Bản án số 06/2022/HNGĐ-ST ngày 28/01/2022 của TAND TX. Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 06/2022/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 06/2022/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 06/2022/HNGĐ-ST ngày 28/01/2022 của TAND TX. Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TX. Mỹ Hào (TAND tỉnh Hưng Yên) |
| Số hiệu: | 06/2022/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 28/01/2022 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ MỸ HÀO
TỈNH HƯNG YÊN
Bản án số: 06/2022/HNGĐ-ST
Ngày 28/ 01/ 2022
“V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƢNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Xuân Hùng.
2. Bà Vũ Thị Diệu Thúy
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đăng Toàn - Thư ký của Tòa án nhân dân thị
xã Mỹ Hào.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên tham gia
phiên toà: Bà Phạm Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 28/ 01/ 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
xét xử sơ thẩm công khai vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình thụ lý số
119/2021/TLST-HNGĐ ngày 21/ 10/ 2021 về việc “Kiện ly hôn” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số 03/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/01/2022, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
Đăng ký HKTT: Thôn H, xã H1, thị xã M, tỉnh H2.
Nơi ở: Đội 8, Ngô X, thị trấn N, huyện V, tỉnh H2.
* Bị đơn:
Anh Phạm Tiến D, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
Đăng ký HKTT: Thôn H, xã H1, thị xã M, tỉnh H2.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Cháu Phạm Minh B, sinh ngày 09/9/2015 (Vắng mặt).
Người đại diện theo pháp luật cho cháu B: Anh Phạm Tiến D, sinh năm 1986
(Vắng mặt).
Đều đăng ký HKTT: Thôn H, xã H1, thị xã M, tỉnh H2.
2. Cháu Phạm Ngọc Hà P, sinh ngày 09/9/2019 (Vắng mặt).
Người đại diện theo pháp luật cho cháu P: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1989
(Vắng mặt).
Đều đăng ký HKTT: Thôn H, xã H1, thị xã M, tỉnh H2.
* Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1964 (Vắng mặt).
Đăng ký HKTT: Đội 8, thôn Ngô X, thị trấn N, huyện V, tỉnh H2.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN
Chị Nguyễn Thị L và anh Phạm Tiến D đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân
thị xã H, huyện M (Nay là thị xã M), tỉnh H vào năm 2015 và đã được cấp giấy
chứng nhận kết hôn. Sau ngày cưới, chị L về chung sống cùng anh D.
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Tiến D đăng ký kết hôn tự nguyện tại
Ủy ban nhân dân xã H, huyện M (Nay là thị xã M), tỉnh H năm 2015 và đã được cấp
Giấy chứng nhận kết hôn và sau đó được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo
phong tục tập quán địa phương. Trong quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh
mâu thuẫn, thời điểm mâu thuẫn vào giữa năm 2017 và liên tục mâu thuẫn cho đến
nay. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không thống nhất trong việc làm
ăn xây dựng kinh tế gia đình. Do không thể chịu đựng được nữa nên vào khoảng
tháng 3 năm 2018 vợ chồng ly thân, hiện tại chị đang ở nhà bố mẹ đẻ chị tại thị trấn
N, huyện V, còn anh D vẫn sống ở thôn H, xã H1. Trong thời gian ly thân, hai bên
không quan tâm đến nhau, việc của ai người ấy lo, thu nhập của ai người đó quản
lý. Mặc dù hai bên gia đình đã khuyên bảo để vợ chồng bỏ qua mâu thuẫn nhưng
đến nay tình cảm vợ chồng không được cải thiện. Nay chị xác định, tình cảm vợ
chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể hàn gắn nên không thể sống
chung. Vì vậy, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh D để mỗi
bên ổn định cuộc sống riêng.
Về con chung: Chị và anh D có 02 con chung là cháu Phạm Minh B, sinh
ngày 09/9/2015, đang ở với anh D, cháu Phạm Ngọc Hà P, sinh ngày 09/9/2019,
đang ở với chị. Hiện tại chị đang làm kế toán của Công ty TNHH Brilliant
Enterprise (Công ty sản xuất nến, có địa chỉ: thôn Ngọc L, xã N, thị xã M, tỉnh H),
với mức thu nhập trung bình khoảng 10.000.000đ/ tháng (Mười triệu đồng một
tháng). Anh D hiện tại làm công việc tự do nên đều đủ điều kiện trang trải cuộc
sống và nuôi dạy con chung. Vì vậy, khi ly hôn chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho
chị được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu P đến khi thành niên và anh D
nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu B đến khi thành niên và hai bên không phải
cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Về tài sản, nợ, công sức và ruộng nông nghiệp: Khi ly hôn, chị tự nguyện
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Phạm Tiến Dũng trình bày: Anh D xác định vợ chồng đăng ký
kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn như chị L đã trình bày. Anh đồng ý ly hôn với chị
Lan A và xin nuôi dưỡng cháu B đến khi thành niên anh yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Ngƣời làm chứng bà Nguyễn Thị Kim T (mẹ chị Lan A) trình bày: Chị L
và anh D có mâu thuẫn và anh chị ly thân từ năm 2018 đến nay. Gia đình khuyên bảo
để anh chị hàn gắn mâu thuẫn nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. Đề nghị Tòa án
giải quyết theo nguyện vọng của anh D, chị A.
[2]. Về con chung: Vợ chồng anh D, chị L có 02 con chung là cháu Phạm
Minh B, sinh ngày 09/9/2015, đang ở với anh D, cháu Phạm Ngọc Hà P, sinh ngày

3
09/9/2019, đang ở với chị L. Hiện tại chị đang làm kế toán của Công ty TNHH
Brilliant Enterprise (Công ty sản xuất nến, có địa chỉ: thôn N, xã Ngọc L, thị xã M,
tỉnh H), với mức thu nhập trung bình khoảng 10.000.000đ/ tháng (Mười triệu đồng
một tháng). Anh D hiện tại làm công việc tự do thu nhập 10.000.000 đông/ tháng.
Hai anh, chị đều đủ điều kiện trang trải cuộc sống và nuôi dạy con chung. Vì vậy,
khi ly hôn chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được nuôi dưỡng, chăm sóc và
giáo dục cháu P đến khi thành niên và anh D nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục
cháu B đến khi thành niên và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho
nhau.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành hòa giải đoàn tụ, nhưng
không thành. Vì vậy phải đưa vụ kiện ra xét xử tại phiên tòa hôm nay.
Tại phiên toà hôm nay:
- Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung yêu cầu khởi kiện của chị Lan
A.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Toà án thụ lý vụ án, lấy lời khai, thu thập chứng cứ, thông báo về
phiên họp kiểm tra về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tiến
hành mở phiên họp kiểm tra về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, lập biên
bản không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định của
pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử độc lập, Thẩm phán và Thư
ký chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng chấp nhận yêu cầu
của chị L về việc xin ly hôn anh D; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu P
cho chị L nuôi dưỡng đến khi thành niên; giao cháu B cho anh D nuôi dưỡng đến
khi thành niên; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và giải các
quan hệ khác trong hôn nhân, án phí của vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
công khai tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét khách quan toàn diện các chứng cứ, ý
kiến của các đương sự, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Chị Nguyễn Thị L và anh Phạm Tiến D đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân
xã H, huyện M (nay là thị xã M), tỉnh H. Nay chị L khởi kiện xin ly hôn với anh D
nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh D có địa chỉ cư trú tại thôn H, xã H1, thị xã M nên thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân thị xã M, tỉnh H theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a
khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Anh D và chị L đều có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội
đồng xét xử xét xử vắng mặt anh D, chị L là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều
228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
4
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Anh D và chị L đăng ký kết hôn tại UBND xã H vào năm 2015 nên đây là hôn
nhân hợp pháp và được pháp luật bảo hộ.
Quá trình chung sống, chị L và anh D đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do
anh chị bất đồng quan điểm sống, về việc xây dựng kinh tế gia đình. Từ tháng 3
năm 2018, chị Anh về nhà bố mẹ đẻ; đồng thời anh chị ly thân cho đến nay và
không quan tâm đến nhau.
Căn cứ vào lời khai của chị L, lời khai của anh D, lời khai của bà Nguyễn Thị
Kim T (mẹ đẻ chị L), Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Lan
Anh và anh Dũng đã xảy ra trầm trọng và kéo dài; tình cảm vợ chồng không còn;
thời gian ly thân đã lâu. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ chấp nhận yêu cầu của chị Lan
Anh về việc xin ly hôn anh Dũng.
[3] Về con chung: Chị L và anh D có 02 con chung là cháu Phạm Minh B,
sinh ngày 09/9/2015, đang ở với anh D, cháu Phạm Ngọc Hà P, sinh ngày
09/9/2019. Khi ly hôn, chị L yêu cầu Tòa án giải quyết giao cả cháu P cho chị nuôi
dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi thành niên; giao cháu B cho anh D nuôi
dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi thành niên và hai bên không phải cấp dưỡng
nuôi con chung cho nhau. Vấn đề này Hội đồng xét xử thấy rằng cả hai cháu đều
còn nhỏ; anh D và chị L đều đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung; đối với cháu P
dưới 03 tuổi. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ giao cháu P cho chị L nuôi dưỡng và giao
cháu B cho anh D nuôi dưỡng đến khi cháu B trưởng thành theo đúng quy định tại
khoản 3 điều 81 - Luật hôn nhân gia đình; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con
cho nhau.
[4] Về tài sản, công nợ, công sức và ruộng nông nghiệp: Chị L và anh D tự
nguyện không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, các vấn đề này không đặt ra để giải quyết.
[5] Về án phí: Đương sự phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định tại
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về điều luật áp dụng: Căn cứ các điều 51, 57, 73, 81, 82, 83, 84 - Luật
hôn nhân và gia đình;
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Phạm
Tiến D.
[3]. Về con chung:
- Giao cháu Phạm Ngọc Hà P, sinh ngày 09/9/2019 cho chị Nguyễn Thị L
nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi thành niên; giao cháu Phạm Minh B,
sinh ngày 09/9/2015 cho anh Phạm Tiến D nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến
khi thành niên; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
- Chị L và anh D có quyền thăm và chăm sóc con chung; không ai được cản
trở anh, chị thực hiện quyền này. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp
nuôi con và việc cấp cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn.
5
[4]. Về tài sản, nợ, công sức và ruộng nông nghiệp: Không đặt ra để giải
quyết trong vụ án này. Nếu sau này, anh chị có yêu cầu sẽ được xem xét, giải quyết
bằng một vụ kiện khác.
[5]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn.
Đối trừ số tiền tạm ứng án 300.000đ chị L đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí
số 0013013 ngµy 18/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào, tỉnh
Hưng Yên. Chị L đã nộp xong án phí sơ thẩm ly hôn.
[6]. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn được
quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp
lệ./.
Nơi nhận:
- VKSND thị xã Mỹ Hào;
- Chi cục T.H.A DS thị xã Mỹ Hào;
- Phòng KTNV và THA - Toà án tỉnh Hưng Yên;
- Các đương sự;
- UBND xã H;
- Lưu HS vụ án.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Nam Thắng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 04/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm