Bản án số 09/2026/DS-PT ngày 20/01/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 09/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 09/2026/DS-PT ngày 20/01/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 09/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hữu T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 09/2026/DS-PT
Ngày: 20 - 01 - 2026.
V/v: Tranh chấp kiện đòi tài
sản.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Hoàng Anh Tuấn.
Các Thẩm phán: Ông: Hoàng Hữu Truyền.
Ông: Hoàng Văn Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bích Ngọc - Thư Toà án nhân dân tỉnh
Thái Nguyên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Ông Nông Văn
Đổi - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 20 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 189/2025/TLPT-DS ngày 13 tháng
11 năm 2025 về việc: Tranh chấp kiện đòi tài sản.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2025/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân Khu vực 1 - Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số: 233/2025/QĐPT-DS
ngày 11 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đinh Công H, sinh năm 1976. Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ G, phường C, thành phố T (nay phường G), tỉnh Thái
Nguyên.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Quang
N ông Nguyễn Công Q - Luật Văn phòng L thuộc Đoàn Luật tỉnh T.
Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1960. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ G, phường C, thành phố T (nay phường G), tỉnh Thái
Nguyên.
3. Người làm chứng: Ông Nguyễn Hữu H1, sinh năm 1953. Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ G, phường C, thành phố T (nay phường G), tỉnh Thái
Nguyên.
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Hữu T.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản lấy lời khai quá trình
giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Khoảng tháng 7/2024, ông được biết ông Nguyễn Hữu T (là người hàng
xóm) đang nhu cầu chuyển nhượng thửa đất số 3645, tờ bản đồ số 11, đất
đô thị đất trồng cây lâu năm ông nhu cầu mua đất của ông T. Tuy
nhiên, ông T đã nhận hợp đồng đặt cọc với một người khác, trị giá đặt cọc là
50.000.000₫ đông T chuyển nhượng cho họ 200 đất thổ cư, 200 đất
vườn tạp với giá là 2.000.000đ/m². Nếu chuyển nhượng đất cho ông thì ông T
phải hủy cọc bồi thường cho người đã đặt cọc mua đất của ông T. vậy,
ông ông T cũng đã thỏa thuận thêm nếu ông T bán đất cho ông thì số tiền
bồi thường hủy cọc 100.000.000₫ sẽ do cả hai cùng chịu, mỗi người một nửa
50.000.000₫. Ông T đồng ý, số tiền này không phải tiền đặt cọc giữa ông
và ông T là số tiền ông ứng trước để mua đất của ông T. Do ông T không
tiền, nên ngay tối hôm đó ông đã trực tiếp đưa cho ông T 100.000.000₫ tiền mặt
tại nông Nguyễn Hữu H1 (sinh năm 1953 - là anh ruột của ông T) để ông T
hủy cọc. Ông H1 trực tiếp chứng kiến việc giao nhận tiền giữa ông và ông T. Do
hàng xóm tin tưởng nhau nên toàn bộ quá trình thỏa thuận đưa tiền trên
đều là thỏa thuận miệng, không lập thành văn bản, nhưng có người làm chứng là
ông Nguyễn Hữu H1. Sau đó, ông nhờ chị Nguyễn Thị Thanh N1 (trước đây làm
cán bộ địa chính phường C) đến đo đạc để xác định mốc giới đất chuyển nhượng
cho ông. Vài ngày sau, ông chuẩn bị làm hợp đồng các thủ tục chuyển
nhượng đất giữa ông và ông T thì ông T thông báo với ông ông T không
bán 200 m² đất thổ nữa mà chỉ bán 150 m² đất thổ cư, còn diện tích đất vườn
tạp và giá chuyển nhượng vẫn giữ nguyên như thỏa thuận nêu trên, thấy vậy ông
không đồng ý.
Đến sáng ngày 23/7/2024, ông T gọi cho ông nói sẽ đồng ý chuyển
nhượng đất như thỏa thuận ban đầu nhưng phải chuyển hết tiền, gọi người làm
chứng đến giải quyết ngay trong ngày m đó. thời gian quá gấp nên ông
không thể chuẩn bị đủ tiền và làm h thủ tục chuyển nhượng đất. Đến vài
hôm sau thì ông gọi lại cho ông T để trao đổi việc chuyển nhượng đất, nhưng
ông T không hợp tác, không đồng ý bán đất ông vịn do ông không chuyển
tiền cho ông T trong ngày 23/7/2024 ông T không bán với giá nữa. Trong
quá trình thực hiện, do ông T tự ý thay đổi thỏa thuận mua bán nđã nêu trên
nên chị N1 không lập hồ sơ đo đạc, xóa bỏ mọi dữ liệu.
Ngày 09/8/2024, ông đơn đề nghị tổ dân phố tổ G, phường C hòa giải
vụ việc giữa ông ông T, trong buổi hòa giải, ông T thừa nhận thỏa
thuận mua bán đất giữa ông ông T như đã nêu trên nhận 100.000.000₫
tiền của ông. Ông yêu cầu ông T thực hiện bán đất theo đúng thỏa thuận ban đầu
hoặc nếu không bán thì trả tiền 100.000.000₫ nhưng ông T không đồng ý trả lại
nên hòa giải không thành.
Ngày 20/02/2025, Ủy ban nhân dân phường C giải quyết việc tranh chấp
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông ông T nhưng kết quả hòa giải
3
không thành. Ông làm đơn khởi kiện đ nghị Tòa án giải quyết buộc ông
Nguyễn Hữu T trả lại cho ông số tiền 100.000.000₫ không tính lãi.
* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Hữu T trình bày:
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, ông bán một phần diện tích đất trong thửa đất
số 3645 tờ bản đồ số 11 đất đô thị đất trồng cây lâu năm cho T1 (không
rõ họ tên địa chỉ) 400 m² đất: trong đó có 200 m² đất thổ cư, 200 m² đất vườn tạp
giá 2.000.000 đồng/m² = 800.000.000 đồng. Hai bên đã làm hợp đồng, bên mua
đặt cọc 50.000.000 đồng thỏa thuận bên nào không làm đúng chịu phạt
100.000.000₫. Vào khoảng 17 giờ cùng ngày mọi thtục đã xong ông đưa toàn
bộ giấy tờ gồm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cước công dân cho
T1 để làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định. Bà T1 ra về, ông Đinh Công
H ng ông H1 sang nhà ông ngay lúc đó, ông H bảo bán cho ông H. Ông bảo
“anh không m thế được, bán cho người ta rồi mai lấy tiền xong”. Ông H
nài nỉ mua, ông nói trong hợp đồng ai sai phải chịu phạt 100.000.000₫. Ông H
đồng ý, ngay tối hôm đó ông H ng vợ cầm sang đưa ông 100.000.000₫ để phá
hợp đồng mua bán giữa ông T1. Ông đã nhận 100.000.000₫ của ông H.
Sáng hôm sau ông gọi cho T1 để nói cho T1 không bán đất nữa và chịu
phạt 100.000.000₫. Khi đó bà T1 không đồng ý, 10 ngày sau ông T1 hiệp
thương và đồng ý nhận 100.000.000
đ
tiền phạt cọc, bà T1 đã trả lại cho ông toàn
bộ giấy tờ gồm sđỏ căn cước công dân. Sau đó, ông thông báo cho ông H
biết để làm thủ tục mua bán. Số tiền ông H đưa cho ông để ông hủy hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất với T1 phạt cọc ông đã nhận, hiện nay
chưa trả cho ông H. Ba ngày sau ông H thuê người đo đạc, 7 ngày sau số liệu
ông nhất trí. Sau đó, ông muốn hiệp thương với ông H về đất thổ giảm
diện tích ông bán quá nhiều, phạm luật nhưng tất cả đều không thành. Đến
ngày 27/8/2024 ông mời ông H sang nhà ông nói với ông H là: “Giờ anh bán
cho em đúng như thoả thuận, pháp luật phạt anh cũng chịu. Em mời người
làm chứng trong ngày hôm nay anh em mình giải quyết cho xong”. Ông H trả
lời ông “OK” và gọi điện cho ai thì ông không rõ. Ông H ra v, ba ngày sau
N1 gọi điện cho ông bảo em sang anh để lấy giấy tờ để làm thủ tục chuyển
nhượng đất của anh và anh H. Ông trả lời anh không đưa anh nó chưa
hợp đồng nào, chưa một đồng nào. Sau đó ông đi S nghỉ mát 3 ngày mới về.
Trong thời gian 6 ngày, ông H không một lời phản hồi. Việc thỏa thuận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất với ông H chỉ thỏa thuận bằng miệng, chưa làm hợp
đồng chuyển nhượng theo quy định. Ông cũng đã mời ông H sang nhà đlàm
thủ tục chuyển nhượng ông H cũng không sang. Số tiền ông H đưa cho ông để
phạt cọc, ông đã nhận đủ 100.000.000₫ để trả phạt cọc cho T1 theo đề nghị
của ông H, do đó ông không đồng ý trả lại cho ông H số tiền này. Nay ông H
khởi kiện đòi số tiền 100.000.000₫ ông H đưa cho ông để ông trả tiền phạt cọc
hủy hợp đồng chuyển nhượng với T1, ông sẽ hỗ trợ ông H 30.000.000₫
mong muốn hai bên thỏa thuận để giải quyết hợp tình hợp lý. Nếu không thỏa
thuận được ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Người làm chứng ông Nguyễn Hữu H1 trình bày:
4
Ông với ông H là anh em họ, ông với ông Nguyễn Hữu T anh em ruột,
giữa ông với ông H, ông T không có mâu thuẫn gì. Đối với việc ông H khởi kiện
ông T đòi tài sản 100.000.000
đ
ông người biết được chứng kiến. Cụ thể
như sau: Ông biết ông T có nhu cầu bán diện tích đất thổ cư là 200 m² và 320 m²
đất vườn tạp cho một người ở khu Đ ông không rõ tên, địa chỉ và bên mua đã đặt
cọc cho ông T 50.000.000 đồng vào khoảng tháng 7/2024, còn ngày thì không rõ
cụ thể. Tầm khoảng 17 giờ chiều cùng ngày ông H đi làm về thấy mọi người
đang đo đất của nhà ông T thì được biết ông T bán diện tích đất trên nói với
ông “Nếu biết ông T bán đất thì em sẽ mua”. Sau đó ông gọi ông T nói cho ông
T biết là ông H nhu cầu mua đất. Ông T nói giờ đã bán cho người khác
họ đã đặt cọc, nếu phá hợp đồng phải phạt cọc 100.000.000 đồng. Trước khi đưa
tiền ông T ông H thỏa thuận ông H đưa trước 100.000.000 đồng mỗi
người chịu một nửa. Ông H nhất trí, đến khoảng 18 giờ cùng ngày gia đình ông
đang ăn cơm uống rượu cả ông T thì vợ chồng ông H sang nhà ông đưa cho
ông T 100.000.000 đồng, khi đó vợ ông trực tiếp đếm tiền hộ ông T, ông T đã
nhận đủ tiền ông H đưa cho. Hai hôm sau ông T nộp tiền phạt cọc
100.000.000 đồng cho bên đặt cọc nhận lại Giấy chứng nhận quyền sdụng
đất. Sau đó ông được biết ông H mục đích mua diện ch đất thổ cư là 200 m²
200 vườn tạp nthỏa thuận ban đầu nhưng ông T thay đổi chỉ bán 150
đất thổ cư, đất vườn tạp vẫn giữ nguyên nên hai bên xảy ra việc không
chuyển nhượng cho nhau nữa. Sau đó sự việc như thế nào ông không nắm được.
Đến thời điểm hiện tại ông nghe nói ông T đã bán diện tích đất trên cho người
khác, cụ thể bán cho ai ông không nắm được.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 40/2025/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên đã quyết định:
Căn cứ Khoản 2 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều
273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân
sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội vmức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản sử
dụng án phívà lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Công H.
Buộc ông Nguyễn Hữu T nghĩa vtrả cho ông Đinh Công H số tiền
100.000.000₫ (Một trăm triệu đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468
của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên án phí quyền kháng cáo của các
đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 21 tháng 9 năm 2025, bị đơn ông Nguyễn Hữu T kháng cáo bản án
dân ssơ thẩm đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giải quyết ông không đồng ý trả
100.000.000 đồng cho ông Đinh Công H.
5
Tại phiên toà phúc thẩm:
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn không nhất t
với kháng cáo của bị đơn, đnghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa
bản án sơ thẩm, theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
ông không đồng ý trả 100.000.000 đồng cho ông Đinh Công H ông không
lỗi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Thái Nguyên phát biểu: Việc tuân theo
pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên toà, người
tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo đúng quy định của
pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét x không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân khu
vực 1 - Thái Nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên toà căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp
thẩm đã xác định đúng thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh
chấp, người tham gia ttụng, tiến hành thu thập, tiếp cận, công khai chứng cứ,
hoà giải, trình tự thủ tục tại phiên toà sơ thẩm đúng quy định của pháp luật.
Đơn kháng cáo của bị đơn làm đúng theo các quy định của pháp luật nên
được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn vắng mặt đơn xin xét xử vắng
mặt, người làm chứng ông Nguyễn Hữu H1 vắng mặt mặc đã được Toà án
triệu tập hợp lệ. Tại phiên tòa những người tham gia tố tụng, đại diện Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
Hội đồng xét xử thấy rằng nguyên đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng
vắng mặt đã có lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ của v án, việc vắng mặt của
họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết, xét xử của Toà án nên Hội đồng xét xử
căn cứ vào Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt
họ.
[2] Về nội dung: Xét toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn
Hữu T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ông Đinh Công H ông Nguyễn Hữu T đã thừa nhận ông H đưa số
tiền 100.000.000 đồng cho ông T để ông T hủy tiền cọc chuyển nhượng đất
với T1 thống nhất rằng mỗi người sẽ chịu 50.000.000 đồng tiền phạt cọc
với điều kiện ông T phải bán cho ông H diện tích đất 200 m
2
đất 200
m
2
đất vườn. Nhưng sau đó ông T không thực hiện cam kết ch đồng ý
6
chuyển nhượng cho ông H diện tích đất 150 m
2
. Sau khi tiếp tục thỏa thuận
thì ông T nhất trí chuyển nhượng cho ông H 200 m
2
đất nhưng không nhất trí
như giá bán ban đầu nữa. Do đó, việc chuyển nhượng đất giữa ông T ông H
không thực hiện được. Quá trình này có ông Nguyễn Hữu H1 làm chứng.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong vụ việc này nếu ông T chuyển nhượng
đất cho ông H theo như thỏa thuận ban đầu giữa hai bên thì sẽ không tranh
chấp xảy ra. Bản thân ông T cũng thừa nhận muốn thương lượng với ông H để
thỏa thuận giảm diện tích đất thổ chuyển nhượng cho ông H xuống còn 150
m
2
(diện tích thỏa thuận ban đầu là 200 m
2
), nhưng phía ông H không đồng ý.
Mặt khác, nếu giữ diện tích 200 m
2
thì giá phải cao hơn yêu cầu ông H phải
thanh toán ngay số tiền chuyển nhượng đất nhưng ông H không thu xếp được
ngay số tiền đó... Điều này trái với thỏa thuận ban đầu dẫn đến việc chuyển
nhượng không thành. Ông T đã nhận số tiền 100.000.000 đồng từ phía ông H
nên phải hoàn trả lại cho ông H số tiền này là hoàn toàn hợp lý.
Như vậy, nguyên nhân xảy ra tranh chấp là do ông T không thực hiện cam
kết của mình như ban đầu hai bên đã thỏa thuận nên mới dẫn đến việc chuyển
nhượng đất giữa ông T ông H không thực hiện được, đây không phải do lỗi
của ông H. Như phân tích ở trên việc ông T cho rằng ông không có lỗi gì là hoàn
toàn không căn cứ chấp nhận. Do đó, ông T phải trách nhiệm hoàn trả lại
cho ông H số tiền 100.000.000 đồng như bản án thẩm đã tuyên là hoàn toàn
có căn cứ.
Như vậy, Toà án cấp thẩm đã xem xét đầy đủ, toàn diện, khách quan
toàn bộ các chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Bị đơn
kháng cáo nhưng không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng
minh yêu cầu kháng cáo căn cứ pháp luật. Do vậy, yêu cầu kháng cáo của
bị đơn không được Hội đồng xét xphúc thẩm chấp nhận, cần giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
[3] Về án phí:
Yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được Hội đồng xét xử phúc thẩm
chấp nhận nên bđơn phải chịu toàn bộ án phí dân sphúc thẩm theo quy định
của pháp luật. Tuy nhiên, bị đơn là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên
Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho bị đơn theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 38, Điều 148, Điều 293, khoản 1 Điều 308 của
Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12 của Nghị quyết số 326/2026/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
7
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Hữu T.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số: 40/2025/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm
2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho
bị đơn ông Nguyễn Hữu T.
3. Các quyết định khác của bản án dân sự thẩm không kháng cáo,
không bị kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án n sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự”
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- VKSND khu vực 1 - Thái Nguyên;
- TAND khu vực 1 - Thái Nguyên;
- Các đương sự;
- Phòng THA khu vực 1 - Thái Nguyên;
- THA Dân sự tỉnh Thái Nguyên;
- Lưu Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Hoàng Anh Tuấn
8
Tải về
Bản án số 09/2026/DS-PT Bản án số 09/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 09/2026/DS-PT Bản án số 09/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất