Bản án số 06/2025/DS-ST ngày 17/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 06/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 06/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 06/2025/DS-ST
Tên Bản án: | Bản án số 06/2025/DS-ST ngày 17/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng về tranh chấp quyền sử dụng đất |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 13 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng |
Số hiệu: | 06/2025/DS-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 17/06/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Ông T khởi kiện yêu cầu ông B bà N trả đất |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN M
T3 H
Bản án số: 06/2025/DS-ST
Ngày: 17-6-2025.
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M - T3 H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Nhàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Đình Phúc, Bà Đoàn Thị Chuyền.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đình Lân - Thư ký Toà án nhân dân huyện
M, T3 H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên toà: Bà
Nguyễn Thị Diên - Kiểm sát viên.
Ngày 17/6/2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện M, T3 H xét xử sơ
thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 35/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 11 năm
2024 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số 05/2025/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên
tòa số 08/2025/QĐST-DS ngày 06/6/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1972; Nơi thường trú:
thôn P, xã C, huyện M, T3 H; Căn cước công dân số: 030072007138 do Cục
trưởng Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 23/9/2022; Có
mặt.
- Bị đơn: Ông Vũ Văn B, sinh năm 1963; Bà Phạm Thị N, sinh năm 1963;
Nơi thường trú: thôn P, xã C, huyện M, T3 H; đều có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ UBND xã C, huyện M, T3 H. Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ
Văn T1 - Chủ tịch UBND xã; Vắng mặt, đề nghị xét xử vắng mặt.
+ Cụ Phạm Thị V, sinh năm 1927; Nơi thường trú: thôn P, xã C, huyện M,
T3 H; Căn cước công dân số: 030127000139; Vắng mặt, uỷ quyền cho ông T.
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cụ V: ông Phạm Văn Điều
- Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước T3 H; Có mặt.
+ Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1954; Nơi thường trú: thôn P, xã C, huyện
M, T3 H; Căn cước công dân số: 030154015163; Vắng mặt, uỷ quyền cho ông
T.
+ Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1959; Nơi thường trú: thôn P, xã C, huyện
M, T3 H; Căn cước công dân số: 030159017500; Vắng mặt, uỷ quyền cho ông
T.
2
+ Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1968; Nơi thường trú: thôn P, xã C,
huyện M, T3 H; Căn cước công dân số: 030068014464; Vắng mặt, uỷ quyền
cho ông T.
+ Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1989; Nơi thường trú: thôn P, xã C,
huyện M, T3 H; Căn cước công dân số: 030089021251; Vắng mặt, uỷ quyền
cho ông T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, quá trình làm việc với Toà án và tại phiên toà,
nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Bố tôi là ông Nguyễn Văn T4, mẹ tôi là bà Phạm Thị V. Bố mẹ tôi sinh
được tất cả 06 người con gồm: ông Nguyễn Văn Đình (là liệt sĩ, chưa có vợ
con), ông Nguyễn Văn Đỉnh (chết từ bé), bà Nguyễn Thị H1 - sinh năm 1954, bà
Nguyễn Thị H2 - sinh năm 1959, ông Nguyễn Văn T2 - sinh năm 1968 và ông là
Nguyễn Văn T, đều đăng ký thường trú tại thôn P, xã C, huyện M, T3 H. Bố mẹ
tôi có thửa đất số 70 + 71, tờ bản đồ số 03, diện tích 370m
2
(trong đó có 294m
2
đất ở, 76m
2
đất nuôi trồng thủy sản) ở thôn P, xã C, huyện M, T3 H. Thửa đất
này được UBND T3 H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/10/1991
mang tên Nguyễn Văn T4. Năm 1990 bố tôi chết. Sau đó, mẹ tôi được UBND
huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/6/2014 mang tên bà
Phạm Thị V. Đến năm 2023, mẹ tôi đã tách thửa đất này ra làm hai thửa là: thửa
290, tờ bản đồ số 41, diện tích 267,60m
2
(trong đó đất ở là 178,60m
2
, đất trồng
cây lâu năm 89m
2
) đã được cấp giấy chứng nhận mang tên tôi là Nguyễn Văn T;
diện tích đất còn lại tách cho cháu trai nội của mẹ tôi là Nguyễn Văn T3. Thửa
đất số 290 của tôi có tứ cạnh: Phía Nam giáp đường thôn; phía Tây giáp đường
ngõ và đất ông B; phía bắc giáp ông Nguyễn Văn T2; phía Đông giáp đất cháu
Nguyễn Văn T3. Vị trí đất tôi đòi nhà ông B bà N là: Phần đất giáp đường ngõ,
tôi đòi chỗ này là khoảng 10m
2
, chỗ giáp đường ngõ này trước là ao tôi đã lấp ao
năm 2010, bây giờ anh B, chị N đang trồng rau và xây trụ cổng làm đường đi;
phần đất giáp nhà ông B bà N là khoảng 3m
2
vì nhà ông B bà N đã đổ bê tông,
làm đường nước sạch, bắn mái tôn từ năm 2010 lấn sang đất nhà tôi. Tổng diện
tích tôi đòi ông B bà N phải trả là khoảng 13m
2
. Năm 2020 gia đình tôi thuộc
diện hộ cận nghèo. Gia đình tôi gồm có tôi là chủ hộ và con trai tôi là Nguyễn
Văn Tuyển. Tôi có vợ nhưng đã ly hôn năm 2022. Nhà chính hiện nay tôi đang
ở là do tôi xây từ năm 2010. Lúc tôi xây nhà thì chỗ trồng rau nhà ông B là nhà
thuốc sâu của vợ chồng ông B. Khi xây nhà tôi đã yêu cầu ông B phá nhà thuốc
sâu trả đất tôi để tôi xây nhà cho thẳng với mốc phía đằng Bắc (tường hố xí phía
sau) nhưng ông B không đồng ý phá. Nên bắt buộc tôi phải xây nhà hình vòng
cung như bây giờ. Sau khi tôi xây nhà chính xong khoảng 2 năm sau, ông B lo
việc gả chồng gả vợ cho con thì ông ấy mới phá nhà thuốc sâu (chỗ trồng rau
giáp cổng bây giờ) để bắc rạp lo việc. Nhà thuốc sâu của ông B, bà N làm năm
2000. Lúc ông B xây nhà thuốc sâu thì phía bên đất nhà tôi là bếp và chuồng lợn
cũ. Đến năm 2010 do dột nát tôi phải phá bếp, chuồng lợn đi để xây nhà mới ở
như bây giờ.
3
Tại phiên tòa, ông T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đòi đất ông B bà N. Ông
T yêu cầu vợ chồng ông Vũ Văn B, bà Phạm Thị N trả lại 2,8m
2
đất ở vị trí sau
nhà mái bằng, nhà mái ngói của ông T (theo sơ đồ hiện trạng là các điểm A4-
A15-A14-A13-A4) và yêu cầu ông B, bà N trả lại 8m
2
ở vị trí ngõ đi vào nhà
ông B (theo sơ đồ hiện trạng là các điểm A16-A12-A11-A17-A16).
* Quá trình làm việc với Tòa án và tại phiên tòa, bị đơn ông Vũ Văn B,
bà Phạm Thị N trình bày:
Chúng tôi xác định gia đình không lấn chiếm đất sang của nhà cụ T4 và
nhà ông T. Đất của chúng tôi là thửa đất số 77, 78, 80, tờ bản đồ số 3, diện tích
635m
2
. Nguồn gốc đất là do các cụ của ông B để lại. Thời cụ T4 còn sống thì
giữa cụ T4 và bố mẹ tôi không có tranh chấp gì. Đến nay, cái tường hố xí,
chuồng lợn phía sau nhà ông T được xây từ thời cụ T4 là những năm 1970-1977
vẫn còn, sau này ông T mới xây nhà mới lên phần sân cũ của cụ T4, còn phần
nhà cũ của cụ T4 hiện nay chính là cái bồng nhà của cụ T4 mà bây giờ ông T sử
dụng làm cái bếp bên cạnh cái nhà gio. Mốc mác từ thời các cụ để lại như thế
nào thì đến thời nhà tôi sử dụng như thế ấy. Thời điểm vợ chồng tôi xây nhà
thuốc sâu vào khoảng năm 1997-1998, lúc làm nhà thuốc sâu thì phía nhà cụ T4
là cái bếp gio cụ T4 làm. Lúc nhà tôi xây nhà thuốc sâu thì cụ V không có ý kiến
gì vì tôi làm còn cách tường bếp của cụ T4 chứ không xây sát vào. Sau này, ông
T xây công trình phụ giáp với nhà thuốc sâu của gia đình tôi thì ông T phá bếp
cũ của cụ T4 để xây công trình phụ, sau đó đến thời gian vừa rồi thì ông T lại
phá công trình phụ của nhà ông ấy để xây nhà như hiện nay. Khi ông T xây nhà
mới thì cái nhà thuốc sâu của vợ chồng tôi vẫn còn (gọi là nhà thuốc sâu chứ
thực tế tôi chỉ đóng 3 cột hở để lợp mái pro ximang phía giáp nhà ông T chứ
không xây tường kín phía nhà ông T nên khi nhà ông T xây nhà thì tôi vẫn cho
thợ sang đứng bên nhà tôi để trát tường nhà). Lúc xây nhà mới và khi sang tên
đất cho cụ V, sau đó cụ V tách đất cho ông T và anh T3 thì ông T không có ý
kiến gì về tranh chấp đất cát với nhà tôi, đến bây giờ lại làm đơn khởi kiện đòi
đất thì gia đình tôi không đồng ý. Chúng tôi xác định không lấn sang đất nhà
ông T. Sau khi nhà ông T hoàn thiện nhà mới được 1 thời gian ngắn thì vợ
chồng tôi phá nhà thuốc sâu vì không bán nữa. Bây giờ chỗ đất đó gia đình tôi
làm sân để khỏi bẩn chứ chưa làm công trình gì. Khi ông T làm nhà mới xong
thì đồng thời ông T cũng xây luôn tường sân trước nhà giáp đất, giáp cổng nhà
tôi.
Về cổng nhà tôi: Trước đây nhà tôi sử dụng cái cổng cũ nhưng không có
trụ, cách đây khoảng chục năm vợ chồng tôi mới xây trụ cổng trên cổng cũ của
nhà tôi, trước cổng sử dụng như thế nào thì bây giờ sử dụng như thế, không thay
đổi gì, thậm chí cổng cũ của nhà ông T còn xây trước cổng cũ của nhà tôi. Ở
phía giáp trụ cổng nhà tôi trước đây bố tôi có trồng 1 cây nhãn từ năm 1975. Sau
khi ông T làm nhà mới xong nhiều năm, sau đó ông T đổ sân mới xong thì vợ
chồng tôi mới chặt cây nhãn để lá khỏi rụng xuống sân nhà ông T. Thời điểm gia
đình ông T làm thủ tục sang tên từ cụ T4 sang cụ V sau đó cụ V lại tách thửa đất
sang cho ông T và cháu T3 thì gia đình cụ V, ông T đều không có ý kiến tranh
4
chấp đất đai gì với nhà tôi. Khi cụ V tách thửa cho con cháu thì nhà tôi vẫn sử
dụng như hiện trạng chứ không có thay đổi gì.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn
gồm cụ Phạm Thị V, bà Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Văn T2,
Nguyễn Văn T3 đều trình bày:
Cụ Nguyễn Văn T4 và cụ Phạm Thị V sinh được 06 người con như ông T
trình bày là đúng. Cụ T4, cụ V có thửa đất số 70+71, tờ bản đồ số 3, tổng diện
tích 415m
2
được UBND T3 Hải Hưng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
mang tên cụ Nguyễn Văn T4 năm 1991. Cụ T4 chết năm 1990, gia đình đã làm
thủ tục sang tên thửa đất trên cho cụ Phạm Thị V. Sau đó, cụ V tách thửa đất này
cho con trai là ông Nguyễn Văn T và cháu nội là anh Nguyễn Văn T3, xác định
toàn B thủ tục sang tên và tách thửa là đúng quy định pháp luật và hợp pháp.
Việc ông T khởi kiện yêu cầu ông B bà N trả lại đất, các ông bà đề nghị Toà án
giải quyết theo yêu cầu của ông T. Các ông bà đều đề nghị Toà án giải quyết
vắng mặt và uỷ quyền cho ông T tham gia tố tụng.
Ông T2 trình bày: Quá trình sử dụng thửa 70+71 thì tôi thấy: Phía đất giáp
nhà ông B bà N bố mẹ tôi trước đây xây một nhà gianh vữa vôi từ năm 1976,
đến khoảng năm 1980 thì xây thêm một gian buồng giáp nhà ông B, từ tường
gian buồng còn cách bờ tre dây khoảng 60 cm nữa mới sang đến đất nhà ông B.
Sau đó anh em chúng tôi đều đi làm ăn xa không ở nhà, chỉ có mẹ già ở nhà, đến
khi anh em tôi về thì nhà ông B đã phá bờ tre dây của nhà tôi để bắn mái tôn sát
sang tường nhà tôi. Anh em tôi có nói thì ông B, bà N bảo cho bắn nhờ khi nào
cần đến thì trả lại. Nay nhà tôi yêu cầu ông B bà N tháo dỡ trả lại đất thì lại
không trả cho gia đình tôi. Nay tôi đề nghị Tòa án giải quyết đúng theo yêu cầu
của ông T.
* Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện:
- Thửa đất ông Nguyễn Văn T đang sử dụng có kích thước: Phía Bắc giáp
đất nhà ông T2 có kích thước (3,70 + 2,30 + 3,69)m; Phía Nam giáp đường xóm
có kích thước 11,52 m; Phía Tây giáp nhà ông B có kích thước (0,30 + 1,57 +
15,11 + 2,04 + 10,12) m; Phía Đông giáp đất anh T3 có kích thước 25,97m.
Tổng diện tích theo hiện trạng đất của ông T là 274,0m
2
.
- Thửa đất nhà ông B, bà N đang sử dụng có kích thước: Phía Bắc giáp đất
nhà bà Lan có kích thước 9,55m; Phía Đông giáp đất ông T2 dài 17,18 + 1,45
(m) và giáp đất ông T dài 0,30 + 1,57 + 15,11 + 2,04 + 10,12 (m); Phía Tây giáp
đất bà Lượng, ao ông B và đất ông Mộc có kích thước 21,36 + 2,35 + 0,89 +
3,80 + 3,50 + 12,12 +13,23+2,40 (m); Phía Nam giáp đường xóm dài
2,76+0,93m. Tổng diện tích hiện trạng sử dụng nhà ông B là 426,3m
2
.
Ông T xác định đất của nhà ông theo vị trí ông T chỉ: Phần đất giáp cổng
có diện tích 8,0 m
2
, phần đất giáp nhà ông T kéo xuống hết đất nhà ông T có
diện tích 2,8m
2
.
Tài sản trên phần đất tranh chấp: 01 trụ cổng kích thước 0,45 x 0,45 x
2,2m làm năm 2017; 01 lán tôn làm năm 2015, diện tích 1,5m
2
; 01 phần sân trạt
bê tông làm năm 1990, diện tích 1,5m
2
.
5
Tòa án tiến hành đào 1 hố giáp tường bếp + kho để đồ cũ nhà ông T (vị trí
sân trạt phía bên nhà ông B) điểm tiếp giáp giữa bếp + chuồng gio (hố xí cũ) nhà
ông T để kiểm tra móng tường công trình nhà ông T. Các đương sự đều xác định
bếp cũ + chuồng gio nhà ông T được xây dựng từ năm 1976. Hố đào dài 45cm,
rộng 30cm, sâu 60cm. Xác định ẩn dưới lớp bê tông sân trạt chỉ có 2 hàng gạch
dưới gọi là móng, thẳng với mép tường phía trên. Phía dưới 2 hàng gạch đó là
đất, không tìm thấy hàng gạch phía dưới nào khác. Tức là móng thẳng không có
hàng gạch nào loe ra về phía sân nhà ông B bà N. Ông T đào 1 hố trong chuồng
gio cũ nhà ông T để kiểm tra móng tường chuồng do xác định dưới lớp tường
phần móng có nhô ra 10cm về phía nhà ông T, không có móng về phía đất nhà
ông B.
* Kết quả định giá tài sản kết luận: Đất ở: 4.860.000đồng/m
2
; 1 trụ cổng
xây năm 2017, giá trị còn lại là 470.000đồng; 01 lán tôn xây năm 2015, diện tích
1,5m
2
, giá trị 31.000 đồng; sân trạt diện tích 1,5m
2
, xây năm 1990, đã hết khấu
hao, giá trị còn lại 0 đồng. Tổng giá trị tài sản trên đất là 501.000 đồng.
* Quan điểm của UBND xã C:
Đối với tranh chấp đất ngõ đi do UBND xã C quản lý, gia đình ông B đã
xây cổng trên đất ngõ đi này. Quan điểm của UBND xã C như sau: Đây là lối đi
chung, hộ gia đình ông Vũ Văn B sử dụng và đã xây cổng trên ngõ đi thì tạm
thời trước mắt để cho hộ ông B sử dụng, sau này địa phương, tập thể sử dụng
đến đất công thì yêu cầu hộ ông B phải trả lại cho tập thể.
* Tại phiên tòa:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan cụ Phạm Thị V đề nghị Toà án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu
thập được để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và xem xét chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M phát biểu ý kiến, đề nghị
HĐXX: áp dụng Điều 166, 170, Điều 203 Luật đất đai năm 2013, Điều 175, 176
BLDS năm 2015; Điều 147 B luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số
97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-
12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T về việc yêu
cầu ông Vũ Văn B, bà Phạm Thị N trả lại 2,8m
2
đất ở vị trí sau nhà mái bằng,
nhà mái ngói của ông T (theo sơ đồ hiện trạng là các điểm A4-A15-A14-A13-
A4). Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T về việc yêu
cầu ông B, bà N trả lại 8m
2
ở vị trí ngõ đi vào nhà ông B (theo sơ đồ hiện trạng
là các điểm A16-A12-A11-A17)

6
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá: Do yêu cầu của ông T
không được chấp nhận nên ông T phải chịu chi phí xem xét thẩm định giá (ông
T đã nộp đủ)
- Về án phí: Ông Nguyễn Văn T thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí
dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra
tại phiên toà, ý kiến của những người tham gia tố tụng, Kiểm sát viên, Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật:
Ông Nguyễn Văn T khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết yêu cầu ông Vũ
Văn B, bà Phạm Thị N phải trả ông phần diện tích đất giáp ranh tại thôn P, xã C,
huyện M, T3 H và yêu cầu ông B bà N phải tháo dỡ phần công trình xây dựng
trên phần đất đó để trả lại đất cho ông T. Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm c khoản
1 Điều 39 B luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
nhân dân huyện M, xác định quan hệ pháp luật giải quyết trong vụ án là tranh
chấp quyền sử dụng đất, cụ thể là tranh chấp ranh giới, mốc giới đất.
[1.2] Tại phiên toà vắng mặt đại diện UBND xã C (đề nghị xét xử vắng
mặt); bà H1, bà H2, ông T2, anh T3 đều vắng mặt (ủy quyền cho ông T và xin
xét xử vắng mặt). Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 B luật Tố
tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người trên.
[2] Về nội dung: Xét nguồn gốc đất và quá trình biến động đất đai của gia
đình ông Nguyễn Văn T thì thấy: Thửa đất có nguồn gốc là của bố mẹ ông T là cụ
Nguyễn Văn T4 và cụ Phạm Thị V, đã được UBND T3 Hải Hưng cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số 932 ngày 25/10/1991 mang tên cụ Nguyễn Văn T4 ở tờ
bản đồ số 3, thửa 71, diện tích 215m
2
đất ở và thửa 70, diện tích 200m
2
đất ao. Năm
1990, cụ T4 chết. Sau đó gia đình đã làm thủ tục thừa kế sang tên giấy chứng nhận
cho cụ Phạm Thị V. Ngày 26/6/2014, cụ Phạm Thị V đã được UBND huyện M cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 70+71, tờ bản đồ số 03, diện tích
370m
2
(đất ở nông thôn 294m
2
, đất nuôi trồng thủy sản 76m
2
). Ngày 07/7/2023, cụ
Phạm Thị V được Văn phòng đăng ký đất đai T3 H cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất từ thửa 70+71, tờ bản đồ số 03 trở thành thửa số 287, tờ bản đồ 41, diện
tích 382,40m
2
(293,40m
2
đất ở, 89m
2
đất trồng cây lâu năm). Sau đó, cụ V tách
thửa đất này ra làm 2 thửa: gồm thửa số 290, tờ bản đồ 41, diện tích 267,60m
2
(gồm 178,60m
2
đất ở, 89m
2
đất trồng cây lâu năm) đã được Văn phòng đăng ký đất
đai T3 H cấp giấy chứng nhận mang tên ông Nguyễn Văn T ngày 20/9/2023, diện
tích đất còn lại tách cho anh Nguyễn Văn T3 tại thửa đất số 289, tờ bản đồ số 41,
diện tích 114,80m
2
đất ở. Quá trình cấp giấy chứng nhận từ năm 1991, năm 2014,
năm 2023 gia đình cụ V, ông T, anh T3 không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về
việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không có tranh chấp với hộ giáp
7
ranh. Hộ gia đình cụ V, ông T và hộ gia đình ông B sử dụng đất ổn định, không có
tranh chấp về mốc giới.
Tòa án đã tiến hành đào hố kiểm tra vị trí giáp tường bếp (kho để đồ cũ nhà
ông T) tại vị trí sân trạt phía bên nhà ông B (điểm tiếp giáp giữa bếp + chuồng gio
cũ nhà ông T), các công trình này của nhà ông T được xây dựng từ năm 1976 xác
định là móng thẳng, không có móng loe sang nhà ông B; đào tiếp 1 hố trong
chuồng gio nhà ông T thì thấy phần móng có nhô ra 10cm về phía nhà ông T,
không có móng về phía nhà ông B. Tại bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày
07/9/2022 thể hiện cụ Phạm Thị V và bà Phạm Thị N đã ký giáp ranh hộ liền kề,
xác định ranh giới đất giữa nhà cụ V và nhà bà N là góc tường ranh giới chạy theo
mép ngoài tường xây (bức tường này do nhà ông T xây), các bên không có tranh
chấp và đều xác định ranh giới mốc giới ổn định như hiện trạng đang sử dụng. Như
vậy, gia đình cụ V, ông T đã nhiều lần làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, tách đất, mỗi lần làm lại giấy chứng nhận, tách đất đều được các cơ
quan nhà nước xuống đo đạc và xác định không có tranh chấp mốc giới với các hộ
liền kề nên mới được cấp giấy chứng nhận. Sau khi nhận được giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, không ai có khiếu nại gì. Tại thời điểm cụ V làm thủ tục tách
thửa và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T năm 2023, hai hộ đã ký
kết giáp ranh và sau đó hai hộ đều không thay đổi hiện trạng sử dụng đất, không ai
thay đổi ranh giới, mốc giới đất. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu ông Vũ Văn B, bà Phạm Thị N trả
lại 2,8m
2
đất ở vị trí sau nhà mái bằng, nhà mái ngói của ông T (theo sơ đồ hiện
trạng là các điểm A4-A15-A14-A13-A4), cần giữ nguyên mốc giới đất của hai hộ
theo hiện trạng đang sử dụng.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T về việc yêu cầu ông B,
bà N trả lại 8m
2
ở vị trí ngõ đi vào nhà ông B (theo sơ đồ hiện trạng là các điểm
A16-A12-A11-A17-A16) thấy rằng: Bức tường giáp với ngõ đi là do gia đình
ông T xây, mép ngoài bức tường chính là ranh giới giữa nhà ông T với ngõ đi
chung được thể hiện tại biên bản mô tả ranh giới. Gia đình ông B, bà N xây trụ
cổng trên đất lối đi chung do UBND xã C quản lý chứ không xây vào đất được cấp
sổ đỏ của hộ ông T nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông T về việc đòi
lại 8m
2
đất lối đi chung.
Đối với phần diện tích lối đi chung gia đình ông B sử dụng và đã xây cổng
trên ngõ đi, UBND xã C đề nghị tạm thời để cho gia đình ông B sử dụng, khi nào
địa phương sử dụng đến thì hộ ông B phải trả lại cho tập thể.
[3] Về chi phí xem xét thẩm định giá: Do yêu cầu khởi kiện của ông
Nguyễn Văn T không được chấp nhận nên ông T phải chịu chi phí xem xét thẩm
định giá tài sản là 6.100.000 đồng (ông T đã nộp xong).
[5] Về án phí: Ông Nguyễn Văn T thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án
phí dân sự sơ thẩm. Trả lại ông T 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại
Chi cục Thi hành án dân sự huyện M.
Vì các lẽ trên,
8
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Các Điều 175, 176 của B luật Dân sự 2015;
- Điều 166, Điều 170, Điều 202, Điều 203 Luật đất đai 2013;
- Các Điều 227, 228 , 271, 273, Điều 157 của B luật Tố tụng dân sự;
- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T về việc yêu
cầu ông Vũ Văn B, bà Phạm Thị N trả lại 2,8m
2
đất ở vị trí sau nhà mái bằng,
nhà mái ngói cũ của ông T (theo sơ đồ hiện trạng là các điểm A4-A15-A14-A13
đến A4). Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T về việc
yêu cầu ông B, bà N trả lại 8m
2
ở vị trí ngõ đi vào nhà ông B (theo sơ đồ hiện
trạng là các điểm A16-A12-A11-A17 đến A16).
2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Do yêu cầu
khởi kiện của ông T không được chấp nhận nên ông Nguyễn Văn T phải chịu
toàn B chi phí xem xét, thẩm định giá tài sản (ông T đã nộp xong).
3. Về án phí: Ông Nguyễn Văn T thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí
dân sự sơ thẩm.
Trả lại ông Nguyễn Văn T số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại
Chi cục Thi hành án dân sự huyện M theo Biên lai ký hiệu: BLTU/23 số
0006792 ngày 08/11/2024.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
- VKSND huyện M;
- Chi cục THA dân sự huyện M;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Thanh Nhàn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 14/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 14/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 05/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 01/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 31/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 30/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 30/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 29/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 25/07/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm