Bản án số 10/2025/HNGĐ-PT ngày 19/09/2025 của TAND tỉnh Lào Cai về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 10/2025/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 10/2025/HNGĐ-PT ngày 19/09/2025 của TAND tỉnh Lào Cai về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lào Cai
Số hiệu: 10/2025/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/09/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ly hôn nuôi con
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 10/2025/HNGĐ-PT
Ngày 19-9-2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Hải Anh
Các Thẩm phán: 1. Bà Trần Thị Khánh Vân
2. Ông Nguyễn Mạnh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Dương Thu Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào
Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 19-9-2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm công
khai vụ án thụ lý số 11/2025/TLPT-HNGĐ ngày 08/8/2025 về việc “Ly hôn, tranh
chấp về nuôi con khi ly hôn”. Do Bản án hôn nhân gia đình thẩm số
17/2025/HNGĐ-ST ngày 30/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào
Cai (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Lào Cai) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 101/2025/QĐ-PT, ngày
28/8/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ChNguyễn Thị N, sinh năm 1991. CCCD 038191003684 cấp
ngày 21/4/2022
Địa chỉ nơi cư trú: Thôn N, xã V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã N, tỉnh
Thanh Hóa).
Nơi ở hiện nay: Số F, đường C tháng B, phường F, quận A, thành phố Hồ Chí
Minh (nay là phường D, thành phố Hồ Chí Minh). Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Lâm P, sinh năm 1993. CCCD 010093002066 cấp ngày
21/4/2022
Địa chỉ nơi trú: Tổ dân phố H, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lào Cai (nay
S, tỉnh Lào Cai).
Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Cao Bằng (nay là xã P,
tỉnh Cao Bằng). Có mặt.
* Người kháng cáo: Bị đơn - anh Nguyễn Lâm P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Lâm P chung sống với nhau từ năm
2014, ngày 22/11/2016 anh chị tự nguyện đăng kết hôn tại UBND V, huyện
N, tỉnh Thanh Hóa. Từ khi chung sống với nhau anh chị đã phát sinh nhiều mâu
thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên xảy ra
cãi nhau, thi thoảng chị N bị bạo hành, nhục mạ. Từ tháng 6/2019 chị N về ở nhà bố
mẹ đẻ tại thôn N, V, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, vợ chồng không liên lạc, quan
tâm đến nhau và sống ly thân từ đó tới nay, anh P đã chung sống như vợ chồng với
chị Hoàng Thị L tại địa chỉ: Thị trấn T, huyện Q, tỉnh Cao Bằng, đến tháng 9/2024
chị L anh P đã với nhau 01 con chung. Nay chị N nhận thấy tình cảm vợ chồng
không thể hàn gắn được nên chị khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được
ly hôn với anh P.
Về con chung: Anh chị 02 con chung cháu Nguyễn Lâm V - Sinh ngày
03/02/2015 cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh C sinh ngày 09/11/2017, các cháu đều
khỏe mạnh phát triển bình thường, hộ khẩu thường trú tại: Đ, thôn N, V,
huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Hiện các cháu sống cùng nội các cháu tại phường Y,
quận T, thành phố Hà Nội. Ly hôn chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được trực
tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Nguyễn Lâm V cho đến khi
cháu V đủ 18 tuổi; để anh P được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh C cho
đến khi cháu C đủ 18 tuổi, không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con
chung. Hiện nay chđang làm việc tại Công ty C1 với mức thu nhập bình quân
khoảng 19.800.000đồng/tháng.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Lâm P trình bày :
Về quan hệ hôn nhân và mâu thuẫn vợ chồng như chị N trình bày là đúng. Từ
năm 2019 anh chị đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau nữa. Đến nay chị
N khởi kiện ly hôn, anh nhất trí ly hôn.
Về con chung, nuôi con khi ly hôn: Anh chị N 02 con chung như chị N
đã trình bày. Do anh chị sống ly thân, đều đi làm ăn xa nên cả 02 cháu ở với bà nội
Cổ Phụng H tại phường Y, quận T, thành phố Nội. Ly hôn nguyện vọng
của anh P được trực tiếp nuôi cả hai con, không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng
nuôi con. Trường hợp chị N nguyện vọng trực tiếp nuôi một hoặc hai con thì đề
nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật. Hiện nay anh đang làm
nghề bán hàng ăn tại nay là xã P, tỉnh Cao Bằng, thu nhập ổn định bình quân
khoảng 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng/tháng; nếu anh được nuôi cả 2 con
thì mẹ anh, bà Cổ Phụng H vẫn có thể tiếp tục hỗ trợ anh chăm sóc các cháu.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản án hôn nhân gia đình thẩm số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 30/6/2025
của Tòa án nhân dân huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai (nay Tòa án nhân dân khu
vực 9 - Lào Cai) đã quyết định:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân
sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, khoản 1, 2 Điều 82, Điều 83 Luật
Hôn nhân gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14
quy định về mức thu phí, miễn, giảm, thu nộp, quản sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Nguyễn
Lâm P...
2. Về nuôi con khi ly hôn: - Xử giao cháu Nguyễn Lâm V, sinh ngày 03/02/2015
cho anh Nguyễn Lâm P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho
đến khi cháu V đủ 18 tuổi; - Xử giao cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh C, sinh ngày
09/11/2017 cho chị Nguyễn Thị N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi. Chị N, anh P không bên nào phải cấp dưỡng
nuôi con khi ly hôn.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai
được cản trở; người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản
trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục con.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15/7/2025 bị đơn anh Nguyễn Lâm P kháng cáo
về phần nuôi con khi ly hôn tại bản án thẩm số 17/2025/HNGĐ-ST ngày
30/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai (nay là Tòa án nhân
dân khu vực 9 - Lào Cai). Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án
thẩm theo hướng: Xử giao cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh C cháu Nguyễn Lâm V cho
anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu C và cháu V đủ 18 tuổi.
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị HĐXX
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Anh P giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đề nghị HĐXX sửa bản án thẩm,
giao cả 2 con cho anh nuôi dưỡng.
Các đương sự không giao nộp thên tài liệu chứng cứ gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai phát biểu ý kiến:
Về việc chấp hành pháp luật ttụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ
án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án để xét
xử phúc thẩm chuyển hồ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu. Hội đồng
xét xử và Thư phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự về thủ tục xét xử phúc thẩm. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia
tố tụng như nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định theo Điều 70,
71, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về quan điểm giải quyết ván: Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố
tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Lâm P. Giữ nguyên Bản án hôn
nhân gia đình sơ thẩm số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 30/6/2025 của Tòa án nhân dân
huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Lào Cai).
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Giải quyết theo quy định của pháp
luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào c tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được kiểm tra,
xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét
xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng
[1.1]. Tòa án cấp thẩm xác định đúng mối quan hệ tranh chấp, thụ giải
quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[1.2]. Đơn kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Lâm P nộp trong hạn, đầy đủ nội
dung, nộp tạm ứng án phí dân sphúc thẩm đúng quy định nên được xác định hợp
lệ, được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Lâm P, yêu cầu được trực
tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả 02 con chung cho đến khi các
cháu đủ 18 tuổi:
Chị N anh P 02 con chung cháu Nguyễn Lâm V, sinh ngày 03/02/2015
và cháu Nguyễn Ngọc Quỳnh C, sinh ngày 09/11/2017.
Anh P chị N đã không chung sống từ năm 2019, mỗi người đều cuộc
sống, công việc riêng, đã ổn định cuộc sống, đủ điều kiện về vật chất và tinh thần đ
nuôi con. Từ 2021 đến nay anh chị nhờ Cổ Phụng H, sinh năm 1958 là bà nội của
các cháu (mẹ đẻ anh P) trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu. Nguyện vọng của
cháu V (sinh ngày 03/02/2015) cháu C (sinh ngày 09/11/2017) đều mong muốn
về việc bmly hôn thì muốn sống cùng nhau với bố, bà nội không muốn thay
đổi chỗ ở...
Xét thấy, các cháu đều còn nhỏ, việc lấy ý kiến của các cháu là cần thiết nhưng
cũng cần xem xét để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các cháu.
Việc nuôi dưỡng con là quyền, nghĩa vụ trách nhiệm của mỗi người làm cha,
mẹ và cha mẹ đều có trách nhiệm ngang nhau trong việc chăm sóc con chung sau ly
hôn. Các cháu đều đang ở lứa tuổi phát triển về thể chất, tâm, sinh lý, do vậy người
trực tiếp nuôi dưỡng các cháu rất cần có sự hiểu biết về tâm lý, giới tính và không ai
khác tốt hơn chính là người cha, người mcủa các cháu.
Anh P hiện đã có cuộc sống riêng, ở xa các con cho nên việc anh đề nghị được
nuôi cả 2 con nhờ nội các cháu tiếp tục trực tiếp nuôi các con là không phù
hợp, sẽ tạo thêm áp lực cho người già và không đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt
của mỗi con nên không phù hợp.
Bản án thẩm đã giao cháu V cho anh P; giao cháu C cho chị N trực tiếp trông
nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi mỗi cháu đủ 18 tuổi. Không bên
nào phải cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn là phù hợp.
Quá trình giải quyết vụ án cấp phúc thẩm anh P không cung cấp được tài liệu
chứng cứ mới chứng minh các nội dung kháng cáo của mình là có căn cứ.
Do vậy, Hội đồng xét xphúc thẩm không chấp nhận kháng cáo về nuôi con
khi ly hôn của anh P, cần giữ nguyên nội dung bản án sơ thẩm
[3]. Về các vấn đề khác: Quá trình giải quyết vụ án, tòa án cấp sơ thẩm đã xác
định Cổ Phụng H, sinh năm 1958 mẹ đẻ anh P, đang thay anh P chị N nuôi
dưỡng các con ca anh chị - là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không p
hợp với quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vậy, Tòa án cấp
sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
[4]. Ván phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên
người kháng cáo phải chịu án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm theo quy định tại
Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Lâm P.
Giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình thẩm số 17/2025/HN-ST ngày
30/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai (nay là Tòa án nhân
dân khu vực 9 - o Cai) về nuôi con khi ly hôn.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Về án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm:
Anh Nguyễn Lâm P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí
hôn nhân gia đình phúc thẩm. Xác nhận anh Nguyễn Lâm P đã nộp 300.000 đồng
(Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án
phí, lệ phí Tòa án hiệu BLTU/25E, s0000286 ngày 22/7/2025 tại Chi cục Thi
hành án dân shuyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai (nay Phòng Thi hành dân sự khu
vực 9 - Lào Cai).
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật thi
hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành
án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lào Cai (2);
- TAND khu vực 9 - Lào Cai;
- Phòng THADS khu vực 9 - Lào Cai;
- Các đương sự;
- Lưu VT, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Hoàng Hải Anh
Tải về
Bản án số 10/2025/HNGĐ-PT Bản án số 10/2025/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 10/2025/HNGĐ-PT Bản án số 10/2025/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất