Bản án số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 13/03/2024 của TAND huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 08/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 08/2024/HNGĐ-ST ngày 13/03/2024 của TAND huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Buôn Đôn (TAND tỉnh Đắk Lắk)
Số hiệu: 08/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/03/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: chị Lý Thị Tr và anh Đoàn Văn C chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi nhau, nguyên nhân do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm, cuộc sống vợ chồng gặp rất nhiều áp lực.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN BUÔN ĐÔN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH ĐĂKLĂK
Bản án số: 03/2024/HN-ST.
Ngày 26 tháng 01 năm 2024.
V/v:“Tranh chấp Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BUÔN ĐÔN, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Vinh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nông Thị Hảo, ông Nguyễn Đình Phượng.
- Thư ghi biên bản phiên toà: Ông Đinh Ngọc Lương Thư Tòa án nhân
dân huyện Buôn Đôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn tham gia phiên tòa: Ông
Trần Văn Tuấn Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Buôn Đôn m
phiên toà xét xử thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ số:
216/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2023 vviệc “Tranh chấp ly hôntheo
Quyết định đưa ván ra xét xử số: 17/2023/QĐXX-ST ngày 20 tháng 12 năm 2023
Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2024/QĐST-DS ngày 10/01/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Y, sinh năm 1973
Trú tại: Buôn T, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Bà H, sinh năm 1975
Trú tại: Buôn T, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt lần 2).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 04/10/2023, bản tự khai tại phiên toà hôm nay,
nguyên đơn ông Y trình bày:
Ông Y và H cưới nhau theo phong tục của người đồng bào và chung sống với
nhau cho đến ngày 03/01/2008 mới đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân E, huyện B,
tỉnh Đắk Lắk trên sở tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc trong một
thời gian dài, đến năm 2016 thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất
đồng quan điểm, lối sống sinh hoạt nên thường xuyên xy ra xúc phạm lẫn nhau, dẫn
đến cãi vã, bất hòa, nên chúng tôi đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay.
Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng không thể tiếp tục
chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn tình cảm
nên đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với bà H.
Về con chung: Ông Y H 04 con chung gồm: Cháu H, sinh năm 1994;
cháu Y, sinh năm 1995; cháu HN, sinh năm 1997 và cháu YĐ, sinh ngày 15/7/2001. Hiện
2
nay các con đã đủ tuổi trưởng thành khỏe mạnh bình thường nên không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Y H đã tự thỏa thuận nên không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
- Bị đơn H: Đã được Tòa án thông báo về việc thụ vụ án hợp lệ Thông
báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bà
H nhưng H không hợp tác vắng mặt không do, không mặt tại buổi hòa giải
nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, Tòa án tiến hành lập biên bản này làm
căn cứ cho việc giải quyết vụ án.
Quá trình thu thập chứng cứ để giải quyết vụ kiện, Tòa án nhân dân huyện Buôn
Đôn đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của ông Y và bà H tại Ban tự quản và Hội
phụ nữ Buôn T, E, huyện B nơi ông Y H sinh sống. Qua xác minh tại địa
phương thì được biết ông Y H sau khi kết hôn sống tại Buôn T, E, cho đến năm
2017 thì hai vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn cải nhau, nguyên nhân do ông Y bồ
bịch lăng nhăng bên ngoài, sau đó ông Y bỏ nhà đi hai người đã sống ly thân. a
án huyện Buôn Đôn đã tiến hành công khai chứng cứ hòa giải, phân tích các quy định
của pháp luật nhưng ông Y vẫn nhất quyết xin được ly hôn với H, còn H thì không
đến Tòa án để làm việc, nên không tiến hành hoà giải được. Do đó, Tòa án nhân dân
huyện Buôn Đôn căn cứ Điều 203 Bộ luật tố tụng Dân sự, đưa vụ án ra xét xử.
Tại phần tranh luận nguyên đơn ông Y giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ông cho rằng
mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị
Hội đồng xét xử giải quyết cho ông được ly hôn với bà H.
Về con chung: Ông Y H 04 con chung gồm: Cháu H, sinh năm 1994;
cháu Y, sinh năm 1995; cháu HN, sinh năm 1997 và cháu YĐ, sinh ngày 15/7/2001. Hiện
nay các con đã đủ tuổi trưởng thành khỏe mạnh bình thường nên không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Y H đã tự thỏa thuận nên không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Buôn Đôn phát biểu ý kiến về việc tuân
theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, của các đương
sự ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Sau khi thụ vụ án hôn nhân gia đình.
Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố
tụng, giao thông báo thụ lý vụ án, giao thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ và hòa giải, thu thập chứng cứ làm căn cứ giải quyết vụ án. Ra quyết
định đưa vụ án ra xét xử, tống đạt hợp lệ quyết định xét xử tại phiên tòa hôm nay,
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về trình
tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa thẩm, đảm bảo quyền
và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Đối với các đương sự, nguyên đơn chấp hành đúng
các quy định pháp luật, bị đơn không chấp hành pháp luật.
Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56 Luật hôn
nhân & gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Y. Xử cho ông Y
3
được ly hôn với bà H.
Về con chung: Xét thấy các cháu H, sinh năm 1994; cháu Y, sinh năm 1995; cháu
HN, sinh năm 1997 cháu YĐ, sinh ngày 15/7/2001, đã đủ tuổi trưởng thành, khỏe
mạnh bình thường; ông Y không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Y và bà H đã tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa
án giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết
quả tranh tụng công khai trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu trong
hồ sơ vụ kiện, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ông Y yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà H thì đây là “Tranh
chấp ly hôn” nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Buôn Đôn
được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của
Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị đơn bà H vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Hội đồng
xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị
đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Tòa án nhận thấy ông Y H đăng ký kết hôn ngày
03/01/2008 tại Ủy ban nhân dân E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk trên sở tự nguyện. Quá
trình chung sống thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2017, thì xảy ra mâu
thuẫn, cãi nhau. Nguyên nhân do ông Y quan hệ với người phụ nkhác bên ngoài,
không quan tâm chăm lo gia đình vợ con nên dẫn đến thường xuyên cãi vã, bất hòa, ông
Y đã sống ly thân với bà H.
[2.1] Qua xác minh tại Ban tự quản Hội phụ nữ Buôn T, E, huyện B nơi ông
Y H sinh sống, thì được biết ông Y H sau khi kết hôn sống tại Buôn T, E,
cho đến năm 2017 thì hai vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn cải nhau, nguyên nhân là do
ông Y bbịch lăng nhăng bên ngoài, sau đó ông Y bỏ nhà đi hai người đã sống ly
thân. Quá trình giải quyết tại Tòa án ông Y nhất quyết đòi ly hôn với H. Điều này
chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa hai vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung
không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều
51 và Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Y, xử cho
ông Y được ly hôn với bà H là phù hợp.
[3] Về con chung: Xét thấy Ông Y H 04 con chung gồm: Cháu H, sinh
năm 1994; cháu Y, sinh năm 1995; cháu HN, sinh năm 1997 cháu YĐ, sinh ngày
15/7/2001. Hiện nay các con đã đủ tuổi trưởng thành khỏe mạnh bình thường, không
yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Ông Y H đã tự thỏa thuận, không yêu cầu
Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[5] Về án phí ly hôn thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí Ly hôn thẩm theo
quy định.
4
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 203; điểm b khoản 2
Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự;
Các điều 51, 56 Luật hôn nhân & Gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Y.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Y được ly hôn với bà H.
- Về nuôi con chung: Cháu H, sinh năm 1994; cháu Y, sinh năm 1995; cháu HN,
sinh năm 1997 cháu YĐ, sinh ngày 15/7/2001. Hiện nay các con đã đủ tuổi trưởng
thành và khỏe mạnh bình thường, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông Y và bà H đã tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa
án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Ông Y phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án
phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã
nộp tại Chi cục thi hành án n sự huyện B theo biên lai thu số 0019512 ngày
26/10/2023.
- Quyền kháng cáo: Ông Y quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định
15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn H vắng mặt quyền kháng cáo bản án thẩm trong hạn luật định 15
ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận: TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND huỵên Buôn Đôn; (Đã ký)
- THADS huyện B;
- UBND xã E;
- Các đương sự; Nguyễn Vinh Tuấn
- Lưu hồ sơ.
5
Tải về
Bản án số 08/2024/HNGĐ-ST Bản án số 08/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất