Bản án số 09/2023/HNGĐ-ST ngày 18/01/2023 của TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 09/2023/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 09/2023/HNGĐ-ST ngày 18/01/2023 của TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Thanh Hà (TAND tỉnh Hải Dương)
Số hiệu: 09/2023/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/01/2023
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị Phạm thị Q ly hôn anh Nguyễn Anh V
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH HÀ
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 09/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 18-01-2022
V/v tranh chấp: Ly n, nuôi con
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH , TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Tuân.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Thành và bà Nguyễn Thị Bình.
- Thư phiên toà: Hoàng Thị Thuỳ Dương - Thư Toà án nhân dân
huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia
phiên toà: Ông Nguyễn Quang Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 18/01/2023 tại trụ sở TAND huyện Thanh , tỉnh Hải Dương xét xử
thẩm, công khai vụ án thụ số 311/2022/TLST-HNGĐ ngày 25/10/2022 về tranh
chấp: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s
36/2022/QĐXX-ST ngày 12/12/2022; Quyết định hoãn phiên toà s
22/2022/QĐST-HNGĐ ngày 30/12/2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Q sinh năm 1984; vắng mặt.
Địa ch: thôn P, C, huyn Thanh , tỉnh Hi Dương.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Anh V sinh năm 1985; vắng mặt.
Đa ch: thôn C, xã V, huyn Thanh Hà, tnh Hi Dương.
3. Những người làm chứng:
- Ông Nguyễn Hữu B sinh m 1950, bà Trần Thị H sinh năm 1951, đều vắng
mặt - địa chỉ: Tn C, V, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Anh Phạm Quốc H1 sinh năm 1990 - địa chỉ: Thôn P, C, huyện Thanh
Hà, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, các bên đương
sự, trình bày: Chị Q, anh V kết hôn trên sở tự nguyện tại UBND V, huyện
Thanh Hà, tỉnh Hải Dương vào ngày 04/5/2016. Theo chị Q xác định, vợ chồng
chung sống đến khoảng đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng; nguyên
nhân do không hợp tính nết, anh V chời bời, cờ bạc. Anh V xác định, vợ chồng
phát sinh mâu thuẫn nhưng chỉ là những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong đời sống thường
2
ngày, ngoài ra chị Q xử không đúng mực với anh gia đình, dẫn đến tình cảm
vợ chồng lạnh nhạt. Chị Q, anh V xác định khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn đã
được gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không thành, đã sống ly thân từ tháng
6/2022 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau, việc ai người đó làm. Nay chị
Q, anh V xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích n nhân không đạt
được. Chị Q đề nghị ly hôn anh V; anh V đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật.
Về con chung: Chị Q, anh V xác định hai con Nguyễn Hữu A sinh ngày
19/02/2018, Nguyễn Hữu K sinh ngày 19/01/2022, hiện cả hai con do anh V nuôi
dưỡng. Khi ly hôn, chị Q anh V quan điểm tiếp tục giao các con cho anh V
nuôi dưỡng. Anh V tự nguyện không yêu cầu chị Q phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
V tài sản, nợ, ng sức: ChQ, anh V kng đnghị Toà án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ông B, H, anh H1 (bố mẹ, em
của đương s), xác định: Mâu thuẫn giữa các bên đương sự đã phát sinh từ lâu, được
gia đình động viên khuyên bảo nng kng tnh không còn biện pháp nào đ cải
thiệnnh trạng hôn nn. Anh H1 (em chị Q) đề nghị giải quyết cho chị Q ly hôn anh
V; ông B, H đề nghị giải quyết việc chị Q xin ly hôn anh V theo pháp luật. Nếu các
n đương sự ly n, ông B, H, anh H1 đề nghị giao cháu A, cháu K cho anh V nuôi
ỡng.
Đại diện VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành, người tham gia tố tụng đã thực hiện
đúng quy định của pháp luật. Đề nghị áp dụng Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ
luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; 81; 82; 83 của
Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Xử, chị Q ly hôn anh V; giao các cháu A,
Khang cho anh V nuôi dưỡng, chị Q không phải cấp dưỡng tiền nuôi con; chị Q phải
chịu án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét căn cứ vào kết
quả tranh tụng tại phiên toà, HĐXX nhận định.
[1]. V th tc t tng: Anh V đã đưc Tòa án triu tp hp l, hp pháp
nhiu ln nhưng vng mt không có lý do; ch Q đ ngh gii quyết, xét x
vng mt. Căn cứ Điều 227, 228, 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX xét xử vụ
án vắng mặt những người tham gia tố tụng.
[2]. Về hôn nhân: Chị Q, anh V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn
tại UBND V, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương vào ngày 04/5/2016 được xác
định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai bên đương sự phát sinh mâu
thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, chị Q xử không đúng mực với anh
V, còn anh V ham chơi cờ bạc, giữa hai bên không còn tin tưởng, tôn trọng nhau,
3
hiện tại đã sống ly thân, việc ai người đó làm. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã
triệu tập anh V để làm việc và tham gia phiên a giải, mục đích tìm kiếm biện pháp
cải thiện tình trạng hôn nhân với chị Q, nhưng anh V không đến, tỏ thái độ thờ ơ,
bất cần không đưa ra được biện pháp nào đcải thiện tình trạng hôn nhân, điều
này chứng tỏ anh V không tha thiết, mong muốn tìm kiếm biện pháp để đoàn tụ hôn
nhân với chị Q; quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự đều thừa nhận tình cảm
vợ chồng không còn. Theo UBND V, người thân trong gia đình của đương sự,
đều xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa hai bên đương sự đã trầm trọng, đã sống ly
thân, không còn khả năng đoàn tụ hôn nhân. Như vậy, t những căn cứ như đã nêu
trên, đủ sở xác định tình trạng hôn nhân giữa các bên đương sự đã trầm
trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn
cứ Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Q
cũng như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xử, chị Q ly hôn anh V.
[3] Về con chung: Xác định chị Q, anh V có hai con Nguyễn Hữu A sinh
ngày 19/02/2018, Nguyễn Hữu K sinh ngày 19/01/2022, hiện tại do anh V nuôi
dưỡng. Khi ly hôn, chị Q, anh V có quan điểm, giao các con cho anh V tiếp tục nuôi
dưỡng; anh V không yêu cầu chị Q cấp dưỡng tiền nuôi con. Căn cứ Điều 81, 82, 83
của Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận nguyện vọng của các bên đương
sự, quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, giao các con chung cho anh V
nuôi dưỡng, anh V tự nguyện không yêu cầu chị Q cấp dưỡng tiền nuôi con; chị Q
có quyền thăm nom con.
[4]. Về tài sản, nợ, công sức: Chị Q, anh V không yêu cầu giải quyết, nên
HĐXX không xem xét giải quyết.
[5]. Về án phí: Chị Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản
1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân gia đình.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án, xử:
- Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Q ly hôn anh Nguyễn Anh V.
- Về con chung: Giao con Nguyễn Hữu A sinh ngày 19/02/2018, Nguyễn Hữu
K sinh ngày 19/01/2022 cho anh Nguyễn Anh V tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục, kể từ tháng 01/2023 cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh
V tự nguyện không yêu cầu chị Phạm Thị Q phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Chị Q
quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Phạm Thị Q phải chịu 300.000đ án phí dân sự thẩm ly
4
hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa
án số AA/2021/0000594 ngày 24/10/2022 của Chi cục Thi nh án dân sự huyện
Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án trong
hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện Thanh Hà;
- Chi cục THADS huyện Thanh Hà;
- UBND xã V, huyện Thanh Hà;
- Lưu hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Mạnh Tuân
Tải về
Bản án số 09/2023/HNGĐ-ST Bản án số 09/2023/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất