Bản án số 07/2019/HNGĐ-ST ngày 26/12/2019 của TAND huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình về ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 07/2019/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 07/2019/HNGĐ-ST ngày 26/12/2019 của TAND huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình về ly hôn
Quan hệ pháp luật: 181. Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Tân Lạc (TAND tỉnh Hòa Bình)
Số hiệu: 07/2019/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/12/2019
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Do mâu thuẫn gia đình chị Bùi Thị Ng làm đơn xin ly hôn anh Hoàng Xuân T ( bản án)
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN LẠC
TỈNH HÒA BÌNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 07/2019/HN-ST
Ngày: 26/12/2019
V/v Ly hôn;
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC, TỈNH HOÀ BÌNH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Đình Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Thụ và bà Bùi Thị Liên
Thư Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình ghi biên bản phiên toà:
Tăng Thị Hồng, Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa:
Bùi Thị Nhạn Kiểm sát viên
Ngày 26/12/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình mở
phiên toà công khai xét xử thẩm vụ án n nhân gia đình thụ số:
129/2019/TLST-HNGĐ ngày 08/10/2019, về việc “ Ly hôn” giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Ng, sinh năm 1985;
ĐKHKTT: Khu X, thị trấn M, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình;
Hiện ở: Xóm B, xã T, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình (Có mặt).
2/ Bị đơn: Anh Hoàng Xuân T, sinh năm 1986;
ĐKHKTT và cư trú: Khu X, thị trấn M, huyện Tân Lạc, Hòa Bình
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện qtrình thu thập, xác minh chứng cứ, nguyên đơn chị
Bùi Thị Ng có ý kiến như sau:
Chị và anh Hoàng Xuân T kết hôn tháng 10/2011 trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, có
thời gian tìm hiểu 05 năm, tổ chức cưới hỏi theo phong tục và đăng kết hôn
tại Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn M, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Binh. Sau kết hôn
vợ chồng sống chung cùng bố mẹ anh T tại khu X, thị trấn M, huyện Tân Lạc. Quá
trình chung sống, cuộc sống vợ chồng bình thường hạnh phúc như bao cặp vợ chồng
khác được khoảng 02 năm tphát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do nh cách, quan
điểm sống, phương pháp nuôi dạy con cái trái ngược, không tìm được tiếng nói chung
nên thường xuyên vợ chồng xảy ra cãi vã, xung đột và không hnh phúc. Vì sống cùng
gia đình nhà chồng nên chị cố nín nhịn nhưng càng nín nhịn thì anh T càng thể hiện sự
thiếu tôn trọng đối với chị, sống thiếu trách nhiệm không quan tâm chăm sóc chị
con. Chị góp ý thì anh thể hiện sự miệt thị, thiếu tôn trọng không ý thức xây
dựng. Chị cũng đã nhờ gia đình khuyên can nhưng anh T vẫn không chuyển biến,
không thay đổi. Không chịu đựng được thêm chị đưa con về nhà ngoại sống, vợ chồng
đã ly thân từ tháng 9/2018 đến nay thời gian khá dài nhưng anh T vẫn không thể
hiện squan tâm đến chị và không màng đến hạnh phúc gia đình. Thấy tình cảm vợ
chồng đã hết, không thể quay lại chung sống để một gia đình hạnh phúc nên chị Ng
đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh T.
Về con chung: Quá trình chung sống vchồng 01 con chung Hoàng Đức T,
sinh ngày 15/01/2013, Khi ly hôn chị Ng nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng
con và chưa yêu cầu anh T đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung công nợ chung: Vợ chồng khẳng định không tài sản chung,
ng nchung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng của hồi môn của bố mẹ
bên nào cho từ khi kết hôn thì bên đó giữ; có 03 chỉ vàng do bố mẹ chồng cho, hiện vợ
chồng đang cho chị dâu vay, anh T nhận trách nhiệm đòi về và sẽ trả lại cho bố mẹ. Về
án phí: Chị Ng tự nguyên chịu toàn bộ án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Quá trình tố tụng, bị đơn anh Hoàng Xuân T có ý kiến như sau:
Về quá trình hôn nhân anh T xác nhận lời khai của chị Ng đúng. Tuy nhiên về
thời gian và nguyên nhân mâu thuẫn: Anh T cho rằng đến năm 2016 mới có mâu thuẫn
nguyên nhân do chị Ng luôn giữ quan điểm riêng của mình; anh công nhận vợ
chồng có mâu thuẫn nhưng cho rằng mâu thuẫn không lớn và vẫn còn tình cảm với vợ;
hơn nữa, chị Ng không đưa ra được bằng chứng chứng minh cho mâu thuẫn vợ chồng
(Ví dụ như ngoại tình, đánh đập, chửi bới xúc phạm nhau…) nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh T xác nhận vợ chồng 01 con chung như chNg đã trình bày;
Anh T cũng nguyện vọng được nuôi con. Nếu chị Ng đồng ý giao con cho anh T
nuôi dưỡng thì anh T mới đồng ý ly hôn, còn nếu Tòa xử cho chị Ng được nuôi dưỡng
con thì anh T sẽ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của Pháp luật. Về tài sản chung:
Anh T cũng cho rằng vợ chồng không tài sản chung, nợ chung. Phần của hồi môn
bố mẹ cho của bên nào bên đó giữ; phần 03 chỉ vàng bố mẹ anh cho vợ chồng hiện vợ
chồng cho chị dâu H vay, anh s trách nhiệm lấy vkhông yêu cầu Tòa giải
quyết. Công nợ chung: Không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc có ý kiến như sau:
- Về tố tụng: Tòa án, Hội đồng xét xử thẩm đã thực hiện theo đúng quy định của
pháp luật;
- Về nội dung: Anh T và chị Ng đã ly thân gần hai năm và không còn có thể quay về
sống chung để một gia đình hạnh phúc nên chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Ng là
căn cứ. Về con chung: một con chung hiện đang sống cùng chị Ng tkhi vợ
chồng ly thân, chị Ng vẫn chăm lo cho cháu ăn học phát triển bình thường nên để
cháu cho chị Ng nuôi dướng, giáo dục và chấp nhân sự tự nguyện của chị Ng chưa yêu
cầu anh T đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung; quyền thăm nom chăm c con chung
được đảm bảo theo pháp luật. Tài sản chung công nchung không nên không
giải quyết. Án phí: Chấp nhận sự tự nguyện chịu án phí của chị Ng.
- Kiến nghị: Không.
Quá trình tham gia tố tụng tại phiên tòa, nguyên đơn Bùi Thị Ng giữ nguyên
quan điểm xin được ly hôn với anh Hoàng Xuân T, đề nghị giao quyền nuôi con cho
mình và chưa đề nghị anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản và công nợ: Chị Ng
khẳng định không có. Bị đơn anh Hoàng Xuân T cũng vẫn giữ nguyên quan điểm cho
rằng mâu thuẫn vợ chồng không lớn chị Ng không đưa ra được chứng cứ chứng
minh mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên không đồng ý ly hôn và nếu anh đồng ý ly
hôn tchị Ng phải đồng ý giao con chung cho anh nuôi dưỡng; nếu được nuôi dưỡng
con chung anh không yêu cầu chị Ng phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Tài
sản chung công nợ chung và án phí anh đồng ý với quan điểm của chị Ng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đương sự cung cấp Tòa thu thập được, thấy
rằng:
I. Về tố tụng: Tòa án đã áp dụng pháp luật Tố tụng Dân sự, luật Dân sự, Hôn nhân
gia đình để giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn không có khiếu nại gì. Qua 03 lần hòa
giải, nguyên đơn, bị đơn không thống nhất được với nhau về nội dung giải quyết vụ án,
nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là đúng theo quy định của Pháp luật.
II. Về nội dung:
1. V quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Ng, anh Hoàng Xuân T vợ chồng hợp pháp,
đăng ký kết hôn, nhưng do mâu thuẫn âm lâu ngày trong quan điểm sống các
nuôi dạy con cái nên chung sống không hạnh phúc; đã ly thân hơn 01 năm; Biết vợ
ý định ly hôn, tuy anh T trình bày vẫn còn tình cảm với vợ nhưng từ khi vợ bỏ về nhà
ngoại sinh sống trong quá trình giải quyết vụ án, anh T không tìm gặp, không
động thái để níu kéo hạnh phúc gia đình làm vợ thay đổi ý định. Anh T cho rằng vợ
chồng phải bạo lực, ngoại tình, cãi chửi nhau to tiếng ….mới mâu thuẫn trầm
trọng thể dẫn đến ly hôn từ đó xem nhẹ nghĩa vụ của vchồng phải quan tâm, chia
sẻ với nhau (Theo quy định tại Điều 19 luật Hôn nhân gia đình) dẫn đến tình cảm v
chồng phai nhạt, khiến vợ chán nản, bỏ đi.Tòa xét thấy, vợ chồng đã ly thân kéo dài,
thực sự đã không còn tình cảm, không còn khả năng đoàn tụ để một gia dình hạnh
phúc. Tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng; cuộc sống chung không thể kéo dài;
mục đích hôn nhân không đạt được nay chNg xin ly hôn phù hợp căn cứ luật định,
nên được chấp nhận.
2. Về con chung: Các đương sự 01 con chung Hoàng Đức T, sinh ngày
15/01/2013. Hiện từ khi chị Ng và anh T ly thân tháng 9/2018 đến nay chị Ng vẫn đảm
nhiệm nuôi cháu và đảm bảo cho cháu phát triển tốt; Từ thứ hai đến thứ sáu chị vẫn
đưa đón con đi học tại trường tiểu học M bình thường và thứ bảy, chủ nhật chị vẫn đưa
con lên cho với bố ông nội. Nay cả chị Ng anh T đều xin được trực tiếp
nuôi dưỡng con chưa yêu cầu bên kia cấp dưỡng nuôi con. Thấy rằng: Anh Hoàng
Xuân T công chức tư pháp M thu nhập từ lương n 4 triệu/tháng. Chị Bùi
Thị Ng cán bộ mặt trận tquốc huyện T thu nhập từ lương hơn 7 triệu/tháng. C
chị Ng và anh T đều là công chức nhà nước, thu nhập đều sống chung cùng ông
nên được sự hỗ trợ lớn tông nên đều đủ điều kiện và khả năng nuôi dưỡng
giáo dục con nên người. Tuy nhiên xét: Cháu T còn nhỏ tuổi, cần sự quan tâm,
chăm sóc của mẹ cháu hiện vẫn được mẹ quan tâm chăm sóc, cho ăn học phát
triển tốt. vậy đkhông làm sáo trộn cuộc sống, học tập của cháu Hoàng Đức T nên
giao cháu cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng phù hợp pháp luật thực tiến. Việc cấp
dưỡng nuôi con chung cần chấp nhận sự tự nguyện của chị Ng chưa yêu cầu anh
Hoàng Xuân T đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung;
3. Về tài sản chung: Các đương sự thống nhất vchồng không tài sản chung
không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập.
Về công nợ chung: Các đương sự thống nhất vợ chồng không nợ chung nhân, cơ
quan, tổ chức tín dụng nào. Tòa án không xem xét.
4. Về án phí: Nguyên đơn tự nguyện chịu án phí ly hôn. Sự tự nguyện phù hợp pháp
luật, được chấp nhận.
Bởi vậy;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình; điều 147 của Bộ
luật tố tụng dân sự; điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy Ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án, nay tuyên xử như sau:
1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị Ng được ly hôn với anh Hoàng Xuân
T.
2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Đức T, sinh ngày 15/01/2013 cho chị Bùi Thị
Ng trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Bùi Thị Ng chưa
yêu cầu anh Hoàng Xuân T đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung; Quyền đi lại thăm
nom, chăm sóc con chung được đảm bảo theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung, công nợ chung: Không có
4. Về án phí: Chị Bùi Thị Ng phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn; đối trừ vào
300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân shuyện Tân Lạc,
theo biên lai thu tiền hiệu AA/2017, số 1594 ngày 07/10/2019, nay không phải nộp
thêm.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án các đương sự được quyền kháng cáo. Án
xử công khai sơ thẩm, có mặt đầy đủ nguyên đơn, bị đơn.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Hòa Bình;
- VKSND huyện Tân Lạc;
- Chi cục THADS huyện Tân Lạc;
- UBND thị trấn Mường Khến, huyện Tân Lạc;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án + VP.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
( Đã ký)
Bùi Đình Dũng
Tải về
Bản án số 07/2019/HNGĐ-ST Bản án số 07/2019/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất