin trên
cho ông T dẫn tới việc ông T đã làm đơn ngăn chặn việc chuyển nhượng thửa đất
trên của chị P tới Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận N, Sở Tư pháp và các
tổ chức hành ngh công chứng trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Việc thửa đất trên
đang có tranh chấp nhưng chị P không thông báo cho anh D1 được biết. Trong quá
trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ tại Sở Tư pháp
Hải Phòng và Văn phòng đăng ký đất đai quận N Tại Công văn trả lời của Sở Tư
pháp thành phố Hải phòng thể hiện: “…Theo Quy chế thì thông tin tại Đơn đề nghị
của ông Nguyễn Đăng T nêu trên là thông tin cảnh báo, không phải thông tin ngăn
chặn. Bộ phận tra cứu thông tin công chứng, Sở Tư pháp đã cung cấp thông tin cảnh
báo nêu trên cho các công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng khi có yêu
cầu tra cứu thông tin công chứng liên quan đến bất động sản nêu trên theo đúng quy
định. Tại công văn trả lời của Chi nhánh Văn phòng Đ: “...Kiểm tra tài liệu ông T
cung cấp và đối chiếu với quy định trên thì không có cơ sở để Chi nhánh Văn phòng
Đ thực hiện việc tạm dừng thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với
đất tại địa chỉ nêu trên theo yêu cầu..” Như vậy, việc ông T có đơn ngăn chặn việc
chuyển nhượng thửa đất của chị P không làm ảnh hưởng đến việc chị P ký hợp đồng
đặt cọc với anh D1. Tuy nhiên, căn nhà trên đang thuộc diện tranh chấp v hợp đồng
đặt cọc trước đó mà chị P2 không thông tin lại cho người mua trước khi đặt cọc. Vì
vậy, bị đơn là chị P2 cũng có một phần lỗi đối với việc mua bán căn nhà tại địa chỉ
trên.
Từ những phân tích ở trên, Hội đồng xét xử nhận thấy việc anh Ngô Trọng D
khởi kiện yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng đặt cọc (Hợp đồng đặt mua bất động
sản) số 000047 được lập ngày 10/07/2024 giữa anh Ngô Trọng D và chị Nguyễn Thị
P vô hiệu là không có căn cứ, tuy nhiên chị P cũng có một phần lỗi vì vậy chị P phải
chịu 30% giá trị của hợp đồng đặt cọc tức chị P phải trả lại cho anh D là 150.000.000
đồng và anh D phải chịu 70% giá trị hợp đồng đặt cọc.
Xét thấy, việc kháng cáo của nguyên đơn anh Ngô Trọng D là có căn cứ một
phần nên cần sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng theo quy định tại khoản 2 Điu
308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] V án phí: Căn cứ khoản 1 Điu 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản
1 Điu 26, điểm a khoản 3 Điu 27, khoản 2 Điu 29 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
9
V án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn anh Ngô Trọng D phải nộp 300.000
(Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch và 17.500.000
(Mười bảy triệu năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn chị Nguyễn Thị P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của
nguyên đơn anh Ngô Trọng D được Toà án chấp nhận số tin là 7.500.000 (Bảy triệu
năm trăm nghìn) đồng.
V án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn anh Ngô
Trọng D được chấp nhận nên anh D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điu 26, điểm a khoản 1 Điu 35, điểm b khoản 1 Điu
38, điểm a khoản 1 Điu 39, khoản 1 Điu 147, Điu 266, Điu 273; khoản 2 Điu
308; Điu 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 5 Điu 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi,
bổ sung một số điu của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư
pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ vào các Điu 116, 117, 118, 119, 275, 328 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điu 26, điểm a khoản 3 Điu 27, khoản 2 Điu 29 của
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định v mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn anh Ngô Trọng D; sửa Bản án dân
sự sơ thẩm số 17/2025/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 3 - Hải Phòng.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Ngô Trọng D,
buộc bị đơn chị Nguyễn Thị P trả cho anh D số tin là 150.000.000 (Một trăm năm
mươi triệu) đồng.
2. V án phí:
V án phí dân sự: Nguyên đơn anh Ngô Trọng D phải nộp 300.000 (Ba trăm
nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch và 17.500.000 (Mười bảy
triệu năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Anh D1 đã nộp số tin 12.000.000
(Mười hai triệu) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003228 ngày 20 tháng 11
năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyn, thành phố Hải Phòng
(nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Hải Phòng) và 300.000 đồng tin tạm
ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005473 ngày
10
31/10/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Ngô Trọng D còn phải
nộp số tin 5.200.000 (Năm triệu hai trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn chị Nguyễn Thị P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tin là 7.500.000
(Bảy triệu năm trăm nghìn) đồng.
V án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn anh Ngô Trọng D không phải nộp
án phí dân sự phúc thẩm.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điu 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyn
thỏa thuận thi hành án, quyn yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điu 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điu 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- TAND khu vực 3 - Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 3 - Hải Phòng ;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hồng Giang
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 15/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 12/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 08/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm