Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 29/03/2024 của TAND huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 06/2024/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 06/2024/HNGĐ-ST ngày 29/03/2024 của TAND huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Bắc Tân Uyên (TAND tỉnh Bình Dương) |
| Số hiệu: | 06/2024/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 29/03/2024 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà Lê Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn là ông Trương Miinh H |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 06/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 3 - 2024
Về việc: “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Vũ Thị Hạnh;
2. Ông Đoàn Văn Lước.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc
Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình
Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Anh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân
Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số
116/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2023 về việc: Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST-HNGĐ
ngày 01 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2024/QĐST-
HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ C, ấp A, xã T,
huyện B, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trương Minh H, sinh năm 1993; địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện
B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 06/10/2023, văn bản tự khai ngày 23/01/2024, qua
hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Lê Thị N trình bày: Chị N
và bị đơn là anh Trương Minh H tự nguyện sống chung từ năm 2014, có đăng ký
kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương vào ngày
2
20/10/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung cùng gia đình chồng tại ấp
G, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương và có 01 con chung tên Trương Ngọc Bảo T,
sinh ngày 22/11/2014. Vợ chồng thực tế chỉ sống chung hạnh phúc được 02 năm
đầu sau khi kết hôn, từ năm 2016 đến nay vợ chồng luôn xảy ra bất hòa, cải
nhau dẫn đến mâu thuẫn gay gắt, nguyên nhân: Sau khi sinh con chung thì anh
H không lo làm ăn, không biết tìm kiếm việc làm để gánh vác kinh tế gia đình,
tổ ấm, việc làm ăn tìm kiếm thu nhập, nuôi chăm sóc con chung tự do chị N
gánh vác, riêng anh H bỏ mặc, thờ ơ, vô cảm. Năm 2016, chị N đưa con chung
về tá túc, sinh sống tại nhà mẹ đẻ để làm ăn nuôi con tại ấp A, xã T, huyện B và
anh H cũng không đến hỏi thăm, chăm sóc con. Nay xét thấy hạnh phúc gia đình
không thể hàn gắn, đoàn tụ, chị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly
hôn anh H. Khi ly hôn, chị N yệu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con
chung Trương Ngọc Bảo T, sinh ngày 22/11/2014, không yêu cầu anh H phải
cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung chị N không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, cán bộ Tòa án đã đến tại nơi cư
trú của bị đơn Trương Minh H tại ấp G, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương để
tống đạt các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo mở phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo mở
phiên tòa sơ thẩm cho bị đơn là anh Trương Minh H, anh H trực tiếp ký nhận
đầy đủ các văn bản tố tụng nêu trên nhưng không đến Tòa án tham gia tố tụng,
không tham gia hòa giải, phiên tòa sơ thẩm, đồng thời cũng không có văn bản
phản đối yêu cầu khởi kiện xin ly hôn, tranh chấp người trực tiếp nuôi con theo
yêu cầu khởi kiện của chị N.
Tại phiên tòa, bị đơn Trương Minh H vắng mặt, không có văn bản phản
đối yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn Lê Thị N, không phản tố yêu
cầu chia tài sản chung, nợ chung của vợ chồng. Chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu
khởi kiện được ly hôn chồng và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung
tên Trương Ngọc Bảo T, sinh ngày 22/11/2014, không yêu cầu anh H phải cấp
dưỡng nuôi con và không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung, nợ chung
đồng thời chị N có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn.
* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa: Từ khi thụ lý vụ
án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán chủ tọa và Thư ký Tòa án đã
thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với người tiến hành
tố tụng, vụ án được đưa ra xét xử trong thời hạn luật định. Nguyên đơn Lê Thị N
đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, riêng bị đơn Trương
Minh H đã nhận đầy đủ các văn bản thông báo tham gia tố tụng nhưng không
3
đến Tòa án theo thông báo, không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, không tham gia phiên tòa sơ thẩm là chưa chấp hành đúng quy định
về quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án
xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chị Lê Thị N được ly hôn
anh Trương Minh H, chị N được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con
chung Trương Ngọc Bảo T, sinh ngày 22/11/2014. Ghi nhận sự tự nguyện của
chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không
xem xét giải quyết do các đương sự không có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát
biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bị đơn Trương Minh H có nơi cư trú tại Ấp G, xã T, huyện B, tỉnh
Bình Dương nên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn Lê Thị N do Tòa
án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương thụ lý, xét xử là đúng thẩm
quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a
khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn Trương Minh H đã Tòa án được tống đạt hợp lệ các thông báo
thời gian, địa điểm tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng vắng mặt không lý do và
cũng không gửi ý kiến bằng văn bản chấp nhận hay phản đối yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn Lê Thị N, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại
điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có
đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, Tòa án căn cứ Điều 238
Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả đương sự theo thủ tục chung.
[3] Anh Trương Minh H, chị Lê Thị N chung sống có đăng ký kết hôn tại
Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương vào ngày 20/10/2014 nên đây
là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp theo pháp luật về Hôn nhân và gia đình. Chị
N khởi kiện đơn phương yêu cầu ly hôn anh Trương Minh H là có căn cứ theo
quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Tòa án chấp
chấp nhận. Xét yêu cầu khởi kiện của chị N, lời trình bày của chị N và kết quả
xác minh của Tòa án tại nơi vợ chồng thường xuyên sinh sống thấy rằng mâu
thuẫn giữa vợ chồng chị N, anh H đã phát sinh từ năm 2016 và kéo dài trong
nhiều năm không thể hàn gắn, giải tỏa mâu thuẫn vợ chồng dẫn đến vợ chồng
phải sống ly thân nhau. Trong thời gian ly thân, chị N và anh H không liên lạc,
không quan tâm nhau. Do đó, chị N yêu cầu được ly hôn anh H vì mâu thuẫn vợ

4
chồng là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn
nhân và gia đình.
[4] Về người trực tiếp nuôi con khi ly hôn: Chị N, anh H có 01 con chung
là cháu Trương Ngọc Bảo T, sinh ngày 22/11/2014, hiện đang do chị N trực tiếp
nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh H nhận được thông báo tham gia tố tụng nhưng
không có văn bản phản đối yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung của chị N. Do
đó, để đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của người chưa thành niên nên tiếp tục
giao cháu T cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là đúng quy định
tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải
quyết nên không đặt ra xem xét.
[6] Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, đề nghị xử chấp nhận cho bà N được ly hôn anh H, chị N được trực
tiếp nuôi con chung chưa đủ 18 tuổi khi ly hôn là phù hợp quy định pháp luật
được Tòa án chấp nhận.
[7] Về án phí: Chị Lê Thị N phải nộp án phí hôn nhân và gia đình theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, khoản 1
Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều
57, 58, 59, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ Điều 26,
Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị N đối với anh Trương
Minh H về việc xin ly hôn.
1.1.Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị N được ly hôn với anh Trương Minh
H.
1.2. Về con chung: Chị Lê Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trương
Ngọc Bảo T, sinh ngày 22/11/2014.
1.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án
không đặt ra xem xét, giải quyết.
5
1.4. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án
không đặt ra xem xét, giải quyết.
2. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị N phải nộp 300.000đ
(Ba trăm nghìn đồng) và được khấu trừ toàn bộ vào số tiền đã nộp tạm ứng án
phí trước đây tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2021/0010579 ngày
09/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bắc Tân Uyên.
3. Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án
được niêm yết công khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bình Dương;
- VKSND tỉnh Bình Dương;
- VKSND huyện Bắc Tân Uyên;
- Chi cục THADS H. Bắc Tân Uyên;
- UBND xã T, huyện B, T. Bình Dương;
- Các đương sự;
- Lưu: HSVA, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Thanh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 21/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 19/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm