Bản án số 06/2022/KDTM-PT ngày 27-07-2022 của TAND tỉnh Quảng Bình về tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hoá
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án 06/2022/KDTM-PT Quảng Bình
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án 06/2022/KDTM-PT Quảng Bình
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 06/2022/KDTM-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 06/2022/KDTM-PT ngày 27-07-2022 của TAND tỉnh Quảng Bình về tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hoá |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về mua bán hàng hóa |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Quảng Bình |
| Số hiệu: | 06/2022/KDTM-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 27/07/2022 |
| Lĩnh vực: | Kinh doanh thương mại |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm B và Công ty TNHH Vận tải biển T tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hoá |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ VIỆT NAM
TỈNH QUẢNG BÌNH Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
Bản án số: 06/2022/KDTM - PT
Ngày: 27 - 7 - 2022
“ V/v: Tranh chấp hợp đồng
Vận chuyển hàng hoá"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Long
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nghĩa
Ông Nguyễn Thái Sơn
Thư ký phiên Tòa: Ông Đặng Xuân Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Phương Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình
xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 02/2022/TLPT-
KDTM ngày 14 tháng 2 năm 2022, về việc “Tranh chấp hợp đồng vận chuyển
hàng hoá” do Bản án số 09/2021/KDTM-ST ngày 24 tháng 12 năm 2021 của Tòa
án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình có kháng cáo; theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số: 1014/2022/QĐ-PT ngày 13 tháng 5 năm 2022, giữa:
Nguyên đơn: Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm B; Địa chỉ: Tầng 11 tòa nhà
số 263, đường C, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Hoài A - Tổng giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: ông Vũ Minh H – Phó
Tổng giám đốc (theo quyết định về việc ủy quyền tham gia tố tụng số 0269/QĐ-
QLRR ngày 15/02/2019 của Tổng giám đốc Công ty cổ phần Bảo hiểm B), vắng
mặt.
Người được ủy quyền lại: Bà Lê Xuân Q – chức vụ : Trường phòng Ban
quản lý rủi ro Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm B, có mặt
Bà Cù Thị Thu H – Chức vụ: Cán bộ Ban quản lý rủi ro Tổng công ty cổ
phần Bảo hiểm B; có mặt
2
Ông Phạm Trường Th – Chức vụ: Phó trưởng phòng Giám định bồi thường
– Công ty Bảo hiểm B Bắc Trung Bộ, vắng mặt.
(Theo văn bản ủy quyền ngày 19 tháng 04 năm 2022) Có mặt.
Bị đơn: Công ty TNHH Vận tải biển T; Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường Bắ,
thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; Người đại diện theo pháp luật: Bà Trương Thị
Thanh T - Giám đốc. có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1, Công ty cổ phần vật liệu xây dựng V; Địa chỉ: Thôn X, xã V, huyện T,
tỉnh Quảng Bình; Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Nam T - Tổng giám đốc;
Đại diện theo ủy quyền ông Phạm Duy Đ, Nhân viên Công ty Công ty Cổ phần
vật liệu xây dựng V. Theo văn bản ủy quyền ngày 25/12/2018. Vắng mặt.
2, Công ty TNHH thương mại N; Địa chỉ: Số 8 lô 17 đường B, phường Đ,
quận H, thành Phố Hải Phòng; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tiến
H - Giám đốc. Vắng mặt.
3, Công ty TNHH MTV Th; Địa chỉ: Thôn C, xã D, huyện K, tỉnh Hải
Dương; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Anh T, Giám đốc; Người đại
diện theo ủy quyền: Ông Nguyến Tuấn A, Phó Giám đốc. Theo văn bản ủy quyền
ngày 18/4/2019. Vắng mặt.
4, Người giám định: Ông Trần Văn Bảo Ch; Địa chỉ: Số 113 đường B,
Phường 2, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/11/2018, Đại diện theo uỷ quyền của
nguyên đơn trình bày qua các bản tự khai, tờ trình, biên bản hòa giải cũng như
tại phiên tòa sơ thẩm:
Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm B (sau đây gọi là “BI”) là Công ty bảo
hiểm phi nhân thọ hoạt động theo Giấy phép thành lập và hoạt động số
11GP/KDBH của Bộ Tài Chính cấp ngày 10/04/2006. Công ty Bảo hiểm B Bắc
Trung Bộ (sau đây gọi là “BI Bắc Trung Bộ”) là một công ty thành viên hạch
toán phụ thuộc của BI.
Ngày 15/01/2017, Công ty cổ phần vật liệu xây dựng (sau đây gọi là ST)
và Công ty TNHH Vận tải biển T (sau đây gọi là Công ty Trường T) đã ký kết
Hợp đồng thuê tàu số 02A/2017/HĐVC/VCM-TT. Theo Phiếu vận chuyển số
90/PVC/VCM, ngày 23/07/2017, Công ty Trường T nhận vận chuyển lô hàng
2.400,140 tấn clinker của ST từ Cảng Thắng L, Quảng Bình và giao lại cho ST tại
Cảng tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh; phương tiện vận chuyển là tàu N 79,
theo Phiếu xác nhận tàu vận chuyển số 15/2017/XNVC/VCM-TT ngày
3
17/7/2017, ngày xếp hàng dự kiến 21/07 - 26/07/2017, ngày dỡ hàng dự kiến
28/07 - 02/08/2017.
Sau khi ký Phiếu vận chuyển với Công ty Trường T, ST đã gửi thông báo
tới BI Bắc Trung Bộ để yêu cầu bảo hiểm cho lô hàng clinker được vận chuyển
trên tàu N 79. Trên cơ sở Đơn bảo hiểm số 0001/2016-VCM ký kết giữa BI và
ST cùng với yêu cầu bảo hiểm của ST, ngày 21/07/2017, BI Bắc Trung Bộ đã cấp
Đơn bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trên lãnh thổ Việt Nam số 0416VCM0332
cho ST để bảo hiểm cho lô hàng 2.400,140 tấn Clinke trị giá 2.613.752.460 VNĐ
được vận chuyển trên tàu N 79 từ cảng Thắng L, tỉnh Quảng Bình đến cảng tại
khu vực Cảng Thành phố Hồ Chí Minh “Giấy chứng nhận bảo hiểm”.
Ngày 23/07/2017, tàu N 79 đã nhận đủ 2.400,14 tấn Clinker “lô hàng
clinker” tại cảng Thắng L, tỉnh Quảng Bình để vận chuyển về Cảng tại khu vực
Thành phố Hồ Chí Minh.
Trên đường hành trình từ Quảng Bình về cảng tại TP.HCM để trả hàng,
khoảng 00h15 ngày 28/07/2017, tại tọa độ (10-18’200N, 107-06’800E), cách
phao số 1,2 khoảng 03 hải lý khi tàu đang hành trình trên biển Vũng Tàu thì
Thuyền phó 2 - là người đang trong ca lái cảm nhận tàu bị va đập và rung lắc
mạnh. Sau khi hành trình được 5 phút, mũi tàu bên mạn phải có dấu hiệu chìm
dần. Nhận thấy nguy cơ tàu chìm, thuyền trưởng đã xin phép Cảng vụ Vũng Tàu
cho tàu N 79 vào bãi cạn gần đó để hạn chế tổn thất. Sau đó, thuyền trưởng đã
gửi kháng nghị hàng hải đến Cảng vụ Vũng Tàu đồng thời thông báo sự cố đến
các bên liên quan.
Khi tổn thất xảy ra, ST đã thông báo cho BI Bắc Trung Bộ. Nhận được
thông báo, BI Bắc Trung Bộ chỉ định Công ty Cổ phần Giám định Hải L
(SEDICORP) tiến hành giám định tổn thất.
Chứng thư giám định số 34802.TEC.17HCM ngày 01/11/2017 của Công ty
Cổ phần Giám định Hải L (SEDICORP) kết luận: “Toàn bộ 2.400 tấn Clinker
chở trên tàu N 79 trong chuyến hành trình bị sự cố nêu trên đã bị tổn thất toàn bộ.
Nguyên nhân tổn thất: trong hành trình của tàu N 79, khoảng 00 giờ 15 phút ngày
28/07/2017, tàu hành trình đến biển Vũng Tàu, tại vị trí có tọa độ (10-18’200N,
107-06’800 E) thì đáy tàu bên mạn phải phía mũi tàu đã va chạm với vật cứng
không xác định bên dưới mặt nước, làm đáy tàu bị thủng, nước biển tràn vào các
khoang cách ly thông qua các lỗ thủng này;
Trong khi đó, giữa hầm hàng và các khoang cách ly không được kín nước
vì hai lý do: Do các kết cấu thép của các khoang đã bị rỉ mục, sự va chạm mạnh
làm biến dạng các kết cấu này tạo ra các lỗ thủng/vết nứt thông giữa các khoang
4
và hầm hàng; những lỗ thủng/khe hở có sẵn trước sự cố do rỉ mục tự nhiên của
các kết cấu thép.
Do vậy, nước từ các khoang cách ly tiếp tục chảy vào các hầm hàng làm
hàng hóa bị ướt và phát sinh tổn thất.”
Do lô hàng Clinker đã bị tổn thất toàn bộ, ngày 31/07/2017 STARCEM đã
gửi công văn cho BI Bắc Trung Bộ và Công ty Trường T thông báo từ chối nhận
hàng clinker trên tàu N 79 và tuyên bố từ bỏ hàng hóa. Ngày 26/12/2017,
STARCEM đã gửi Yêu cầu bồi thường cho BI Bắc Trung Bộ yêu cầu bồi thường
tổn thất toàn bộ theo Đơn bảo hiểm đã cấp. Ngày 09/02/2018, căn cứ vào Đơn
bảo hiểm hàng hóa số 0416VCM0332 ngày 21/07/2017 và các tài liệu, chứng cứ
liên quan đến hồ sơ tổn thất, BI Bắc Trung Bộ đã bồi thường ST số tiền là
2.613.752.46 đồng. ST đã nhận tiền bồi thường, ký văn bản chấp nhận và thế
quyền để chuyển giao quyền yêu cầu đòi bồi thường cho BI Bắc Trung Bộ với
bên thứ ba.
Sau khi nhận được thế quyền từ ST, ngày 25/07/2018, BI Bắc Trung Bộ đã
chính thức gửi công văn số 120/CV-GĐBT tới Công ty Trường T để yêu cầu
Công ty Trường T bồi hoàn tổng số tiền 3.288.871.845 đồng, trong đó, nợ tiền
hàng 2.613.752.460 đồng, lãi 10% năm từ ngày 09/02/2018 đến 24/12/2021 là
675.219.385 đồng, nhưng công ty Trường T không thanh toán nên BI khởi kiện
yêu cầu công ty Trường T phải thanh toán số tiền trên.
* Bị đơn Công ty TNHH Vận tải biển T, bà Trần Thị Thanh T đại diện
trình bày qua các bản tự khai, tờ trình, biên bản hòa giải cũng như tại phiên tòa
sơ thẩm:
Vào ngày 15/01/2017, Công ty Trường T ký kết Hợp đồng thuê tàu số:
02A/2017/HĐVC/VCM-TT với STARCEM với các điều khoản trong nội dung
hợp đồng đã được thỏa thuận và cam kết thực hiện giữa hai bên.
Sau đó vào ngày 20/7/2017 Công ty TNHH Vận tải biển T tiếp tục ký kết
Hợp đồng thuê tàu vận chuyển hàng hóa số: 20.07.17/TT-NV với Công ty TNHH
MTV Th để Công ty TNHH MTV Th với các điều khoản trong nội dung hợp
đồng đã được thỏa thuận và cam kết thực hiện giữa hai bên mà trước đó Công ty
đã ký kết với Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng V. Phương tiện vận chuyển theo
hợp đồng là tàu N 79 và trách nhiệm của phía Công ty TNHH MTV Th có nội
dung cam kết: “Nếu Bên B làm thất thoát hàng hóa, ẩm ướt, hư hỏng, hay bất cứ
nguyên nhân gì cũng được coi là tổn thất thì phải bồi thường cho Bên A 100%
giá trị thiệt hại số hàng bị thất thoát, hư hỏng theo đơn giá của Nhà máy tại thời
điểm phát sinh và các chi phí phát sinh nếu có." Sau đó Công ty TNHH MTV Th
5
thực hiện việc vận chuyển hàng hóa vận chuyển theo hợp đồng trên lại xẩy ra sự
cố vào ngày 28/7/2017 tại vùng biển Vũng Tàu gây tổn thất toàn bộ lô hàng.
Toàn bộ lô hàng này trước đó phía Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng V
đã được mua bảo hiểm Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng B. Theo
Chứng thư giám định, nguyên nhân gây ra tổn thất là do lỗi của đơn vị vận
chuyển. Chính vì vậy, Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng B đã thanh
toán cho Người được bảo hiểm là Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng V với tổng
số tiền 3.288.871.845 đồng, trong đó, nợ tiền hàng 2.613.752.460 đồng, lãi 10%
năm từ ngày 09/02/2018 đến 24/12/2021 là 675.219.385 đồng. Đồng thời phía
Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng B đã nhận được thế quyền của chủ
hàng là Công ty Cổ phần vật liệu xây dựng V. Công ty Trường T chỉ đơn vị môi
giới mà đơn vị trực tiếp vận chuyển là Công ty Th. Khi vận chuyển Công ty Cổ
phần vật liệu xây dựng V đồng ý cho Tàu N 79 vận chuyển, hiện nay hợp đồng
không có bản gốc chỉ bản phô tô, khi xẩy ra chìm tàu phía bảo hiểm tự mời giám
định các bên liên quan không biết, giấy thế quyền không rõ ràng. Do đó, với yêu
cầu khởi kiện của Tổng Công ty Bảo hiểm Công ty Trường T không đồng ý.
* Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần vật
liệu xây dựng do ông Phạm Duy Đông trình bày:
Ngày 28/7/2017 tàu N 79 vận chuyển 2.400 tấn Clinker của ST từ cảng
Thắng L đến cảng khu vực tại Thành phố Hồ Chí Minh để trả hàng. Tuy nhiên
khi đang hành trình vận chuyển thì tàu va chạm với đá ngầm làm thủng đáy tàu
khiến nước biển tràn vào các khoang làm hư hỏng toàn bộ 2.400 tấn Clinker. Căn
cứ vào hợp đồng bảo hiểm, chứng thư bảo hiểm mà các bên đã ký kết và căn cứ
vào kết quả giám định tài sản, Công ty đã yêu cầu Tổng Công ty Bảo hiểm BI bồi
thường thiệt hại xẩy ra đối với lô hàng Clinker trên tàu N 79 với số tiền
2.613.752.460 đồng. Đến ngày 09/3/2018 Công ty đã nhận đủ số tiền bồi thường
do Bảo hiểm chuyển trả. Vậy Công ty đã nhận được số tiền đầy đủ liên quan đến
vụ tổn thất trên. Và không có thêm bất cứ yêu cầu nào đối với vụ việc trên.
* Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH MTV
Th do ông Nguyễn Tuấn Anh trình bày:
Công ty TNHH MTV Th và Công ty TNHH Vận tải biển T đã thể hiện rõ
trong các điều khoản của Hợp đồng vận chuyển số 20.07 ngày 20/7/2017. Cụ thể
theo nội dung của hợp đồng Công ty Trường T cho Công Ty Th thuê lại tàu N 79
để vận chuyển, khi xẩy ra chìm tàu số lượng hàng hóa, giá trị hàng hóa được xác
định theo đơn giá của nhà máy Công ty Th không biết có phù hợp hay không. Khi
chìm tàu nguyên nhân chìm tàu do các bên xác nhận Công ty Th không tham gia
không biết được nguyên nhân chìm tàu là gì.
6
* Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH thương
mại N: Qua giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Công ty không có mặt nên
không có ý kiến.
Tại Bản án số 09/2021/KDTM-ST ngày 24 tháng 12 năm 2021 của Tòa án
nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ
luật tố tụng dân sự; Áp dụng các khoản 2 Điều 365, 385, 386, 398, 401 của Bộ
luật dân sự 2015; Xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tổng Công ty cổ
phần bảo hiểm B về việc yêu cầu Công ty TNHH Vận tải biển T phải trả số tiền
3.288.871.845 đồng, trong đó, nợ tiền hàng 2.613.752.460 đồng, lãi là
675.219.385 đồng
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản
1 Điều 13, 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Buộc Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm B phải chịu án phí 74.577.000
đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 42.137.524 đồng tại
biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0000749 ngày 13/12/2018 tại Chi
cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới. Số tiền còn thiếu 32.439.476 đồng
buộc Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm B phải nộp để sung quỹ Nhà nước.
Bản án còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của đương
sự.
Ngày 04 tháng 1 năm 2022, nguyên đơn Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm B
có đơn kháng cáo với nội dung: kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm ngày
24/12/2021 của Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình . Đề nghị
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm lại vụ án; xác định lỗi vi
phạm hợp đồng thuộc trách nhiệm Công ty TNHH Vận tải biển T, chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 05 tháng 5 năm 2021 sau khi được Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình
triệu tập Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm B trình bày tại Bản tự khai:
Ý kiến của nguyên đơn tại phiên tòa phúc thẩm: Giữ nguyên các nội dung
trong đơn kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn Tổng Công ty Bảo hiểm B không rút
đơn khởi kiện, đại diện uỷ quyền nguyên đơn giữ nguyên đơn kháng cáo.
Ý kiến đại diện diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Việc tuân theo
7
pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như các
đương sự đều thực hiện đúng các quy định của Bộ Luật TTDS.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều
309 của Bộ luật tố tụng dân sự, sửa án sơ thẩm, Buộc công ty TNHH Trường T
có trách nhiệm bồi thường cho Tổng công ty Bảo hiểm B số tiền 3.288.871.845
đồng, trong đó, nợ tiền hàng 2.613.752.460 đồng, lãi là 675.219.385 đồng
Về án phí buộc công ty Trường T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, Tổng
công ty bảo hiểm B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại
phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Về tố tụng: Ngày 24/12/2021, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xét
xử sơ thẩm vụ án, ngày 04/01/2022 nguyên đơn Tổng công ty bảo hiểm B, làm
đơn kháng cáo, đơn kháng cáo của bị đơn làm trong hạn luật định, đúng trình tự
quy định pháp luật, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được Tòa án cấp phúc
thẩm chấp nhận để xét xử theo quy định tại các điều 272, 273 Bộ luật tố tụng
Dân sự.
Tại phiên tòa, Đại diện theo ủy quyền nguyên đơn Tổng Công ty Bảo hiểm
B có mặt, đại diện theo pháp luật của bị đơn công ty TNHH Vận tải biển T có
mặt. Các người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phàn vật liệu xây
dựng Việt Nam, công ty TNHH thương mại N và công ty TNHH MTV Th đã
được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, Căn cứ khoản 2
Điều 227 Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án.
[3]. Xét tư cách khởi kiện của Tổng Công ty bảo hiểm B
Hội đồng xét xử xét thấy: Công ty Bảo hiểm B Bắc Trung Bộ là một công
ty thành viên hạch toán phụ thuộc của Tổng Công ty bảo hiểm B, vì vậy Công ty
Bảo hiểm B Bắc Trung Bộ không có tư cách pháp nhân theo Điều 74 Bộ luật dân
sự 2015. Các thỏa thuận giao kết giữa Công ty Bảo hiểm B Bắc Trung Bộ với
khách hàng là Công ty Bảo hiểm B Bắc Trung Bộ đại diện Tổng Công ty Bảo
hiểm B để ký kết. Do Công ty Bảo hiểm B Bắc Trung Bộ không có tư cách pháp
nhân nên Tổng Công ty Bảo hiểm B sẽ là Nguyên đơn để thực hiện các thủ tục
khởi kiện tại Tòa án là đảm bảo quy định về quyền khởi kiện của đại diện pháp
nhân. Tổng Công ty bảo hiểm B là công ty bảo hiểm phi nhân thọ hoạt động theo
Giấy phép thành lập và hoạt động số 11GP/KDBH cấp ngày 10/04/2006, có đầy
dủ tư cách pháp nhân. Công ty Bảo hiểm B Bắc Trung Bộ là một Công ty thành

8
viên (Chi nhánh) của Tổng Công ty bảo hiểm B (Theo mục 16 Phụ lục kèm Giấy
phép điều chỉnh số 11/GPĐC7/KDBH ngày 01/10/2010), do đó Tổng Công ty
bảo hiểm Bđại diện Công ty bảo hiểm B Bắc Trung Bộ khởi kiện là đúng theo
quy định pháp luật.
Bản án sơ thẩm cho rằng: Công ty Bảo hiểm nhận thế quyền và khởi kiện
vụ án là phù hợp với với quy định của pháp luật dân sự về thế quyền theo khoản
2 Điều 365 Bộ luật dân sự: “Khi bên có quyền yêu cầu chuyển giao quyền yêu
cầu cho người thế quyền thì người thế quyền trở thành bên có quyền yêu cầu”.
Theo quy định tại Điều 49 của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 quy
định “Trong trường hợp người thứ ba có lỗi gây thiệt hại cho người được bảo
hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm đã trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm
thì người được bảo hiểm phải chuyển quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn
khoản tiền mà mình đã nhận bồi thường cho doanh nghiệp bảo hiểm”. Theo Giấy
biên nhận và thế quyền, ST chuyển quyền cho Công ty bảo hiểm B Bắc Trung
Bộ, Do đó Tổng Công ty bảo hiểm B có quyền khởi kiện để đòi lại số tiền đã bồi
thường cho người được bảo hiểm.
[2]. Về nội dung vụ án:
Theo sự thừa nhận của các bên và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, hội đồng
xét xử thấy: Công ty ST và công ty TNHH Vận tải biển T có ký kết hợp đồng
thuê tàu số 02A/2017/HĐVC/VCM-TT ngày 15/01/2017 với nội dung là công ty
ST đồng ý thuê và công ty Trường T đồng ý nhận dịch vụ vận chuyển hàng hóa
bằng đường biển. Hợp đồng được các đại diện theo pháp luật của công ty ký và
đóng dấu nên có hiệu lực thi hành, các bên có trách nhiệm tuân theo các điều
khoản đã ký kết trong hợp đồng.
Ngày23/7//2017, theo Phiếu vận chuyển số 90/PVC/VCM, Công ty Trường
T nhận vận chuyển lô hàng 2.400,140 tấn Clinker của ST từ cảng Thắng L,
Quảng Bình và giao lại cho ST tại cảng khu vực Tp HCM, hai bên thống nhất
phương tiện vận chuyển là tàu N 79,
Sau khi ký phiếu vận chuyển với công ty Trường T, Công ty ST đã gửi
thông báo tới BI Bắc Trung Bộ để yêu cầu bảo hiểm hàng hóa, ngày 21/7/2017
BI Bắc Trung Bộ đã cấp đơn bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trên lãnh thổ Việt
Nam số 0416VCM0332 cho ST để bảo hiểm cho lô hàng Clinker 2.400,140 tấn,
trị giá 2.613.752.460 đồng được vận chuyển trên tàu N 79 từ cảng Thắng L đến
cảng khu vực TP HCM.
Ngày 28/7/22017 tại tọa độ 10-18’200N; 107 -06’800
E
, trên biển Vũng
Tàu thì tàu 79 gặp sự cố, số Clinker bị tổn thất toàn bộ.
9
Công ty ST đã yêu cầu BI bồi thường và đã nhận đủ tiền 2.613.752.460
đồng, đồng thời ký văn bản thế quyền chuyển giao quyền yêu cầu đòi bồi thường
cho BI với bên thứ 3.
[3] Tại chứng thư giám định số 34802.TEC.17HCM ngày 01/11/2017 của
Công ty Cổ phần giám định Hải L (SEDICORP) kết luận:
Tàu N có kết cấu 02 vách, 02 đáy, khoảng cách giữa 02 vách và 02 đáy là
các khoang trống (tạm gọi là khoang cách ly). Nhiều kết cấu thép bên trong
khoang cách ly đã cũ mục do rỉ sét tự nhiên.
Nguyên nhân do:
“Toàn bộ 2.400,140 tấn Clinker chở trên tàu N trong chuyến hành trình bị
sự cố nêu trên đã bị tổn thất toàn bộ. Nguyên nhân tổn thất: trong hành trình của
tàu N 79, thì đáy tàu bên mạn phải phía mũi tàu đã va chạm với vật cứng không
xác định bên dưới mặt nước, làm đáy tàu bị thủng, nước biển tràn vào các khoang
cách ly thông qua các lỗ thủng này; Trong khi đó, giữa hầm hàng và khoang cách
ly không được kín nước vì 2 lý do:
Do các kết cấu thép của các khoang đã bị rỉ mục, sự va chạm mạnh làm
biến dạng các kết cấu này tạo ra các lỗ thủng/vết nứt thoogn giữa các khoang và
hầm hàng.
Nhưng lỗ thủng/ khe hở có sẵn trước sự cố do rỉ mục tự nhiên của các kết
cấu thép.
Do vậy, nước từ các khoang cách ly tiếp tục chảy vào các hầm hàng làm
hàng hóa bị ướt và phát sinh các tổn thất.”
Sau khi xảy ra sự việc, ngày 31/7/2017 ST đã gửi văn bản cho BI Bắc
Trung Bộ và công ty Trường T thông báo từ chối nhận hàng Clinker trên tàu N và
tuyên bố từ bỏ hàng hóa. Ngày 26/12/2017, ST đã gửi yêu cầu bồi thường cho BI
Bắc Trung Bộ, yêu cầu bồi thường tổn thất toàn bộ theo đơn bảo hiểm đã cấp.
Căn cứ vào Đơn bảo hiểm, các chứng từ liên quan đến thiệt hại, ngày 09/02/2018,
BI Bắc Trung Bộ đã bồi thường cho Stacemt số tiền 2.613.752.460 đồng, ST đã
nhận tiền bồi thường, ký văn bản chấp nhận và thế quyền để chuyển giao quyền
yêu cầu đòi bồi thường cho BI Bắc Trung Bộ với bên thứ ba.
Tại Đơn bảo hiểm hàng hóa số 0416VCM0332 ngày 21/7/2017 có nêu điều
kiện bảo hiểm là ICC (C) 01.01.09 và được điều chỉnh phù hợp với Luật Việt
Nam, mở rộng bao gồm các thiệt hại do Bão lụt, gió lốc, động đất, sóng thần. Tại
Điều khoản bảo hiểm hàng hóa của ICC (C) 01.01.09 ghi các loại trừ được bảo
hiểm, trong đó tại mục 4.2 “Rò rỉ thông thường, hao hụt thông thường về trọng
lượng, thể tích hay rách vỡ thông thường của đối tượng được bảo hiểm.” Tại
10
Điều 8 của hợp đồng thuê tàu số A/2017/HĐVC/VCM-TT giữa công ty ST (bên
A) với công ty Trường T (bên B) có quy định: Bên B sẽ có trách nhiệm bồi
thường cho bên A đối với khối lượng hàng bị ướt hoặc bị suy giảm chất lượng do
lỗi của bên B gây ra trong quá trình vận chuyển hàng hóa. Đơn giá bồi thường
dựa trên cơ sở tính toán theo mức độ suy giảm chất lượng mà bên A phải bồi
thường cho khách hàng cảu bên A”.
[3] Tại Bản tự khai ngày 15/01/2017 của Công ty Trường T có nội
dung“Vào ngày 15/01/2017, Công ty TNHH Vận tải biển T chúng tôi ký kết Hợp
đồng thuê tàu số 02A/2017/HĐVC/VCM-TT với Công ty Công ty Cổ phần vật liệu
xây dựng V với các điều khoản trong nội dung hợp đồng đã được thỏa thuận và
cam kết thực hiện giữa các bên”. Kèm theo Bản tự khai, Công ty Trường T có
cung cấp bản photo Hợp đồng thuê tàu số 02A/2017/HĐVC/VCM-TT
02A/2017/HĐVC/VCM-TT ngày 15/01/2017. Đồng thời, Công ty Trường T thừa
nhận việc ký hợp đồng vận chuyển với Công ty TNHH MTV Th để thuê tàu vận
chuyển hàng hóa của VCM với các điều khoản trong nội dung hợp đồng đã ký
kết với VCM. Sau đó, tại Bản tự khai ngày 19/04/2019, Công ty TNHH MTV Th
tiếp tục thừa nhận đã ký kết Hợp đồng vận chuyển số 20.07.17/TT-NV với Công
ty Trường T và Hợp đồng thuê tàu số 0201/HĐTT/TH-NV ngày 02/01/2017 với
Công ty TNHH N để thuê Tàu N 79 (chủ tàu) vận chuyển lô hàng của VCM.
Kèm theo Bản tự khai Công ty TNHH MTV Th cũng đã cung cấp các Hợp đồng
vận chuyển trên. Như vậy các bên đã cung cấp hợp đồng và công ty Trường T
thừa nhận có sự việc thực tế xảy ra là tàu N đã vận chuyển hàng hoá của Công ty
Cổ phần vật liệu xây dựng V (ST), sau đó xảy ra tai nạn làm ướt, hư hỏng tổn
thất toàn bộ hàng hoá. Như vậy có thể thấy Công ty Trường T là bên trực tiếp
nhận hàng của ST sau đó mới thuê lại các bên trung gian để vận chuyển, nên đối
tượng khởi kiện của BI là Công ty Trường T là có cơ sở
Về việc các bên chỉ cung cấp được 11 trang Hợp đồng thuê tàu số
02A/2017/HĐVC/VCM-TT ngày 15/01/2017 trong khi Hợp đồng được đánh số
15 trang, tuy nhiên, tại trang cuối của Hợp đồng (trang 11) đã có đầy đủ chữ ký,
đóng dấu của Công ty Trường T và VCM, đồng thời trong nội dung Hợp đồng
không có quy định Hợp đồng này có Phụ lục đính kèm, nội dung hợp đồng đầy
đủ các nội dung cơ bản, từ trang 1 đến trang 11 đảm bảo liền mạch nội dung hợp
đồng; do vậy Hợp đồng vận chuyển chỉ có 11 trang và việc đánh số 15 trang thì
căn cứ trên các hồ sơ, lời khai của các bên, viêc không cung cấp, thu thập được
Hợp đồng vận chuyển gốc không ảnh hưởng đến việc xem xét, giải quyết vụ
tranh chấp cũng như xem xét quyền và nghĩa vụ của các bên. Các bên đã có thừa
nhận có sự thỏa thuận, giao kết hợp đồng vận chuyển và thực tế đã có viêc nhận
hàng để vận chuyển dẫn đến tổn thất như BI đã trình bày ở trên. Cụ thể tại Bản
tự khai của Bị đơn là Công ty Trường T, bị đơn đã thừa nhận ký kết Hợp đồng
11
thuê tàu số 02A/2017/HĐVC/CVM-TT với Công ty VCM; đồng thời Trường T
thừa nhận “căn cứ vào chứng thư giám định, nguyên nhân gây ra tổn thất là do
lỗi của đơn vị vận chuyển”, “Chúng tôi sẽ tiếp tục có Đơn yêu cầu độc lập đối
với Công ty TNHH Th để yêu cầu phải có trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện bồi
thường số tiền 2.613.752.460 đồng cho Công ty Trường T chúng tôi”. Như vậy,
Trường T đã thừa nhận trách nhiệm của bên vận chuyển. Có cơ sở để buộc Công
ty Trường T phải bồi hoàn lại số tiền bảo hiểm tàu cho BI, còn việc Công ty
TNHH Th thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng với Công ty Trường T thì Trường
T có thể khởi kiện bằng vụ án khác
[4]. Xét quá trình giám định nguyên nhân hư hỏng không có các bên liên
quan tham gia và giá trị của Báo cáo giám định
Xét Biên bản giám định hiện trường ngày 29/7/2017 có sự tham gia và ký
xác nhận của đại diện tàu N 79 là ông Trần Văn Duyên (thuyền trưởng) và các
phó tàu. Trong đó, giám định viên đã xác nhận sự cố và tình trạng của tàu dựa
trên lời khai của thuyền trưởng, đại phó tàu, phó 2 và các giấy tờ liên quan. Đồng
thời, tại Biên bản giám định hiện trường cũng đã ghi nhận phía tàu khai báo
không cung cấp được các hồ sơ tàu và bằng cấp các thuyền viên trên tàu. Tại
chứng thư giám định số 34802.TEC.17HCM (Trang 4), đơn vị giám định là Công
ty Cổ phần giám định Hải L cho biết đã cố gắng thu thập các thông tin liên quan
đến sự cố và các giấy tờ của tàu nhưng phía tàu N không cung cấp. Ngoài ra, phía
tàu N cũng không phối hợp với Đơn vị giám định trong quá trình giám định tổn
thất, không ký nhiều biên bản giám định hiện trường. Khi giám định viên có mặt
tại hiện trường, các lỗ thủng gần như đã được khắc phục nên rất khó khăn trong
việc tiếp xúc với các kết cấu bên trong khoang cách ly; các lỗ thủng gần như đã
hoàn tất công tác khắc phục, không còn hiện trạng ban đầu, tồn tại các vị trí lỗ
thủng đã bị cắt rời và thay bằng tôn mới, giám định viên không xác định được
chính xác tình trạng các lỗ thủng. Như vậy, việc giám định tàu bị hạn chế bởi
nguyên nhân chủ yếu do phía tàu đã không hợp tác.
Theo Điều 48 Luật kinh doanh bảo hiểm , Công ty giám định Hải L là đơn
vị được BI ủy quyền giám định tổn thất và có toàn quyền thực hiện việc giám
định tổn thất để xác định nguyên nhân và mức độ tổn thất theo Luật kinh doanh
bảo hiểm và chịu trách nhiệm về tính chính xác của kết quả và kết luận trong
Chứng thư giám định. Không có quy định của pháp luật yêu cầu khi giám định
phải có các bên tham gia và ký vào biên bản giám định thì Báo cáo giám định
mới có giá trị pháp lý. Trong báo cáo giám định, phía tàu N 79 đã không phối
hợp với Đơn vị giám định trong quá trình giám định tổn thất, các bên liên quan
đều không có ý kiến phản đối báo cáo giám định. Do vậy, Báo cáo giám định của
Công ty Hải L có hiệu lực với các bên.
12
[5] Sau khi sự cố xảy ra, các bên đã thực hiện bằng các văn bản trao đổi và
xác nhận sự việc, do đó có căn cứ để xác định việc tổn thất là có thất và lỗi do tàu
vận chuyển nên trách nhiệm thuộc về đơn vị nhận vận chuyển là công ty Trường
T.
[5]. Từ các nội dung trên Hội đồng xét xử nhận thấy có cơ sở để chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn BI về sửa Bản án sơ thẩm 09/2021/KDTM-ST
ngày 24 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh
Quảng Bình, chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn BI về việc buộc Công ty
TNHH Vận tải biển T bồi thường cho BI số tiền BI đã bồi thường cho Công ty cổ
phần vật liệu xây dựng là 2.613.752.460 đồng.
Đối với tiền lãi, phía nguyên đơn có yêu cầu lãi và tiền lãi 10%/ năm với số
tiền 675.219.385 đồng do chậm thanh toán tính từ ngày BI bồi thường cho Công ty
cổ phần vật liệu xây dựng là ngày 09/02/2018 đến ngày xét xử sơ thẩm 21/12/2021,
lãi suất này là phù hợp không vượt quá so với quy định của ngân hàng nên được
chấp nhận.
[3]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị,
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4].Về án phí:
Công ty TNHH vận tải Trường T phải thực hiện nghĩa vụ trả
3.288.871.845 đồng nên phải chịu án phí là 72.000.000 đồng + ( 1.288.871.845
đồng x 2% ) = 97.777.436 đồng. Kháng cáo của nguyên đơn được chấp nhận nên
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 38, Điều 147 của Bộ luật tố
tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 308 và 309 của Bộ luật tố tụng dân sự
Áp dụng các khoản 2 Điều 365, 385, 386, 398, 401 của Bộ luật dân sự
2015; Điều 292, Điều 297, Điều 302, Điều 303 và Điều 306 của Luật Thương
mại năm 2005 sửa đổi, bổ sung 2017; khoản 2 Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án, xử:
1, Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm
B, sửa Bản án sơ thẩm:

13
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Tổng Công ty cổ phần bảo
hiểm B, buộc Công ty TNHH Vận tải biển T phải trả số tiền 3.288.871.845 đồng
cho Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm B, trong đó, nợ tiền hàng 2.613.752.460
đồng, lãi là 675.219.385 đồng .
2, Công ty TNHH Vận tải biển T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm của vụ
án kinh doanh thương mại có giá ngạch là: 97.777.436 đồng, Tổng Công ty cổ
phần bảo hiểm B được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 42.137.524 đồng tại
biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0000749 ngày 13/12/2018 tại Chi
cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới
3, Do kháng cáo được chấp nhận nên Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm B
được trả lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 2.000.000 đồng tại Biên lai thu tạm
ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0001093 ngày 24/01/2022 tại Chi cục Thi hành án
dân sự thành phố Đồng Hới
4, Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (27/7/2022).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Quảng Bình;
- Các đương sự ;
- TAND TP. Đồng Hới;
- Chi cục THADS TP. Đồng Hới;
- Lưu: HS vụ án, án văn Tòa DS.
Trần Đức Long
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Bản án số 16/2026/KDTM-PT ngày 14/02/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 14/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm