Bản án số 08/2019/HNGĐ-ST ngày 04/09/2019 của TAND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 08/2019/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 08/2019/HNGĐ-ST ngày 04/09/2019 của TAND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Bình Giang (TAND tỉnh Hải Dương)
Số hiệu: 08/2019/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/09/2019
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH GIANG
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 08/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 04-9-2019
V/v Ly hôn; tranh chấp nuôi con
khi ly hôn.
CỘNG A HỘI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn C .
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Đình Liên và bà Vũ Thị Lan.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị May Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Bình Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang tham gia phiên
toà: Bà Hoàng Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Giang,
tỉnh Hải Dương xét xử thẩm ng khai vụ án thụ số 89/2019/TLST-HNGĐ
ngày 13 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
09/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/8/2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều L - sinh năm 1997.
HKTT: Thôn 10, xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái.
Đăng ký tạm trú: Thôn T, phường M, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
(Có mặt).
Bị đơn: Anh Nguyễn Đức C , sinh năm 1989.
HKTT: Thôn 10, xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái.
Đăng ký tm trú: Thôn V, xã V, huyn B, tnh Hi Dương.
(Vng mt).
Ngưi làm chng: Ông Đng Đình Đ, sinh năm 1972.
Đa ch: Thôn V, xã V, huyn B, tnh Hi Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn
Thị Kiều L trình bày:
Chị anh Nguyễn Đức C tự nguyện đăng kết hôn tại UBND Y,
2
huyện V, tỉnh Yên Bái vào ngày 12/5/2017.
Vợ chồng tổ chức cuộc sống chung hạnh phúc đến cuối năm 2017 thì phát
sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính cách không hòa hợp, bất đồng
quan điểm trong cuộc sống và trong cách nuôi dạy, giáo dục con cái và thường xảy
ra đánh cãi chửi nhau to tiếng làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, tình cảm vợ
chồng ngày càng rạn nứt. Anh C luôn đề cao cái tôi cá nhân, chị cũng không chịu
nhún nhường khiến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng. Vchồng
không sự quan tâm chia sẻ với nhau, cuộc sống hôn nhân luôn căng thẳng, áp
lực. Chị và anh C đã sống ly thân từ giữa năm 2018 đến nay, anh C V, huyện
B, Hải Dương sinh sống, còn chị và các con thuê nhà trọ và đăng ký tạm trú làm ăn
sinh sống tại thôn T, phường M, thị M, tỉnh Hưng Yên. Anh chị đã bản tự
khai thống nhất thuận tình ly hôn và thỏa thuận việc nuôi dưỡng con chung, tuy
nhiên sau đó giữa anh chị tiếp tục xảy ra cãi nhau và anh C đi làm ở đâu chị không
biết, anh C cũng không đến Tòa án để tiếp tục giải quyết dứt điểm vụ án. Chị đã
liên lạc với anh qua điện thoại nhưng không được. Chị xác định tình cảm vợ chồng
không n, cuộc sống chung không hạnh phúc, không thể hàn gắn, níu kéo
đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C .
Về con chung: Chị anh C hai con chung Nguyễn Bích Ng, sinh ngày
10/02/2014 (anh chị con chung trước khi kết hôn) Nguyễn Minh Đ, sinh
ngày 09/7/2017 hiện đang cùng chị. Nguyện vọng của chị xin được nuôi dưỡng
cả hai con chung và tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, bị đơn anh Nguyễn Đức C trình bày: Về điều kiện, thời
gian kết hôn quá trình tổ chức cuộc sống chung như chị L trình bày đúng.
Anh xác định nguyên nhân mâu thun vợ chồng là do tính cách không hp nhau bt
đng quan điểm trong cuộc sng cũng n trong cách dạy dỗ giáo dục con cái, dn đến
vợ chng tờng xảy ra cãi chửi nhau to tiếng, xúc phm đến danh d và lòng tự trng
của nhau, làm nhng đến hạnh phúc gia đình,nh cảm v chng ngàyng rn nt.
Không khí gia đình ln ng thng, áp lực, không có sự bình yên, hnh phúc. Anh ch
đã sống ly thân từ tháng 8/2018 đến nay kng còn chung sng cùng nhau. Trong thời
gian ly thân anh chỉ đến để thăm nom, chăm sóc con chứ giữa anh chkng tìm biện
pháp khắc phục n gắn tình cảm vchồng. Chị L xin ly n, anh nhất trí.
Về con chung: Do đặc thù công việc của anh làm nghề lái xe, thường xuyên
vắng nhà, thậm chí nhiều ngày mới về nhà nên không điều kiện để nuôi dưỡng
con chung. Anh nhất trí để chị L trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung Nguyễn
Bích Ng và Nguyễn Minh Đ.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người làm chứng ông Đặng Đình Đ khai: Ông cho anh chị L thuê nhà trọ từ
năm 2013, anh chị chung sống đến năm 2018 thì nảy sinh mâu thuẫn, vợ chồng
3
thường xuyên xảy ra cãi nhau to tiếng, thậm chí đánh nhau làm ảnh hưởng đến tình
cảm vợ chồng hạnh phúc gia đình. Anh chị đã sống ly thân từ giữa năm 2018,
anh C vẫn thuê nhà trọ của ông còn chị L cho hai con sang thị M, tỉnh Hưng
Yên thuê nhà sinh sống.
Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương: Từ năm 2014, anh C , chị L
đăng ký tạm trú tại địa phương. Trong quá trình chung sống, giữa vợ chồng anh
C , chị L nảy sinh mâu thuẫn đã sống ly thân nên t tháng 2/2019, chỉ có anh C
đăng ký và có tên trong sổ tạm trú tại thôn V, xã V, huyện B tỉnh Hải Dương, chị L
không còn đăng ký tạm trú tại địa phương nữa.
Tại phiên tòa, chL nhất trí, xác nhận lời khai của anh C , ông Đ và kết quả
xác minh tại địa phương phản ánh đúng mâu thuẫn vợ chồng.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện bình
Giang phát biểu quan điểm:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã tuân thủ
quy định của pháp luật trong thụ vụ án, xây dựng hồ sơ, đưa vụ án ra xét xử
các hoạt động tố tụng khác. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định
của pháp luật trong điều hành phiên a; nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, bị
đơn chưa chấp hành đúng pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56,
58, 81,82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị
quyết 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kiều L . Xử
cho chị L ly hôn anh Nguyễn Đức C .
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Kiều L trực tiếp trông nom, chăm
sóc, giáo dục, nuôi dưỡng hai con chung Nguyễn Bích Ng, sinh ngày 10/02/2014
và Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 09/7/2017 (hiện đang ở cùng chị L ) cho đến khi các
con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị L không yêu
cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không phải giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kiều L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn
thẩm theo quy địnhđược trừ vào tiền tạm ứng án phí ly hôn đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Đức C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ
hai nhưng vắng mặt không sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh C theo qui định tại Điều 227 Điều 228
BLTTDS.
4
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kiều L anh Nguyễn Đức C
kết hôn trên sở hoàn toàn tnguyện đăng kết hôn tại UBND Y,
huyện V, tỉnh Yên Bái vào ngày 12/5/2017, đây hôn nhân hợp pháp. Lời khai
của chị L tại phiên tòa trình bày về mâu thuẫn vợ chồng phù hợp lời khai của anh
Nguyễn Đức C và kết quả xác minh của Tòa án nên căn cứ xác định giữa chị
Nguyễn Thị Kiều L anh Nguyễn Đức C đã xảy ra bất đồng quan điểm trong
cuộc sống trong cách nuôi dạy, giáo dục con, hai bên sống ly thân từ giữa năm
2018. Xét thấy mâu thuẫn giữa hain xảy ra trầm trọng, tình cảm vợ chồng không
còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị Nguyễn Thị L được ly
hôn anh Nguyễn Đức C phù hợp với qui định tại Điều 51 Điều 56 Luật hôn
nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị L , anh C xác định hai con chung là Nguyễn Bích
Ng, sinh ngày 10/02/2014 và Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 09/7/2017. Chị L đề nghị
được nuôi cả 2 con, anh C nhất trí, do công việc của anh không thuận lợi để
trực tiếp nuôi dưỡng con cái. Do vậy, cần giao hai con cho chị L nuôi dưỡng.
Chấp nhận sự tự nguyện chị L về việc không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con
chung.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Kiều L anh Nguyễn
Đức C không yêu cầu Tòa án giải quyết. HĐXX không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kiều L nguyên đơn, phải chịu án phí ly
hôn sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4
Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị
Kiều L , xử cho chị Nguyễn Thị Kiều L ly hôn anh Nguyễn Đức C .
2. V con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Kiều L trực tiếp trông nom,
chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng hai con chung Nguyễn Bích Ng, sinh ngày
10/02/2014 và Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 09/7/2017 (hiện đang ở cùng chị L ) cho
đến khi các con đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh
C cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kiều L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn
thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi
5
hành án dân sự huyện Bình Giang, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí s
AA/2017/0005364 ngày 13/6/2019. Chị Nguyễn Thị Kiều L đã nộp đủ án phí.
Chị Nguyễn Thị Kiều L quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Đức C quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
- Các đương s;
- VKSND huyện Bình Giang;
- Chi cục THADS huyện Bình Giang;
- UBND xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái
- Lưu hồ ván.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Nguyễn Văn Cường
Tải về
Bản án số 08/2019/HNGĐ-ST Bản án số 08/2019/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất