Bản án số 10/2022/HNGĐ-ST ngày 27/01/2022 của TAND huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 10/2022/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 10/2022/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 10/2022/HNGĐ-ST ngày 27/01/2022 của TAND huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Giồng Riềng (TAND tỉnh Kiên Giang) |
| Số hiệu: | 10/2022/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 27/01/2022 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Anh Lâm Quang Đ yêu cầu ly hôn với chị Trần Thị Hồng X |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG RIỀNG
TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 10/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 27/01/2022
V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia
đình - Ly hôn, nuôi con khi ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Năng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hà Bửu Khánh
2. Ông Võ Minh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Đình Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang
tham gia phiên tòa: Bà Trần Thúy An - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng,
tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai
vụ án thụ lý số: 13/2021/TLST - HNGĐ,
về việc
“Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”. theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 23 tháng 12
năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Lâm Quang Đ – Sinh năm: 1987 (Có mặt)
Địa chỉ: Khu phố 6, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
Bị đơn: Chị Trần Thị Hồng X – Sinh năm: 1990 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố 6, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, anh Đ là nguyên đơn trình
bày:
Tôi xác định vợ chồng kết hôn là tự tìm hiểu, tổ chức lễ cưới năm 2007, có
đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Giồng Riềng, huyện Giồng Riềng. Sau khi cưới
nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc hơn 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Do bất
2
đồng quan điểm, không còn hòa hợp. Mặc dù vợ chồng đã tự sửa chữa khuyết điểm
nhưng không mang lại kết quả nên tôi và chị X đã ly thân từ tháng 7/2020. Nay tôi
yêu cầu ly hôn với chị X. Về con chung: Chúng tôi có với nhau 04 con chung là cháu
Lâm Quang V, sinh ngày: 24/7/2008; Lâm Thị Huỳnh H, sinh ngày 11/01/2009; Lâm
Quang Phú Q, sinh ngày 18/3/2013 và Lâm Tâm N, sinh ngày 30/8/2015. Theo đơn
khởi kiện tôi yêu cầu được quyền nuôi 04 con, không yêu cầu chị X cấp dưỡng.
Nhưng nay xét thấy để cho các cháu ổn định về cuộc sống và tâm lý nên tôi quyết
định rút một phần yêu cầu khởi kiện về con chung. Về tài sản và nợ chung, không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị X là bị đơn: Không nộp văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu
của anh Đ; không cung cấp tài liệu, chứng cứ để Tòa án xem xét.
Phát biểu quan điểm của của đại diện Viện kiểm sát:
- Việc tuân thủ thủ theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán được phân công
thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng theo qui định của pháp luật tố tụng, xác
định đúng quan hệ tranh chấp, thẩm quyền của Tòa án, tư cách của đương sự theo
qui định tại khoản 1 - Điều 28; 35; 36; 39; 68 của BLTTDS năm 2015.
- Việc thu thập tài liệu chứng cứ được thực hiện theo qui định tại khoản 2 -
Điều 97 của BLTTDS năm 2015 và hòa giải tại Điều 210, 211 của BLTTDS năm
2015. Tuy nhiên tại biên bản làm việc với đương sự ngày 17/02/2021 Thẩm phán
chưa thực hiện đúng mẫu theo Nghị quyết 01/2017 ngày 13/01/2017 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án tối cao.
- Về trình tự thụ lý vụ án, thủ tục cấp tống đạt: Tòa án thực hiện đúng quy định
tại Điều 175; 177; 178; khoản 1 - Điều 195; 196 của BLTTDS năm 2015. Tuy nhiên
Thẩm phán còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử và thời gian gửi hồ sơ cho viện
kiểm sát.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên Tòa thực hiện
đúng các qui định của BLTTDS.
- Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực
hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo qui định tại Điều 70, 71 của
BLTTDS. Riêng bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình Điều
70, 72 của BLTTDS.
- Về nội dung vụ án: Hôn nhân của anh Đ, chị X tự tìm hiểu, có đăng ký kết
hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống anh chị xảy ra mâu
thuẫn, theo anh Đ xác định là do vợ chồng không phù hợp tính ý, bất đồng quan
điểm…Đối với bị đơn, quá trình giải quyết vụ kiện chị X không có ý kiến đối với
yêu cầu khởi kiện của anh Đ. Tuy nhiên tại biên bản làm việc ngày 17/02/2022 chị
X cho rằng anh Đ đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Do đó Tòa án đã
tiến hành hòa giải quyết mâu thuẫn, tạo điều kiện để anh chị hàn gắn tình cảm nhưng
chị X vắng mặt. Đồng thời tại phiên Tòa anh Đ đã kiên quyết ly hôn, điều này chứng
tỏ mâu thuẫn của vợ chồng đã đến mức trầm trọng đời sống. Do đó đề nghị Tòa án
chấp nhận cho anh Đ được ly hôn với chị X là có căn cứ, phù hợp qui định tại khoản
3
1 - Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Về con chung: quá trình giải quyết vụ án
cũng như tại phiên Tòa anh Đ xác định rút một phần yêu cầu khởi kiện về giải quyết
con chung, khi có tranh chấp sẽ khởi kiện sau. Xét thấy việc rút đơn là tự nguyện,
không trái pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối yêu cầu giải quyết về
con chung của anh Đ theo qui định Khoản 2 - Điều 244 của BLTTDS năm 2015. Tuy
nhiên hiện các con đang sống với anh Đ nên ghi nhận trách nhiệm của anh Đ về việc
tiếp tục, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu
nên đề nghị miễn xét.
Về án phí: Đề nghị buộc anh Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000
đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: anh Đ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với chị X,
đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị X là bị đơn cư trú tại huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ khoản
1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho
chị X. Tuy nhiên, chị không đến Tòa án để tham gia phiên họp, hòa giải, phiên tòa
là không thực hiện đúng về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Do đó, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do anh Đ giao nộp và
do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật
Tố tụng dân sự. Mặt khác, chị X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên
tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở
ngại khách quan. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến
hành xét xử vắng mặt chị X.
[2]. Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: anh Đ và chị X kết hôn năm 2007, hôn nhân trên cơ sở
tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên
Giang nên quan hệ hôn nhân giữa anh, chị là hợp pháp. Tại phiên tòa, anh Đ xác định
sau khi cưới nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc hơn 10 năm thì phát sinh mâu
thuẫn. Do bất đồng quan điểm, không còn hòa hợp. Mặc dù đã tự sửa chữa khuyết
điểm nhưng không mang lại kết quả. Anh, chị tự chấm dứt quan hệ vợ chồng từ tháng
7/2020 cho đến nay và không còn quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau và không có
liên hệ với nhau để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, anh chị đều vi phạm nghiêm
trọng về quyền, nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

4
Vì vậy, Tòa án tiến hành thủ tục hòa giải để giải quyết mâu thuẫn, tạo điều
kiện hàn gắn tình cảm vợ chồng cho anh, chị nhưng không đạt kết quả do chị X không
có ý kiến phản đối yêu cầu của anh Đ, điều này cho thấy tình cảm vợ chồng của anh
chị đã phai nhạt, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không
thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh Đ yêu cầu ly hôn với
chị X và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp theo quy
định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp
nhận.
Về con chung: Quá trình giải quyết vụ kiện của như tại phiên Tòa, anh Đ rút
một phần rút một phần yêu cầu giải quyết con chung. Xét thấy yêu cầu của anh là tự
nguyện, không trái pháp luật và xét lời đề nghị của Đại diện viện kiểm sát là có căn
cứ nên HĐXX đình chỉ một phần yêu cầu của anh Đ về yêu cầu giải quyết con chung.
Ghi nhận trách nhiệm của anh Đ về việc tiếp tục, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Trường hợp anh chị có tranh chấp Tòa án thụ lý giải quyết trong vụ án khác.
Về tài sản và nợ chung: anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
[3]. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án. Anh Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.
[4]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ
nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4
Điều 147, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều 244, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều
271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình;
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Lâm Quang Đ và
chị Trần Thị Hồng X.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của anh Đ về yêu cầu giải quyết vấn
đề con chung. Ghi nhận trách nhiệm của anh Đ về việc tiếp tục, chăm sóc, nuôi dưỡng
con chung. Trường hợp anh chị có tranh chấp Tòa án thụ lý giải quyết trong vụ án
khác.
3. Về án phí: anh Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm
nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng
5
(ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 5840 ngày
12/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang,
anh Đ đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: anh Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật
định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án là ngày 27/01/2022; chị X có quyền kháng cáo
trong thời hạn luật định 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống
đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
-TAND tỉnh Kiên Giang;
-VKS ND huyện Giồng Riềng;
-THA huyện Giồng Riềng;
-UBND xã (nơi ĐKKH);
-Các đương sự;
-Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Cao Văn Năng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm