Bản án số 08/2020/HNGĐ-ST ngày 07/02/2020 của TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 08/2020/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 08/2020/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 08/2020/HNGĐ-ST ngày 07/02/2020 của TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau về tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Cà Mau (TAND tỉnh Cà Mau) |
| Số hiệu: | 08/2020/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 07/02/2020 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CÀ MAU Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 08/2020/HNGĐ-ST
Ngày 07 – 02 – 2020
V/v thay đổi người trực tiếp
nuôi con sau khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Sỹ Hùng.
2. Bà Trần Kim Nguyện.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thúy Kiều – Là Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 07 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 957/2019/TLST-HNGĐ,
ngày 06 tháng 12 năm 2019 về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 01
năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị Ngọc Cc; Địa chỉ: số 324, đường Lê Hồng P,
khóm N, phường M, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (có mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Kinh Đ; Địa chỉ: số 6, Liên kế 2, đường Mậu T, khóm A,
phường B, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự
số: 341/2017/QĐST-HNGĐ ngày 29/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau
quyết định: “Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trương Thị Ngọc C và anh
Nguyễn Kinh Đ; Về con chung là Nguyễn Kathy, sinh ngày 23/02/2015, hiện đang
chung sống với anh Đ. Khi ly hôn, anh Đ và chị C thỏa thuận thống nhất giao cho
anh Đ nuôi và không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con. Chị C được quyền đến thăm
nom, chăm sóc và giáo dục con chung;...”. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa,
chị C thừa nhận kể từ khi ly hôn và giao con cho anh Đ nuôi dưỡng, anh Đ đã chăm
sóc con chu đáo và tạo điều kiện cho chị được thăm nom, chăm sóc con thường
xuyên. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, chị nhận thấy anh Đ chăm sóc con không
còn chu đáo, chị đã nhắc nhỡ anh Đ nhiều lần nhưng anh Đ không nghe mà còn hạn
2
chế không cho chị thăm nom con, không cho con ngủ qua đêm với chị, mỗi lần rước
con chị phải liên hệ với anh Đ nhiều lần mới được, hiện điều kiện kinh tế gia đình của
anh Đ gặp khó khăn không đủ điều kiện nuôi dưỡng con nên chị nộp đơn khởi kiện
yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Đ giao con là Nguyễn Kathy cho chị chăm sóc,
nuôi dưỡng và không đặt ra yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
Đối với anh Đ xác định từ sau khi ly hôn, anh là người trực tiếp chăm sóc và
nuôi con rất tốt cả về vật chất lẫn tinh thần, anh vẫn tạo mọi điều kiện cho chị C đến
thăm nom, chăm sóc con chung và để con ngủ lại qua đêm với chị C nhưng thời gian
gần đây, chị C đang chung sống với người khác và chuẩn bị kết hôn nên anh không
muốn con tiếp xúc với người lạ từ đó, anh mới hạn chế không cho con ngủ qua đêm
cùng với chị C. Tuy nhiên, chị C vẫn đến đưa rước, chăm sóc con bình thường anh
không có ngăn cản. Riêng việc chị C cho rằng điều kiện kinh tế của anh không đảm
bảo để nuôi dạy, chăm sóc con tốt hơn chị C là không có cơ sở. Vì vậy, anh Đ không
đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp về thay đổi
người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân thành phố Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 28, khoản 1 Điều 35 Bộ luật
Tố tụng Dân sự.
[2] Xét nội dung tranh chấp thấy rằng việc chăm sóc, nuôi dạy con là quyền và
nghĩa vụ của cha mẹ, việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dạy cần căn cứ vào
quyền lợi về mọi mặt của con, không phải giao con cho người cha hoặc người mẹ
nuôi thì người không trực tiếp nuôi con bị tước đi các quyền chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục con cái và thực tế, chị C thừa nhận vẫn đưa đón, chăm sóc con bình thường
duy chỉ có việc anh Đ không cho con ngủ qua đêm cùng chị nên giữa các đương sự
xảy ra tranh chấp.
Việc chị C và anh Đ đã ly hôn nhau phần nào xáo trộn tâm lý, cuộc sống bình
thường của cháu Kathy nên cần phải hạn chế đến mức thấp nhất việc ảnh hưởng tâm
lý và bảo đảm được việc học hành, sự phát triển tốt về thể chất, tinh thần của cháu.
Mặc dù, chị C trình bày chị có đủ điều kiện nuôi dạy con như: Chị đang làm việc tại
Cà Mau, thu nhập ổn định, có nhiều thời gian để gần gũi, chăm sóc con còn anh Đ
cũng có đi làm, có thu nhập nhưng thời gian anh Đ làm việc suốt tuần nên không dành
nhiều thời giờ chăm sóc con mà chủ yếu là do mẹ của anh Đ chăm sóc, hiện kinh tế
gia đình của anh Đ theo chị biết đang gặp khó khăn và thời gian gần đây, anh Đ lại
ngăn cản, hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của chị. Tuy nhiên, chị C không
cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc anh Đ ngăn cản, hạn chế quyền
thăm nom, chăm sóc và nuôi dạy con, không chứng minh được điều kiện kinh tế của
chị đủ để đảm bảo quyền lợi khi nhận nuôi con (như nơi chị làm việc, mức thu nhập là
bao nhiêu), không chứng minh được điều kiện kinh tế gia đình của anh Đ khó khăn
như thế nào, mức độ khó khăn ra sao trong khi anh Đ cung cấp được bản lương,
3
Quyết định bổ nhiệm chức vụ có xác nhận của nơi anh đang công tác và được chính
quyền địa phương xác nhận có nhà ở, có nơi cư trú ổn định còn chị C không có nơi cư
trú và nhà ở ổn định bởi quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị C thừa nhận
hiện đang sinh sống nhờ nhà chị ruột tại phường M, thành phố Cà Mau.
Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có tài
liệu, chứng cứ nào khác ngoài lời trình bày của chị C để chứng minh việc giao con
cho chị C sẽ đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con nên yêu cầu của chị C chưa có
căn cứ chấp nhận. Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy đã được giải thích nhưng
anh Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, chị C phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 3 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Ngọc C về việc yêu
cầu anh Nguyễn Kinh Đ giao con là Nguyễn Kathy, sinh ngày 23/02/2015 cho chị C
chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, chị Trương Thị Ngọc C phải
chịu số tiền 300.000đ. Ngày 06/12/2019, chị C đã nộp tiền tạm ứng án phí là
300.000đ theo biên lai số 0001093 được đối trừ, chuyển thu sung quỹ Nhà nước.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày
tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành
án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự; THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND Tp.Cà Mau; (Đã ký)
- Lưu hồ sơ vụ án.
Lâm Hoài Ân
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm