Bản án số 08/2026/HC-ST ngày 12/05/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 08/2026/HC-ST

Tên Bản án: Bản án số 08/2026/HC-ST ngày 12/05/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 16 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 08/2026/HC-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/05/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyên Văn B - Ủy ban phường Đông H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 08/2026/HC-ST Bản án số 08/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 08/2026/HC-ST Bản án số 08/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 08/2026/HC-ST
Ngày 12/5/2026
V/v “khiếu kiện quyết định cưỡng chế thu hồi
đất và quyết định giải quyết khiếu nại trong lĩnh
vực quản lý đất đai”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phn Hi đng xét x sơ thẩm gm có:
Thm phán - Ch ta phiên tòa: Bà Nguyn Th Kim Hnh.
Các Hi thm nhân dân:1. Ông Phan Văn Cưng;
2. Bà Trn Ngọc Phương.
- Thư phiên tòa: Chu Tường Vy, Thư Tòa án nhân dân Khu vực 16- Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân n Khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên toà: Bà Mai Thị Năm, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2026 tại Tòa án nhân dân Khu vực 16- Thành phố Hồ Chí
Minh t x sơ thm công khai vụ án Hành chính thụ số 29/2026/TLST-HC ngày 26
tháng 12 năm 2026 v việc “Khiếu kin quyết định hành chính v ng chế thu hi đất”
theo Quyết định đưa vụ án ra xét x s 16/2026/QĐXXST-HC ngày 24/4/2026, gia các
đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1963; địa chỉ: 1 khu phố T, phường
Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Ông Nguyễn Đức V, sinh năm 1963;
địa chỉ: T5 A V, khu phố F, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
- Người bị kiện: Chủ tịch UBND phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: Số
A Quốc lộ A, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Văn Y, sinh năm 1979,
chức vụ: Phó Chủ tịch UBND phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh. đơn xin giải quyết
vắng mặt.
NI DUNG V ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện đề ngày 12/10/2025, lời khai trong quá trình tố tụng tại
phiên tòa, người khởi kiện ông Nguyễn Văn B do ông Nguyễn Đình V1 đại diện trình bày:
Trước khi ông Nguyễn Văn B nhận được Quyết định số: 1237/QĐ-UBND của Chủ
tịch Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường Đ, thành phố Hồ Chí
2
Minh) về việc cưỡng chế thu hồi đất. Ông Nguyễn Văn B chưa nhận được bất kỳ một Quyết
định thu hồi đất nào của UBND thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Dự án xây dựng Trường Đại học Quốc gia thành phố H được Chính phủ phê duyệt
tại Quyết định số 72/TTg ngày 27/1/1995. Đến ngày 11/12/1997, Chính phủ ban hành
Quyết định số 1069/1997/QĐ-TTg về việc phê duyệt quy hoạch chung Đại học Quốc gia
thành phố H. Ngày 10/01/1998, Thủ ớng Chính phủ ban hành Quyết định s21/QĐ-TTg
về việc thu hồi 8,85 ha tại hai xã Đ và xã B (nay là phường Đ và phường B, thành phố H
Chí Minh) và giao cho Trường Đại học Quốc gia thành phố H toàn bộ diện tích đất trên để
xây dựng đường vành đai bao quanh T. Vị trí ranh giới khu đất xác định theo các tờ bản đồ
địa chính (trích đo) từ số 1 đến số 23 của tuyến vành đai đường B thành phố Hồ Chí Minh,
tỷ lệ 1/500 do Sở Địa chính tỉnh B xác lập ngày 16/01/1997. Ngày 15/09/1998 Thủ tướng
Chính phủ ban hành Quyết định số 836/QĐ-TTg, về việc thu hồi 305,13 ha đất tại Đ,
huyện D, tỉnh nh Dương (nay là phường Đ, thành phố Hồ Chí Minh) và giao cho trường
Đại học Quốc Gia thành phố H để y dựng T đúng quy hoạch dự án đầu được duyệt.
Vị trí, ranh giới khu đất xác định theo 7 tờ bản đồ tỷ lệ 1/2000 do Sở Địa chính tỉnh Bình
Dương xác lập.
Tại Quyết định cưỡng chế số 1237/QĐ-UBND ghi: Căn cứ Quyết định 4653/QĐ-
CT, ngày: 13/11/2003 của UBND tỉnh B về việc thu hồi đất của các tổ chức, hộ gia đình,
nhân tại Đ B. Ông B nhận thấy việc UBND tỉnh B (Cũ), nay Ủy ban nhân
dân thành phố H, ban hành Quyết định 4653/QĐ-UB không đúng với Pháp luật. Cụ thể
như sau: Chủ tịch UBND tỉnh B đã căn cứ vào Quyết định s154/2001/QĐ-TTg ngày
10/10/2001 của Thủ tướng C, phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung Đại học Quốc
gia thành phố H để ban hành Quyết định thu hồi đất. Tại Điều 1 của Quyết định 4653/QĐ-
UB ghi: Thu hồi khu đất diện tích 283,852 ha của các tổ chức, hộ gia đình nhân
đang quản lý sử dụng (Gồm 2.522 thửa đất thuộc 4 tờ bản đồ địa chính chính quy xã Đ
B, danh sách kèm theo) thuộc ranh giới khu quy hoạch Đại học thành phố Hồ Chí
Minh theo bản đồ quy hoạch chi tiết xác nhận của Giám đốc Đại học Quốc gia thành
phố H, do Công ty TNHH X thực hiện tháng 02/2003, đã được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt quy hoạch chi tiết 1/2000 tại Quyết định số 660/TTg, ngày 17/6/2003. (Quyết định
660/QĐ-TTg quyết định chi tiết quy hoạch chung cho Trường Đại học Quốc gia thành
phố H, không phải quyết định thu hồi đất). Do vậy ông B nhận thấy Chtịch Ủy ban
nhân dân tỉnh B đã sử dụng bản đồ giả của Công ty TNHH X thực hiện tháng 02/2003, do
Giám đốc Trường Đại học Quốc gia thành phố H xác nhận, để ban hành Quyết định
4653/QĐ-UB, nhằm chiếm dụng 283.852 ha đất ngoài ranh giới Chính phủ đã giao theo
Quyết định 836/QĐ-TTg. Tại Khoản 2, Điều 15 của Luật đất đai năm 1993 đã ghi rõ: Uỷ
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo tổ chức việc lập bản đồ địa
chính ở địa phương mình. Điều 28 quyết Luật đất đai năm 1993 cũng quy định rõ: quan
Nhà nước có thẩm quyền định giao đất nào thì quyền thu hồi đất đó. Việc thu hồi đất để
chuyển sang mục đích khác phải theo đúng quy hoạch kế hoạch đã được quan Nhà
nước thẩm quyền xét duyệt. Vi phạm Điều 109 Nghị định 102/2024/NĐ-CP, ngày
30/07/2024 của Chính phủ, quy định chi tiết một số Điều của Luật đất đai.
Nhận thấy việc Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương (C), nay là phường
Đ, thành phố HChí Minh, ban hành Quyết định số: 1237/QĐ-UBND, ngày 25/04/2025
của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương, về việc ỡng chế thu hồi
đất, theo Quyết định 4653/QĐ- CT ngày: 13/11/2003 của Chủ tịch UBND tỉnh B là không
đúng với các quy định của Pháp luật.
3
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ông Nguyễn Văn B yêu cầu:
- Tòa án nhân dân Khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh hủy Quyết định 1237/-
UBND ngày 25/4/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay
Ủy ban nhân dân phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh) về việc cưỡng chế thu hồi đất
* Tại Văn bản ngày 26/01/2026, lời khai trong quá trình tố tụng, người bị kiện Chủ
tịch UBND phường Đ- Thành phố Hồ Chí Minh do ông Nguyễn Văn Y đại diện trình bày:
I. Căn cứ pháp lý để thực hiện dự án: y dựng Đại học Quốc gia Thành phố
H.
Căn cứ Quyết định số 660/QĐ-TTg ngày 17/06/2003 của Thủ tướng Chính phủ về
phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/2000 Đại học Quốc gia Thành phố H;
Căn cứ Quyết định số 4653/QĐ-CT ngày 13/11/2003 của UBND tỉnh B về việc thu
hồi đất của các tổ chức, hộ gia đình nhân tại Đ, B (nay là B), huyện D, tỉnh
Bình Dương, giao cho Đại học Quốc gia Thành phố H để tiến hành bồi thường, giải phóng
mặt bằng theo quy hoạch chi tiết;
Căn cứ Quyết định số 1969/QĐ-CT ngày 02/06/2003 của UBND tỉnh B về việc ban
hành quy định đơn giá bồi thường thiệt hại về đất và tài sản trên đất đối với công trình Đại
học Quốc gia Thành phố H trên địa bàn Đ B (nay B), huyện D, tỉnh Bình
Dương;
Căn cứ Quyết định số 6329/QĐ-CT ngày 12/08/2004 của UBND tỉnh B về việc điều
chỉnh, bổ sung chính sách bồi thường đối với công trình Đại học Quốc gia trên địa bàn tỉnh
Bình Dương;
Căn cứ Quyết định số 9020/QĐ-CT ngày 08/12/2004 của UBND tỉnh B về việc điều
chỉnh đơn giá bồi thường chính sách tái định đối với công trình Đại học Q trên địa
bàn tỉnh Bình Dương.
II. Pháp lý đất đai
Ông Nguyễn Văn B được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số 2064 QSDĐ/CQDH ngày 30/12/1999, với diện tích 6.778m² đất nông nghiệp (thuộc
thửa 1050, tờ bản đồ số 1 Quyết định số 4653/QĐ-CT ngày 13/11/2003 của Chủ tịch
UBND tỉnh B).
III. Về hồ sơ bồi thường, hỗ trợ
Theo biên bản kiểm , áp giá cùng các chứng từ tài liệu thu thập được (Biên bản
kiểm số 245/KKĐB ngày 17/9/2004, Biên bản áp giá số 246TH/QLDA-DBG ngày
26/4/2005), thì ông B giải tỏa trắng diện tích 6.778m² đất nông nghiệp.
Căn cứ chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định công trình: Xây dựng Đại học
Q, Hội đồng bồi thường đã áp giá bồi thường đất, tài sản trên đất với tổng số tiền
1.016.700.000 đồng, trong đó:
+ Bồi thường đất nông nghiệp: 6.778m² x 150.000đ/ m² = 1.016.700.000 đồng.
+ Chính sách tái định cư: 03 suất đất tái định (do diện tích 6.778m² đất ng
nghiệp bị giải tỏa). Ông B đã nhận nền tái định cư ngoài thực địa ngày 28/6/2019.
Ngày 01/11/2005, Ông B đã nhận đủ số tiền bồi thường 1.016.700.000 đồng, đồng
thời ông B đã nhận nền tái định cư ngoài thực địa ngày 28/6/2019.
4
Ngày 18/5/2023, UBND thành phố D ban hành Thông báo số 345/TB-UBND về
việc yêu cầu ông Nguyễn Văn B bàn giao mặt bằng thi công công trình thuộc dự án Xây
dựng Đại học Q (biên bản giao Thông báo ngày 31/7/2023). Tuy nhiên, đến nay ông
Nguyễn Văn B vẫn chưa bàn giao mặt bằng.
Ngày 16/4/2024, Tổ chuyên viên tiến hành kiểm tra hiện trạng ghi nhận ông Nguyễn
Văn B không xác định được ranh đất không cho phép ai xây dựng, trồng trọt trên đất
(có ghi nhận tại biên bản kiểm tra hiện trạng). Không đồng ý bàn giao mặt bằng, khi nào
công trình làm đến thì sẽ bàn giao.
Ngày 19/6/2024, Trung tâm Phát triển quỹ đất chủ trì phối hợp với UBMTTQ
phường, UBND phường Đ, các quan đoàn thể, Ban điều hành khu phố T Ban Q.HCM
mời ông Nguyễn Văn B làm việc liên quan đến thời hạn bàn giao mặt bằng chậm nhất ngày
01/8/2024. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn B vẫn chưa bàn giao mặt bằng.
Ngày 20/02/2025, UBND phường Đ phối hợp với UB.MTTQVN phường các
đơn vị có liên quan tổ chức buổi vận động ông Nguyễn Văn B bàn giao mặt bằng cho Đại
học Q, thời gian bàn giao mặt bằng đến hết ngày 01/3/2025, tại buổi vận động ông Nguyễn
Văn B không đồng ý bàn giao do hiện đang có đơn khiếu nại, tố cáo UBND tỉnh B, đoàn
công tác của Thanh tra chính phủ, UBND thành phố D các văn bản liên quan đến giải
quyết khiếu nại của các hộ n đến các Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C1 và Viện Kiểm sát
nhân dân tối cao; khi nào được giải quyết thỏa đáng mới bàn giao mặt bằng (báo cáo số
47/BC-UBND ngày 26/02/2025 của UBND phường Đ).
Ngày 25/4/2025, UBND thành phố D ban hành Quyết định số 1237/QĐ-UBND
về việc ỡng chế thu hồi đất đối với ông Nguyễn Văn B (biên bản giao nhận ngày
28/4/2025 niêm yết tại UBND phường Đ, khu phố T - biên bản niêm yết ngày
29/4/2025).
Ngày 08/5/2025, UBND thành phố D chủ trì phối hợp với các quan chuyên môn,
các ban, ngành, đoàn thể của UBND thành phố, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố D,
Đại diện ĐHQG-HCM tổ chức buổi gặp gỡ, vận động ông Nguyễn Văn B bàn giao mặt
bằng (biên bản họp vận động ngày 08/5/2025)
Đến nay, ông Nguyễn Văn B vẫn chưa đồng ý bàn giao mặt bằng.
IV. Kết quả giải quyết kiến nghị, khiếu nại
Lần 1: Năm 2017, ông B có đơn khiếu nại yêu cầu không đồng ý bốc thăm nhận lô
nền tái định cư
Kết quả giải quyết: Ngày 09/5/2018, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có
công văn số 1099/UBND-GPMB về việc trả lời đơn ông Nguyễn Văn B với nội dung không
có cơ sở xem xét giải quyết.
Lần 2: Năm 2020, ông B cùng 07 hộ dân khác có đơn kiến nghị tại UBND tỉnh B:
Yêu cầu ban hành Quyết định thu hồi đất riêng cho từng nhân, áp giá bồi thường theo
pháp luật hiện hành, hỗ trợ 50% đất liền kề, hỗ trợ ổn định đời sống, chuyển đổi nghề
nghiệp, ổn định sản xuất, áp giả bổ sung tài sản trên đất theo Quyết định 332, hỗ trợ tiền
chênh lệch 2.000.000 đồng/m² do đã nhận tiền thay đất tái định cư trước đây, hỗ trợ
15.000.000 đồng/suất tái định theo Quyết định 1969, hỗ trợ tạm cư, hỗ trợ đất nông
nghiệp liền kề đất ở, cấp thêm 1 suất tái định cư do gia đình đông nhân khẩu.
5
Kết quả giải quyết: Ngày 07/8/2020, UBND tỉnh B công văn số 3779/UBND-
BTCD về việc trả lời kiến nghị của ông Nguyễn Văn B và các hộ dân, nội dung: các khiếu
nại trên đã được Chủ tịch UBND các cấp giải quyết theo đúng quy định pháp luật.
Lần 3: Năm 2025, ông B có đơn gửi Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đề
nghị được trích lục các văn bản, giấy tờ liên quan đến hồ sơ bổi thường của ông B thuộc
dự án xây dựng Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí
Kết quả giải quyết: Ngày 05/11/2025, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ tái định
có Công văn số 951/HDBT về việc đồng ý cung cấp bản phô các giấy tờ liên quan đến
hồ sơ cho ông B.
V. Quan điểm của Chủ tịch UBND phường Đ đối với các yêu cầu của ông
Nguyễn Văn B về việc hủy Quyết định số 1237/QĐ-UBND ngày 25/4/2025 của UBND
thành phố D (trước sáp nhập) về việc cưỡng chế thu hồi đất.
Căn cứ tại Điều 87 Luật Đất đai năm 2024 quy định về Trình tự, thủ tục bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội
vì lợi ích quốc gia, công cộng "7. Trường hợp người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản gắn
liền với đất, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan không bàn giao đất cho đơn vị, tổ
chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tải định cư thì thực hiện như sau:
a) Ủy ban nhân dân cấp xã chủ trì, phối hợp với Ủy ban M cấp xã nơi có đất thu hồi
đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bởi thường, hỗ trợ, tái định vận động, thuyết phục
để người đất thu hồi, chủ sở hữu i sản gắn liền với đất, người quyền lợi nghĩa
vụ liên quan bản giao đất cho đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư.
b) Việc tổ chức vận động, thuyết phục được tiến hành trong thời gian 10 ngày
phải được thể hiện bằng văn bản. Quả thời hạn 10 ngày kể từ ngày kết thúc vận động,
thuyết phục mà người có đất thu hồi vẫn không chấp hành việc bàn giao đất cho đơn vị, tổ
chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
huyện ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất tổ chức thực hiện việc cưỡng chế theo
quy định tại Điều 89 của Luật này."
Tại Điều 40, Nghị định 102/2024/NĐ-CP của Chính phủ về hướng dẫn thi hành
Luật đất đai năm 2024 quy định về khiếu nại quyết định thu hồi đất, quyết định cưỡng chế
quy định “1. Người có đất thu hồi, tổ chức, cá nhân liên quan quyền khiếu nại về việc
kiểm đếm bắt buộc, cưỡng chế thực hiện kiểm đếm bắt buộc, thu hồi đất, cưỡng chế thu
hồi đất theo quy định của pháp luật về khiếu nại.
Trong khi chưa quyết định giải quyết khiếu nại thì vẫn phải tiếp tục thực hiện
quyết định kiểm đếm bắt buộc, cưỡng chế thực hiện kiểm đếm bắt buộc, quyết định thu hồi
đất, quyết định cưỡng chế thu hồi đất. Trường hợp quan nhà nước thẩm quyền giải
quyết khiếu nại kết luận việc thu hồi đất trải pháp thì phải dùng cưỡng chế nếu việc
cưỡng chế chưa hoàn thành, hủy bỏ quyết địn thu hồi đất đã ban hành bồi thường thiệt
hại do quyết định hành chính gây ra (nếu có).
2. Đối với trường hợp việc thu hồi đất có liên quan đến quyền và lợi ích của tổ chức,
nhân khác trong việc sử dụng đất thì quan nhà nước thẩm quyền vẫn tiến hành
kiểm đểm bắt buộc, ỡng chế thực hiện kiểm đếm bắt buộc, thu hồi đất, cưỡng chế thực
hiện quyết định thu hồi đất theo quy định mà không phải chờ cho đến khi giải quyết xong
6
quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc sửdụng đất giữa người đất thu hồi và tổ chức,
nhân đó theo quy định của pháp luật có liên quan".
Như vậy, căn cứ các quy định trên UBND thành phố D (trước sáp nhập) ban hành
Quyết định số 1237/QĐ-UBND ngày 25/4/2025 về việc cưỡng chế thu hồi đất là phù hợp
theo trình tự quy định.
Đến thời điểm hiện tại, các quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghđối với ông
Nguyễn Văn B liên quan đến việc thu hồi đất vẫn còn giá trpháp lý, chưa quyết định
hay văn bản nào kết luận việc thu hồi đất đối với ông Nguyễn Văn B là trái luật.
UBND phường Đ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố H không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B về việc yêu cầu hủy Quyết định ỡng chế
thu hồi đất số 1237/QĐ-UBND ngày 25/4/2025 của Chủ tịch UBND thành phố D về việc
cưỡng chế thu hồi đất.
* Ý kiến của đại din Vin kim sát nhân dân Khu vc 16- Thành ph H Chí Minh
tham gia phiên tòa:
- V hình thức: Tòa án đã thực hiện đúng các quy định pháp lut t tnghành chính
t khi th lý đến khi xét x. Ti phiên tòa sơ thm cho đến trưc khingh án, Hi đng xét
x đã tiến hành phiên tòa đúng trình t, th tc theoquy định ca Lut T tng hành chính;
các đương sự đã thực hiện đầy đ cácquyền nghĩa vụ ca mình do Lut T tng hành
chính quy đnh.
- V ni dung: Xét yêu cu khi kin ca oomg Nguyễn Văn B là không có n cứ
chp nhn. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết
NHN ĐNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cu các tài liu trong h vụ án đã được thm tra tiphiên a
và căn cứ vào kết qu tranh tng ti phiên tòa, ý kiến ca đi din Vin Kim sát tham gia
phiên tòa, Hi đng xét x nhận định:
[1] V th tc t tng:
[1.1] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 25/4/2025 Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành ph
D, tỉnh Bình Dương (nay phường Đ, thành phố Hồ Chí Minh) ban hành Quyết định số:
1237/QĐ-UBND, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay
phường Đ, thành phố Hồ Chí Minh) về việc cưỡng chế thu hồi đất và Quyết định này cho
ông B ngày 28/4/2025 (theo biên bản giao quyết định cưỡng chế thu hồi đất). Ngày
13/10/2025, Tòa án nhân dân Khu vực 16 Thành phố Hồ Chí Minh nhận đơn khởi kiện
của ông B. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính,
xác định còn thời hiệu khởi kiện.
[1.2] Về đối tượng khởi kiện: Ông Nguyễn Văn B khởi kiện đối với Quyết định số:
1237/QĐ-UBND ngày 25/4/2025, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình
Dương (nay là phường Đ, thành phố Hồ Chí Minh) về việc cưỡng chế thu hồi đất. Đây
văn bản do Chủ tịch UBND ban hành trong lĩnh vực quản lý đất đai được áp dụng đối với
nhân ông Nguyễn Văn B. Văn bản này làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền
lợi của ông Nguyễn Văn B đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính theo quy định tại
Điều 30 Luật Tố tụng Hành chính.
[1.3] V xác định quan h pháp lut thm quyn gii quyết v án: Ông Nguyn
Văn B khiếu kin Quyết định số 1237/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành
7
phố D, tỉnh Bình Dương (nay phường Đ, thành phố Hồ Chí Minh) về việc cưỡng chế thu
hồi đất, thuc thm quyn gii quyết ca Tòa án nhân dân Khu vc 16 - Thành ph H Chí
Minh theo quy đnh ti khoản 1 Điều 30 Lut T tng hành chính năm 2015, sửa đổi bổ
sung năm 2019, 2024, 2025 và Điều 2 Lut s 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 ca Quc
Hi.
[1.3] Về sự mặt của các đương sự tại phiên tòa: Người đại diện hợp pháp của
người bị kiện vắng mặt văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1
Điều 157, khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét
xử vắng mặt người bị kiện.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cu khi kin ca ông Nguyễn Văn B đối vi Quyết định số: 1237/QĐ-
UBND, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay phường Đ,
thành phố Hồ Chí Minh) về việc cưỡng chế thu hồi đất thấy rằng:
[2.2] Về thẩm quyền ban hành quyết định hành chính bị khởi kiện:
Căn cứ Điều 23 Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 65/2025/QH15 ngày
19/02/2025 Điều 69, khoản 3 Điều 71 Luật Đất đai năm 2013 việc Chủ tịch UBND
thành phố D ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất căn cứ, phù hợp về thẩm
quyền và hình thức văn bản.
[2.3] Về trình tự, thủ tục và căn cứ ban hành quyết định hành chính bị khởi kiện:
[2.3.1]. Quyết định số 4653/QĐ-CT ngày 13/11/2003 của Chủ tịch UBND tỉnh B về
việc thu hồi đất của các tổ chức, hộ gia đình cá nhân tại xã Đ, xã B, huyện D; giao cho Đại
học Quốc gia để tiến hành bồi thường giải phóng mặt bằng theo quy hoạch chi tiết là nhằm
thực hiện Dự án xây dựng Đại học Q đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đây là Dự
án nhằm phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng nên việc thu hồi đất phù hợp với quy
định tại Điều 23 Luật Đất đai m 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2001). Quyết
định số 4653/QĐ-CT không ghi tên người phải thi hành số thửa đất, số tờ bản đồ theo
Danh sách các thửa đất thu hồi cùng với số thửa số tờ bản đồ thể hiện trên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Văn B, nhưng căn cứ vào bản đồ quy hoạch
chi tiết tbản đồ địa chính tỷ lệ 1/2000 do Trung m Dịch vụ Địa chính lập ngày
08/3/1995 thì toàn bộ các thửa đất số: 629 tờ bản đồ số 4 với tổng diện tích 6778m
2
thuộc
xã Đ, huyện D (nay phường Đ, thành phố D), tỉnh Bình Dương mà ông Nguyễn Văn B
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 2064/QDngày 30/12/1999
thuộc phạm vi thu hồi giải tỏa để làm Dự án ban hành kèm theo Quyết định số 4653/QĐ-
CT ngày 13/11/2003 của Chủ tịch UBND tỉnh B. Có sự khác nhau của số thửa theo Quyết
định số 4653 số thửa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Văn
B là do: Quyết định số 4653/QĐ-CT ngày 13/11/2003 của Chủ tịch UBND tỉnh B về việc
thu hồi đất của các tổ chức, hộ gia đình nhân tại Đ B, huyện D, tỉnh Bình Dương
(nay là phường Đ, TP .); giao cho Đại học Q để tiến hành bồi thường giải phóng mặt bằng
theo ranh giới bản đồ quy hoạch chi tiết 04 tờ bản đồ địa chính tỷ lệ 1/2000 do Trung
tâm Dịch vụ Địa chính tỉnh S xác lập ngày 08/3/1995 Sở Địa chính tỉnh Sông xác
nhận ngày 09/12/1995 (04 tờ bản đồ địa chính được scan vẽ chỉnh bổ sung đánh
lại số tờ, số thửa để phục vụ riêng cho công tác thu hồi đất thực hiện dự án Xây dựng Đại
học Quốc gia Thành phố H). Số thửa đất, số tờ bản đồ thể hiện trên Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số 2064/QDSĐ cấp ngày 30/12/1999 do UBND huyện D cấp GCN QSDĐ cho
ông Nguyễn Văn B được lấy theo hệ thống bản đồ địa chính thành lập năm 1995. Do việc
8
đánh số thứ tự thửa đất, số tờ bản đồ ở 2 loại tài liệu bản đồ nêu trên khác nhau dẫn đến số
thửa đất, số tờ bản đồ thể hiện trên danh sách kèm theo Quyết định số 4653/QĐ-CT và số
thửa đất, số tờ bản đồ thể hiện trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sự khác nhau.
Hơn nữa, quá trình thực hiện Dự án, Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng đã nhiều
lần làm việc thông báo cho ông Nguyễn Văn B biết việc thu hồi đất bàn giao mặt
bằng.
Đồng thời, Theo Báo cáo tiến độ công tác giải quyết tồn đọng dự án xây dựng Đại
học Quốc Gia Thành phố H dự án tái định Đại học Quốc gia Thành phố H ngày
23/09/2014 của Tổ giải quyết tồn động theo Quyết định số 2642 thì đối với diện tích đất
của ông Nguyễn Văn B thu hồi không thuộc một trong 14 trường hợp thu hồi đất ngoài
ranh giải tỏa không thuộc một trong 57 hồ sơ thu hồi đất không có trong danh sách quyết
định thu hồi đất số Quyết định số 4653/QĐ-CT ngày 13/11/2003 của Chủ tịch UBND tỉnh
B. vậy căn cứ xác định diện tích thửa đất số 629, tờ bản đồ số 4 với diện tích 6.778m
2
thuộc Đ, huyện T (nay phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh ông Nguyễn Văn B
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 2064 QDSDD/CQ-ĐH ngày
30/12/1999 thuộc phạm vi thu hồi giải tỏa để làm Dự án xây dựng Đại học Quốc gia
Thành phố H.
[2.3.4]. Đồng thời, Theo Báo cáo tiến độ công tác giải quyết tồn đọng dự án y dựng
Đại học Quốc Gia Thành phố H và dự án tái định cư Đại học Quốc gia Thành phố H ngày
23/9/2014 của Tổ giải quyết tồn động theo Quyết định số 2642 thì đối với diện tích đất của
ông Nguyễn Văn B thu hồi không thuộc một trong 14 trường hợp thu hồi đất ngoài ranh
giải tỏa không thuộc một trong 57 hồ thu hồi đất không trong danh sách quyết
định thu hồi đất số Quyết định số 4653/QĐ-CT ngày 13/11/2003 của Chủ tịch UBND tỉnh
B. vậy có căn cứ xác định diện tích đất thuộc thửa đất số: 629 tờ bản đồ s4 (tương ứng
theo thứ tự các thửa đất số 1050 tbản đồ số I theo Quyết định 4653/QĐ-UBND) với
tổng diện tích 6778m
2
thuộc Đ, huyện D (nay phường Đ, thành phố D), tỉnh Bình
Dươngông Nguyễn Văn B đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ
2064 QDSDD/CQ-ĐH ngày 30/12/1999 thuộc phạm vi thu hồi và giải tỏa để m Dự án
xây dựng Đại học Quốc gia Thành phố H.
[2.3.2] Đối với ý kiến của đại diện hợp pháp của người khởi kiện cho rằng ông B
không nhận được bất cquyết định nào liên quan việc thu hồi diện tích đất nêu trên của
ông B không chính xác bởi lẽ: Tại biên bản lấy lời khai đối với đại diện theo ủy quyền của
người khởi kiện và các biên bản giao nhận, các quyết định giải quyết khiếu nại đối với ông
B xác định ông B đã nhận được thông báo thu hồi đất, đã tham gia kiểm kê xác định đất bị
thu hồi, tài sản gắn liền trên đất, đã nhận tiền bồi thường về quyền sử dụng đất, tài sản gắn
liền trên đất, đã nhận các suất đất tái định cư; trong suốt quá trình từ khi quyết định được
công bố cho đến khi ban hành quyết định ỡng chế thu hồi đất gần 20 năm, ông B chỉ
khiếu nại liên quan đến những vấn đề như: giá cả đền bù về đất, tái định cư, hỗ trợ... không
khiếu nại về việc các thửa đất bị thu hồi nằm ngoài ranh dự án, cho đến khi Chủ tịch UBND
phường Đ ban hành Quyết định cưỡng chế mới khởi kiện cho rằng không thuộc diện tích
đất bị thu hồi. Đồng thời người khởi kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng
minh các thửa đất bị thu hồi nằm ngoài ranh quy hoạch.
[2.3.3] Quá trình thực hiện Dự án, do ông B không hợp tác tự nguyện bàn giao mặt
bằng để thực hiện dự án, UBND thị xã (nay là thành phố ) đã có nhiều văn bản thông báo
cho ông B nhận tiền và bàn giao mặt bằng đthi công công trình Dự án, nhưng ông B
không thực hiện. Tổ ng tác do Trung tâm phát triển quỹ đất thị xã D chủ trì phối hợp với
9
các quan chức năng M của phường Đ cũng đã mời các hộ dân chưa bàn giao mặt
bằng (trong đó ông B) để làm việc, vận động thuyết phục nhưng ông B không tham
gia phiên làm việc. Ngày 16/11/2021, Phòng Tài nguyên Môi trường thành phố D đã
lập Tờ trình số 429/TTr-PTNMT về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với 18 trường hợp chưa
bàn giao đất, trong đó ông B phù hợp hướng dẫn tại khoản 2 Điều 11 Thông số
30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ T1 quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất,
chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất. Ngày 18/5/2023, UBND thành phố D ban hành
Thông báo số 345/TB-UBND về yêu cầu ông B bàn giao mặt bằng thi công công trình
thuôc dự án Xây dựng Đại học Quốc gia Thành Phố H. Việc ông B không tự nguyện bàn
giao đất là thuộc trường hợp phải bị cưỡng chế thu hồi đất theo quy định tại khoản 2 Điều
71 (Điều 87 Luật Đất đai năm 2025) và phù hợp tại Điều 40 Nghị định 102/2024/NĐ-CP
ngày 30/7/2024 của Chính Phủ. vậy Quyết định số 1237/QĐ-UBND của Chủ tịch Ủy
ban nhân dân thành phD, tỉnh Bình Dương (nay phường Đ, thành phố Hồ Chí Minh)
về việc cưỡng chế thu hồi đất đối với ông Nguyễn Văn B căn cứ pháp luật đúng
thẩm quyền theo phân tích nêu trên.
[3] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí
Minh tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của
ông Nguyễn Văn B phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[4] Về án phí: Ông Nguyễn Văn B là người cao tuổi nên được miễn tạm ứng án phí
hành chính sơ thẩm theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Chủ tịch
UBND phường Đ không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 30, 116, Điều 157, Điều 158 Điều 193 Luật Tố tụng hành
chính năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2019, 2024, 2025;
Căn cứ Điều 23 Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 65/2025/QH15 ngày
19/02/2025 của Quốc Hội;
Căn cứ Điều 2 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội;
Căn cứ Điều 69 Điều 71 (Điều 87 Luật Đất đai năm 2024) Điều 23 Luật Đất
đai năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2001);
Căn cứ Điều 11 Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ T1;
Căn cứ Điều 40 Nghị định 102/2024/NĐ-CP ngày 30/7/2024 của Chính Phủ;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B đối với Chủ tịch UBND phường Đ,
Thành phố Hồ Chí Minh về việc yêu cầu hủy quyết định hành chính sau:
- Quyết định số: 1237/QĐ-UBND ngày 25/4/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân
thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay phường Đ, thành phố Hồ Chí Minh) về việc ỡng
chế thu hồi đất.
10
2. Về án phí hành chính thẩm: Ông Nguyễn Văn B người cao tuổi nên được
miễn tạm ứng án phí hành chính thẩm theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mt có quyn kháng cáo bn án trong thi hn
15 (mười lăm) ngày k t ngày tuyên án. Đương s vng mt được quyn kháng cáo bn
án trong thi hạn 15 (mười lăm) ngày, k t ngày nhận đưc bn án hoc niêm yết./.
Nơi nhn:
- Đương s;
- VKSND Khu vc 16- Thành ph H Chí Minh;
- Phòng THADS Khu vc 16- Thành ph H Chí
Minh;
- TAND Thành ph H Chí Minh;
- Lưu: H sơ v án, VP.
TM. HI ĐỒNG XÉT X SƠ THM
THM PHÁN -CH TA PHIÊN TÒA
Nguyn Th Kim Hnh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 08/2026/HC-ST Bản án số 08/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 08/2026/HC-ST Bản án số 08/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất