Bản án số 10/2018/HNGĐ-ST ngày 26/10/2018 của TAND TX. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 10/2018/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 10/2018/HNGĐ-ST ngày 26/10/2018 của TAND TX. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TX. Phúc Yên (TAND tỉnh Vĩnh Phúc)
Số hiệu: 10/2018/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/10/2018
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Dương Thị N xin ly hôn Ông Hoàng Văn H và đề nghị giải quyết về con chung
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TềA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN- TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thịnh và bà Phan Thị Nhung.
Thư phiên tòa: Ông Hoàng Văn Bích - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Phúc Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên
tòa: Bà Cù Thị Hồng Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 10 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phúc
Yên xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 112/2018/TLST- HNGĐ
ngày 30 tháng 5 năm 2018 về việc: “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 28/9/2018
giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Dương Thị N, sinh năm 1977
Đăng ký HKTT: Tổ dân phố C, phường N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.
Hiện trú tại: Thôn C, xã C, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
Bị Đơn: Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1959
Địa chỉ trú: Tổ dân phố C, phường N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc,
đơn xin xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 17 tháng 5 năm 2018, bản tự khai quá
trình làm việc cũng như tại phiên tòa nguyên đơn Dương Thị N trình bày:
Trước khi kết hôn với Ông Hoàng Văn H đã đời vợ, m 2007 vợ ông H
chết. Sau đó bà ông H đến với nhau, đăng kết hôn ngày 23/7/2013 tại
UBND Nam Viêm (nay phường Nam Viêm), thành phố Phúc n, tỉnh
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC
Bản án số: 10/2018/HNGĐ- ST
Ngày 26 - 10 - 2018
“V/v: tranh chấp Hôn nhân gia đình”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Vĩnh Phúc trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn về làm dâu sống
chung với ông H tại tổ dân phố C, phường N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Thời
gian đầu ông H chung sống hạnh phúc, đến năm 2016 thì phát sinh mâu
thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống,
không tiếng nói chung, không thông cảm hiểu cho nhau. Đặc biệt việc
ông H đã con riêng với người vợ trước, cuộc sống phát sinh rất nhiều mâu
thuẫn dẫn đến quan hệ vợ chồng rất căng thẳng. Vợ chồng cứ cãi nhau ông H
nói: “không được thì giải tán”, cuộc sống quá mệt mỏi căng thẳng nên
tháng 12/2017 đưa con về nhà bố mẹ đẻ tại xã C sinh sống cho đến nay. Trong
thời gian sống ly thân ông H đều không quan tâm đến nhau, không
hướng để đoàn tụ. Nay xác định nh cảm vợ chồng không n, đề nghị Tòa án
giải quyết cho được ly hôn ông H.
Về con chung: xác định vợ chồng 01 con chung Hoàng Thanh M,
sinh ngày 05/4/2014, hiện đang sinh sống cùng . Ly hôn quan điểm của đề
nghị Tòa án giải quyết cho trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu M,
không đề nghị ông H cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện đang bán hàng khô
chợ C, thành phố P thu nhập khoảng 5.000.000 đồng/tháng, ngoài ra bố mẹ đẻ
có nhà cửa đàng hoàng, tạo mọi điều kiện về nơi ăn chốn ở cho mẹ con bà.
Về quan hệ tài sản: không đề nghị Tòa án giải quyết.
Trong Biên bản lấy lời khai bị đơn Ông Hoàng Văn H bày: Ông xác nhận
quá trình kết hôn vợ chồng chung sống như bà N trình bày đúng. Trước khi
kết hôn với N ông đã có một đời vợ, năm 2007 vợ ông chết. Vợ ông chết để lại
04 người con, hiện các con của ông đã thành niên cuộc sống riêng. Theo
ông vợ chồng không mâu thuẫn lớn, tháng 12 năm 2017 N tự ý đưa con
về nhà mẹ đẻ thôn C, C sinh sống cho đến nay. Ông đã nhiều lần lên đón
N về nhưng không về nên ông đành chịu. Nay N đơn xin ly hôn ông
mong muốn vợ chồng về đoàn tụ, nhưng nếu N vẫn cương quyết xin ly hôn
ông đồng ý ly hôn bà N.
Về con chung: Ông H xác nhận vợ chồng 01 con chung cháu Hoàng
Thanh M, sinh 05/4/2014 hiện nay đang sinh sống cùng bà N. Ly hôn ông nhất trí
để N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu M, ông không phải
cấp dưỡng nuôi con chung.
Về quan hệ tài sản: Ông không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tòa án đã báo gọi ông ra làm việc nhiều lần, nhưng điều kiện ông bị ốm
đau hay mệt mỏi, nên không ra được. Ông đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
3
phiên tòa từ khi thụ vụ án đến thời điểm xét xử đã thực hiện các nhiệm vụ,
quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia ttụng: Nguyên đơn
đã thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70
Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện quyền nghĩa vụ
của mình theo quy định tại Điều 70 và 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mặc dù Tòa
án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp
kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ, các thông báo hòa giải ông H đều nhận
nhưng không ra Tòa làm việc.
Về nội dung vụ án: Viện kiểm t nhân n thành phố Phúc Yên đề nghị
Hội đồng xét xử áp dụng Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 Điều
83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26
Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí
a án; Xử:
1. Cho Bà Dương Thị N được ly hôn Ông Hoàng Văn H.
2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Thanh M, sinh ngày 05 tháng 4 năm
2014 cho Dương Thị N trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi
cháu M đủ 18 tuổi hoặc lao động tự túc được; ông H không phải cấp dưỡng nuôi
con chung cho N, ông H quyền đi lại thăm nom con chung không ai được
cản trở.
3. Về quan hệ tài sản: Giải quyết bằng một vụ án khác khi đương sự có đơn
đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 17 tháng 5 năm 2018 Bà Dương
Thị N đơn khởi kiện xin ly hôn Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1959; Địa chỉ
trú: Tổ dân phố C, phường N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. n Tòa án nhân dân
thành phố Phúc Yên thụ giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định tại
khoản 1 Điều 28; Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tống tụng dân
sự năm 2015.
[2] . Về tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ của
mình, bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
[3]. Về nội dung vụ án, đây vụ án Hôn nhân gia đình về ly hôn theo
quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
4
Xét đơn xin ly hôn của Dương Thị N với Ông Hoàng Văn H. Hội đồng
xét xử thấy: N ông H kết hôn trên sở hoàn toàn tự nguyện đăng
kết hôn ngày 23/7/2013 tại UBND phường Nam Viêm, thành phố Phúc Yên, tỉnh
Vĩnh Phúc, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.
Trong vụ án này N cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất
đồng quan điểm trong cuộc sống, không tiếng nói chung, không thông cảm
hiểu cho nhau vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau nên đưa con về nhà
mẹ đẻ từ tháng 12/2017, vợ chồng sống ly thân nhau cho đến nay. Ông H mặc
cho rằng vợ chồng không mâu thuẫn , nhưng ông cũng xác nhận vợ
chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 12 năm 2017 cho đến nay. Ông H N
đã sống ly thân nhau, mỗi người sinh sống một i đã được gần một năm, nhưng
đến nay vẫn chưa hằn gắn được chuyện tình cảm vợ chồng. Dương Thị N xin
ly hôn, Tòa án đã báo gọi ông H đến để hòa giải, nhưng ông H không hợp tác
không đến Tòa án làm việc. Quan điểm của ông H muốn vợ chồng đoàn t,
nhưng nếu N vẫn kiên quyết ly hôn ông cũng nhất trí. Từ đó cho thấy ông H
thực sự không quan tâm đến tâm tình cảm của N, tình cảm vợ chồng giữa
ông H N đã không còn, u thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn
nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nên cần chấp nhận cho
bà N ly hôn ông H là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về con chung: N ông H 01 con chung Hoàng Thanh M sinh
ngày 05/4/2014 hiện đang cùng N. Từ khi vợ chồng sống ly thân từ tháng
12/2017 đến nay cháu M vẫn sinh sống cùng N tại nhà mẹ đẻ có chỗ ở ổn định
N cũng thu nhập. n ly hôn cần tiếp tục giao cháu M cho N được
trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục bà không yêu cầu ông H
cấp dưỡng nuôi con là phù hợp cần chấp nhận.
Về quan hệ tài sản: Các đương sự không đề nghị, nên giải quyết bằng một
vụ án khác khi đương sự có đơn yêu cầu.
[4]. Về án phí thẩm: Dương Thị N phải nộp theo quy định của pháp
luật.
Vì các ltrên,
QUYẾT ĐỊNH:
[
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 Điều
83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26
Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí
a án; Xử
1. Cho Bà Dương Thị N được ly hôn Ông Hoàng Văn H.
5
2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Thanh M sinh ngày 05/4/2014 (hiện
đang ở cùng bà N) cho Bà Dương Thị N trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng
cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi hoặc lao động tự túc được. Ông Hoàng Văn H
không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bà N; ông H có quyền đi lại thăm nom
con chung không ai được cản trở.
3. Về quan hệ tài sản: Giải quyết bằng một vụ án khác khi đương sự có đơn
đề nghị.
4. Về án phí sơ thẩm:
Dương Thị N phải nộp 300.000đ tiền án phí thẩm, nhưng được trừ
vào số tiền tạm ứng án phí thẩm đó nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng)
theo biên lai số AA/2014/0003568 ngày 30 tháng 5 năm 20178 tại Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Phúc Yên; bà N đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình
sơ thẩm.
Nguyên đơn mặt quyền kháng o bản án trong hạn 15 ngày kể t
ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày nhận
được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát thành phố Phúc Yên;
- Thi hành án thành phố Phúc Yên;
- UBND phường N;
- Các đương sự;
- u HS, VP.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THM PHN - CH TA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Lƣu Thị Thúy
6
Tải về
Bản án số 10/2018/HNGĐ-ST Bản án số 10/2018/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất