Bản án số 10/2021/DS-ST ngày 15/07/2021 của TAND huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 10/2021/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 10/2021/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 10/2021/DS-ST ngày 15/07/2021 của TAND huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Đoan Hùng (TAND tỉnh Phú Thọ) |
| Số hiệu: | 10/2021/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 15/07/2021 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ông Trần Đạo B khời kiện Trung tâm KHLN Bắc Bộ |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN Đ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 10/2021/DS-ST
Ngày 15-7-2021
V/v tranh chấp phát sinh từ
hợp đồng giao khoán.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Đại.
Ông Trần Tuấn Anh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện
Đ, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Phương Anh- Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Phú
Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2021/TLST- DS ngày
05/01/2021 về việc tranh chấp hợp đồng giao khoán, theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số: 10/2021/QĐXXST-DS ngày 28/6/2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Đạo B– sinh năm 1944.
Địa chỉ: Thôn 2, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).
- Bị đơn: Trung tâm KH Bắc Bộ.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Anh D- sinh năm 1968.
Chức vụ: Giám đốc.
Địa chỉ: Khu 3, xã C, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Văn T- sinh năm 1954.
Địa chỉ: Khu 05, xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).
2. Ông Đoàn Văn N - sinh năm 1943.
Địa chỉ: Khu 05, xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).
3. Ông Trần Xuân T1- sinh năm 1983.
Địa chỉ: Thôn 2, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là ông Trần
Đạo B trình bày: Trung tâm NCLS, nay là Trung tâm KHLN Bắc Bộ (Bên A)
và ông Trần Đạo B (Bên B) cùng ký kết Hợp đồng kinh tế số 32 về việc ký kết
trồng và bảo vệ rừng liên doanh theo phương thức ăn chia sản phẩm vào ngày
27/02/1989. Theo đó, Trung tâm giao cho ông B diện tích đất 10,9ha tại lô số 1,
4, 5 khoảnh 1 thuộc địa phận xã V, huyện Đ để ông B trồng, chăm sóc rừng bạch
2
đàn, keo, bồ đề, luồng, giống cây trồng do Trung tâm cung cấp. Phương thức ăn
chia như sau:
- Sản phẩm tỉa thưa và trồng xen thì bên B được hưởng 100%.
- Sản phẩm khai thác thì dành 10% cho trọng tài kinh tế, còn lại chia theo
tỷ lệ bên A 30%, bên B 70% (Trường hợp bên B thanh toán đầu tư ban đầu cho
bên A hoặc tự túc toàn bộ thi công), hoặc bên A 40%, bên B 60% (Trường hợp
bên B không thanh toán đầu tư ban đầu cho bên A).
Hợp đồng này có thời hạn là 15 năm kể từ ngày ký. Tuy trong Hợp đồng
số 32 chỉ có bạch đàn, keo, bồ đề, luồng nhưng trên thực tế tháng 7/1989, Trung
tâm đã lấy giống cây chiêu liêu từ miền Nam về, giao cho ông trồng bổ sung
trên diện tích cũ. Khi ông yêu cầu lập Hợp đồng thì phía Trung tâm nói cứ thực
hiện như Hợp đồng cũ. Đến năm 2000, phía Trung tâm có thanh lý Hợp đồng
nhưng chỉ thanh lý đối với diện tích trồng keo và bạch đàn. Năm 2001, Trung
tâm có bàn giao lại cho ông tiếp tục chăm sóc 4254 cây gồm chiêu liêu, sồi dẻ,
lim, ràng ràng… Đến 2014, có 210 cây chiêu liêu bị chết, Trung tâm đã lập biên
bản, bán và thanh toán cho con trai ông là anh Anh Trần Xuân T1 với tỷ lệ chia
là Trung tâm 45%, anh T1 là 54%, (sau khi trừ 10% cho trọng tài kinh tế). Theo
quan điểm của ông B, Hợp đồng số 32 chưa thanh lý, từ khi kí kết hợp đồng cho
đến năm 2018, phía Trung tâm vẫn chia % cho ông theo tỷ lệ ghi trong Hợp
đồng. Do đó, việc Trung tâm bán 420 cây gồm 390 cây chiêu liêu (do Trung tâm
cung cấp giống cho ông), 10 cây lim xanh và 20 cây khác (tự mọc trên đất) với
giá 81.000.000đ nhưng chỉ thanh toán cho ông 27% số tiền trên là ảnh hưởng
đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông. Đến nay, ông đề nghị Trung tâm phải chia
tỷ lệ đúng theo Hợp đồng, kể cả đối với cây chiêu liêu và các cây tự mọc là lim
xanh và các cây khác.
Quá trình giải quyết ông B cung cấp các tài liệu gồm Bản gốc Hợp đồng
32 và Đơn xin nuôi trồng rừng năm 1989, bản sao Biên bản giao khoán trông coi
bảo vệ cây tái sinh sau khi đã bài tỉa điều chỉnh mật độ tổ thành năm 2001, tài
liệu thể hiện năm 2014 Trung tâm đã thanh toán cho anh T1 với tỷ lệ ăn chia anh
T1 được hưởng 54% và các đơn đề nghị xác nhận có xác nhận của ông Nguyễn
Văn T - Phó Giám đốc Trung tâm NCLS thời điểm năm 2000 và ông Đoàn Văn
N - Giám đốc Trung tâm NCLS năm 1989, xác nhận như nội dung ông đã khai.
Bị đơn Trung tâm KHLN Bắc Bộ do ông Nguyễn Anh D đại diện theo
pháp luật trình bày: Năm 1989, Trung tâm NCLS, nay là Trung tâm KHLN Bắc
Bộ có ký Hợp đồng số 32 với ông Trần Đạo B, nội dung Hợp đồng như ông B
khai là đúng. Việc Trung tâm có kế hoạch trồng thêm cây chiêu liêu trên diện
tích đất trên theo Kế hoạch năm 1991 là đúng. Nhưng số cây chiêu liêu này
không được bổ sung vào Hợp đồng hay phụ lục của Hợp đồng số 32. Việc chi
trả theo Hợp đồng 32 đối với tiền bán 210 cây chiêu liêu cho gia đình ông B vào
năm 2014 là nhầm lẫn, đã có Kết luận của đơn vị chủ quản là Viện KH Việt
Nam nhưng không có tài liệu để chứng minh. Theo quan điểm của Trung tâm,
do Hợp đồng số 32 đã thanh lý vào năm 2000, số 420 cây gồm 390 cây chiêu
liêu, 10 cây lim xanh và 20 cây khác đã bán không có trong Hợp đồng nên
Trung tâm không có căn cứ để chi trả cho ông B theo yêu cầu của ông B mà chỉ
chỉ trả công sức bảo vệ là 27%.

3
Ông D cung cấp bản sao Hợp đồng số 32, Kế hoạch năm 1991 về việc
trồng bổ sung cây chiêu liêu và một số loại cây khác, Biên bản hòa giải tại xã,
biên bản định giá, bán đấu giá 420 cây vào năm 2018 có kèm theo Bảng kê sản
phẩm khai thác tận dụng trong đó giá trị là 81.000.000đ.
Người làm chứng là ông Nguyễn Văn T - Nguyên Phó Giám đốc Trung
tâm NCLS giai đoạn 1997 - 2002. Ông T xác nhận việc trong hợp đồng số 32
chỉ ghi trồng cây bạch đàn và cây keo, không ký kết Hợp đồng trồng cây Chiêu
liêu, lim, và các cây khác nhưng thực tế tháng 7/1989, Trung tâm có chuyển
phương thức trồng cây chiêu liêu lấy từ miền Nam ra, cấp cho ông B để trồng và
ăn chia theo Hợp đồng 32. Những gì ông B đã khai là hoàn toàn đúng. Ông T
không có tài liệu gì chứng minh.
Người làm chứng là là ông Đoàn Văn N là Giám đốc Trung Tâm NCLS
giai đoạn 1987 - 2000. Ông N xác nhận nội dung như ông B khai là đúng, phù
hợp với lời khai của ông B và ông T.
Quá trình giải quyết nguyên đơn và bị đơn đều chỉ thống nhất về giá trị tài
sản tranh chấp là 81.000.000đ, không yêu cầu định giá lại N cũng không thống
nhất được về tỷ lệ chia đối với 81.000.000đ đã bán cây trên. Đến nay, ông B vẫn
yêu cầu được hưởng tỷ lệ theo Hợp đồng 32, phía Trung tâm không nhất trí.
Tại phiên tòa, đại điện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, xác định:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký
phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 39; Điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 274; khoản 1
Điều 275; Điều 483; Điều 484; Điều 485; Điều 488; khoản 2 Điều 468 của Bộ
luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326, ngày 30/12/2016 của UBTVQH
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa
án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Đạo B. Buộc Trung tâm KHLN
Vùng trung tâm Bắc Bộ phải thanh toán cho ông Trần Đạo B số tiền
43.740.000đ (Bốn mươi ba triệu bẩy trăm bốn mươi nghìn đồng).
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Trung tâm KHLN Vùng trung tâm Bắc Bộ
phải nộp số tiền là: 2.187.000đ (Hai triệu một trăm tám mươi bẩy nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn ông Trần Đạo B cư trú tại thôn 2, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú
Thọ khởi kiện về việc Tranh chấp hợp đồng trồng và bảo vệ rừng với bị đơn là
Trung tâm KH Bắc Bộ địa chỉ tại khu 3, xã C, huyện Đ nên đây là vụ án Tranh
chấp hợp đồng giao khoán thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
huyện Đ, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều
35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Ông Trần Đạo B và Trung tâm NCLS, nay là Trung tâm KHLN Vùng
trung tâm Bắc Bộ cùng ký kết Hợp đồng kinh tế số 32 về việc ký kết trồng và
bảo vệ rừng liên doanh theo phương thức ăn chia sản phẩm vào ngày
27/02/1989. Theo đó, Trung tâm giao cho ông B đất, giống cây… để ông B
4
trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng đối với các cây bạch đàn, keo, luồng. Phương thức
ăn chia như sau: Sản phẩm tỉa thưa và trồng xen thì ông B được hưởng 100%.
Sản phẩm khai thác thì dành 10% cho trọng tài kinh tế, còn lại chia theo tỷ lệ
ông B được 70% (Trường hợp ông B thanh toán đầu tư ban đầu cho bên Trung
tâm hoặc tự túc toàn bộ thi công), hoặc 60% (Trường hợp không thanh toán đầu
tư ban đầu cho Trung tâm). Năm 2000, Trung tâm thanh lý Hợp đồng phần diện
tích trồng bạch đàn, keo. Năm 2001, Trung tâm bàn giao cho cho ông B tiếp tục
bảo vệ rừng trong đó có cây chiêu liêu, lim, sồi, dẻ… Năm 2018, Trung tâm
khai thác và bán đấu giá tổng số 420 cây trồng gồm: 390 cây chiêu liêu, 10 cây
lim xanh và 20 loại cây khác như sồi, dẻ…trị giá 81.000.000đ và cho ông B
được hưởng 27% giá trị như tiền công bảo vệ rừng. Ông B không đồng ý nên đã
khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc Trung tâm phải chia cho ông theo hợp
đồng số 32.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Trần Đạo B Hội đồng xét xử thấy: Hợp
đồng số 32 về việc ký kết trồng và bảo vệ rừng liên doanh theo phương thức ăn
chia sản phẩm vào ngày 27/02/1989 giữa ông Trần Đạo B và Trung tâm NCLS,
nay là Trung tâm KHLN Bắc Bộ sau 15 năm xem như đã thanh lý, hết hiệu lực.
Ngoài Hợp đồng này ra thì giữa ông B và Trung tâm không có bổ sung thêm
Hợp đồng hay phụ lục hợp đồng nào khác liên quan đến việc trồng, trông coi,
bảo vệ cây chiêu liêu, lim xanh cùng một số loại cây khác. Tuy nhiên, phía
Trung tâm cũng xác nhận việc đã bổ sung trồng cây chiêu liêu theo kế hoạch
năm 1991, giống do Trung tâm lấy từ miền Nam ra. Năm 2001, khi Trung tâm
bàn giao cho ông B tiếp tục chăm sóc bảo vệ thì đã bàn giao cả cây chiêu liêu
cùng một số cây khác như lim, ràng ràng…Đến năm 2014, khi Trung tâm tận
thu 210 cây Chiêu liêu chết vẫn thanh toán cho ông B 54% giá trị cây đã bán.
Bản thân ông B, ông Nguyễn Văn T là Phó giám đốc, Trung tâm NCLS giai
đoạn 1997-2000 cùng ông Đoàn Văn N - Giám đốc Trung tâm thời điểm 1987 -
2000 là người trực tiếp ký Hợp đồng số 32 đều xác nhận tuy trong Hợp đồng số
32 không có nội dung liên quan đến trồng cây chiêu liêu N trên thực tế tháng
7/1989, Trung tâm đã có chuyển phương thức trồng cây Chiêu liêu, cấp cho ông
B giống cây trồng và vẫn ăn chia theo Hợp đồng số 32. Do đó, có thể thấy, tuy
Hợp đồng 32 đã hết hiệu lực nhưng giữa ông B và Trung tâm vẫn có thỏa thuận
miệng về việc ông B tiếp tục chăm sóc, bảo vệ số cây chiêu liêu trên và được
hưởng tỷ lệ như trong Hợp đồng số 32 đã ghi nên việc ông B yêu cầu Trung tâm
phải thanh toán cho ông số tiền đã bán cây theo tỷ lệ 60% (thực lĩnh là 54% sau
khi đã trừ 10% trọng tài kinh tế) là phù hợp. Riêng đối với các cây mọc tự nhiên
mà Trung tâm đã bán gồm 10 cây lim xanh, 20 cây sồi dẻ, xác nhận đã trên 20
năm tuổi, đều do ông B chăm sóc, bảo vệ trong suốt thời gian đó, do vậy, việc
ông B yêu cầu hưởng tỷ lệ như đối với số cây chiêu liêu cũng là phù hợp. Do đó,
để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ông B, cần chấp nhận yêu cầu của
ông B, buộc Trung tâm KHLN Bắc Bộ phải thanh toán cho ông B số tiền
43.740.000đ (81.000.000đ- 10%= 72.900.000 x60% = 43.740.000đ).
[2.4] Về án phí dân sự thẩm : Do yêu cầu của ông B được chấp nhận nên
Trung tâm KHLN Vùng trung tâm Bắc Bộ phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ
thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,

5
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 39; Điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 274; khoản 1
Điều 275; Điều 483; Điều 484; Điều 485; Điều 488; khoản 2 Điều 468 của Bộ
luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326, ngày 30/12/2016 của UBTVQH
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa
án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Trần Đạo B. Buộc Trung tâm KHLN Bắc
Bộ phải thanh toán cho ông Trần Đạo B số tiền 43.740.000đ (Bốn mươi ba triệu
bẩy trăm bốn mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền,
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự
năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Trung tâm KHLN Bắc Bộ phải nộp số tiền
là: 2.187.000đ (Hai triệu một trăm tám mươi bẩy nghìn đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 9 Luật thi hành
án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử Phúc
Thẩm.
Nơi nhận: T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKS huyện, tỉnh; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Chi cục Thi hành án DS;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ; VP. (Đã ký)
Nguyễn Anh Tuấn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 22/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 22/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 22/09/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 21/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 31/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 09/06/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 16/05/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 14/05/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 14/05/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 06/05/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 23/04/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 17/04/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 08/04/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 04/04/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 27/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 19/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 19/02/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 21/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 07/01/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm