Bản án số 05/2022/HNGĐ-ST ngày 24/01/2022 của TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên về ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 05/2022/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 05/2022/HNGĐ-ST ngày 24/01/2022 của TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên về ly hôn
Quan hệ pháp luật: 181. Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Thái Nguyên (TAND tỉnh Thái Nguyên)
Số hiệu: 05/2022/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/01/2022
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Y và anh Lê Minh T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN
––––––––––––
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
–––––––––––––––––––––––––
Bản án số: 05/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 24/01/2022
Về việc ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-------------------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN- TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
* Thẩm phán, chủ toạ phiên t:Nguyễn Thị Tứ Xuân
* Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Xuân Viện
2. Bà Nguyễn Thị Nhung
*Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Thùy Dương- Cán bộ
Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên:
Hoàng Thị Diệu Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 24/01/2022, tại Hội trường T án nhân dân thành phố Thái
Nguyên tiến hành xét xthẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ số:
677/ TLST-HNGĐ ngày 22/10/2021 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số 04/QĐXX- ST ngày 06/01/2022 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1995. Có mặt
HKTT:Tổ 14 cũ, nay tổ 8, phường QV, thành phố TN, tỉnh Thái
Nguyên
Nơi tạm trú: Tổ 1, phường TĐ, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên
*Bị đơn: Anh Lê Minh T, sinh năm 1988. Có mặt
HKTT:Tổ 14 cũ, nay tổ 8, phường QV, thành phố TN, tỉnh Thái
Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn, c bản khai tại Tòa án chị Nguyễn Thị Y trình bày:
Chị anh Minh T kết hôn năm 2013 đăng ký kết hôn tại UBND phường
QV, thành phố TN trên sở tự nguyện tổ chức cưới hỏi theo nghi thức
truyền thống của dân tộc. Cuc sống vợ chng phát sinh nhiu u thun do
bt đng quan đim sng, v chng không có tiếng nói chungdẫn đến
thưng xuyên i . Đến đầu năm 2019 t u thun vợ chng ngày ng
trm trọng, trong lúc say rượu anh T đã đánh đp ch vì vậy ch đã về nhà b
mẹ đ Khôi K, huyện Đi T, tnh Thái Nguyên. Khi đi ch đã xin phép
mẹ chng và mang theo hai con. Tuy nhiên, được khong 1 tuần thì chđưa
con ln nhà v vì m chng ch gi đin bo cho đưa về cho cháu đi học. Anh
chị đã ly thân từ cuối năm 2019 đến nay, chị chuyển ra ngoài sinh sống thời gian
2
đầu là ở cùng bố mđẻ, đến nay do tình hình dịch bệnh COVID 19 không tiện đi
lại nên chị thuê trọ tại tổ 1, phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên để tiện đi
làm tại công ty. Mặc chuyển ra ngoài, chị vẫn thường xuyên về nhà chồng
thăm nom gửi tiền cho mchồng để đóng học cho các con nhưng anh T ngăn
cấm không cho chị đón con. Đến nay, chxác định u thuẫn vợ chồng đã
mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án cho được
ly hôn với anh T.
+ Về con chung: Ch Y khai có hai con chung là Lê Th Tho L, sinh
ngày 25/9/2013 và Lê Hạ V, sinh ngày 21/02/2017. Khi ly n ch
nguyn vng đưc trc tiếp nuôi dưng con nh là Lê Hạ V đ anh T trc
tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con lớn Lê Th Tho L vì cháu L có đơn lựa chn
vi b. Ch kng yêu cầu anh T cp dưng nuôi con.
Về điều kiện nuôi con: Hiện nay ch đang làm công nhân tại Công ty
TNHH Glonics, thu nhập hàng tháng từ 5 đến 6 triệu đồng ngoài ra chị còn
thua nhập từ bán hàng online và có 01 sổ tiết kiệm của trị giá 100.000.000đ đang
gửi tại ngân hàng Nông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam. Chị dự định
sau khi ly hôn sẽ chuyển về nhà bố mđẻ tại Khôi Kỳ, Đại Từ, Thái Nguyên
sinh sống để tiện việc chăm sóc nuôi dạy con và gần bố mđẻ.
+ Tài sn- công n chung: Không có. Không đề nghị giải quyết.
Bị đơn anh Minh T trong các bn khai, phiên hòa giải tại phiên toà
trình bày:Anh T thừa nhận lời khai của chị Y về thời gian kết hôn, con chung,
tài sản chung, công nợ chung đúng. Anh chị Nguyễn Thị Y kết hôn trên cơ
sở hoàn toàn tự nguyện. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên
nhân do vchồng không hiểu nhau, không tiếng nói chung dẫn đến cãi vã,
anh không đánh đập vợ như lời khai của chị Y. Từ năm 2019, chị Y đã bỏ nhà
đi, anh chị ly thân từ đó đến nay. Anh đồng ý yêu cầu ly n của chị Y c
định không còn tình cảm.
+ Về con chung: Anh nguyện vng đưc trc tiếp nuôi dưng,
chăm sóc hai con chung là Th Thảo L, sinh ngày 25/9/2013 Lê H V,
sinh ngày 21/02/2017 cho đến khi hai con đ 18 tui. Anh kng u cầu
chY cp dưng nuôi con.
V điu kiện nuôi con: hin anh đang sng cùng b mẹ đ ti nhà
riêng ca bố m tại t8, png QV, thành ph TN. Ngh nghip là làm
khí tại nhà thu nhập ng tháng khong 10.000.000đ. Bố mẹ đ anh làm
ruộng cũng có thu nhp. Bên cnh đó ch Y đã bnhà đi gn 2 năm nay, anh
và gia đình nuôi dưỡng hai con trong thi gian đó, ch thi thong ch Y mi
về thăm con không đóng p gì đnuôi dy con. Vì vậy, anh đề nghị
đưc nuôi c hai con.
+ Về tài sản chung, công nchung: Không có. Không đề nghị giải quyết
Sau khi khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành triệu tập, lấy lời khai của chị
Y anh T. Quá trình hoà giải do hai bên không thống nhất được vấn đề con
chung. Vì vậy, vụ án phải được đưa ra xét xử ngày hôm nay.
Trong phần tranh luận, Chị Y giữ nguyên quan điểm khởi kiện đnghị
3
được ly hôn với anh T; Con chung: ch có nguyện vng được trực tiếp nuôi
dưng con nh là Lê H V đanh T trc tiếp nuôi dưng, chăm c con
chung Lê Th Tho L cho đến khi cháu L đ 18 tui hoc có s thay đi
khác. V cấp dưng nuôi con ch không u cu anh T cp dưỡng. Tài sản
chung, công nợ chung không , không yêu cầu giải quyết. Anh T tranh luận đồng
ý với yêu cầu ly n với chị Y. Anh đề nghđược nuôi hai con chung, không đ
nghị chY cấp ỡng. i sản chung, công nợ chung, không đề nghị Hội đồng t
xử giải quyết.
Kiểm sát vn phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:n cứ vào Điều 21;
Điều 262 Bộ luật tố tụng n sự năm 2015: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy
định về thẩm quyn của mình theo Điều 48 Bluật tố tụng dân sự; Tn thủ đúng
quy định vtrình tự, tố tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xđã chấp nh đúng c
quy định của Bộ luật ttụng n sự. c đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền
nghĩa v theo quy định tại Điều 70, 71, 72 BLTTDS.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị
Nguyễn Thị Y, cho chị Y được ly hôn với anh T. Về con chung: Giao cháu Lê
Th Tho L, sinh ngày 25/9/2013 cho anh T trực tiếp nuôi ng, chăm sóc
cho đến khi cháu Lđủ 18 tui hoc có s thay đổi khác. Giao con chung Lê
H V, sinh ngày 21/02/2017 cho ch Y trc tiếp nuôi dưng, chăm sóc cho
đến khi cháu Vy đ18 tuổi hoc có sthay đi khác. Vic cp dưng nuôi
con chung không gii quyết do các đương s không có yêu cầu. Tài sản
chung, công nợ chung không có, không đề nghị giải quyết. Án phí: Buộc chị Y
phải nộp án phí dân sự sở thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghn cứu c i liu có trong hồ sơ v án được thẩm tra tại phiên
t căn c o kết qutranh lun tại phn t hội đng t xnhn định:
1. Về tố tụng: Ngun đơn, bđơn đều hộ khẩu thường trú tại thành ph
Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. n cứ Điều 28; Điều 35, Điều 39 Bluật t
tụng n sự vụ án thuộc thẩm quyn giải quyết của a án nhân n thành ph
Thái Nguyên là đúng quy định. Cáci liệu chứng cứ do nguyên đơn, bị đơn cung
cấp cho Tòa án đều đảm bảo theo quy định của Bluật tố tụng dân sự.
2. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chNguyễn Thị Y anh
Minh T là hợp pháp. Chị Y và anh T đều thừa nhận nguyên nhân dẫn đến u
thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên dẫn
đến cãi . Anh chị đã ly thân từ năm 2019, chị Y hiện đang tạm trú tại tổ 4,
phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên. Như vậy, thể khẳng định mâu
thuẫn vợ chồng giữa chị Y và anh T đã ở mức trầm trọng, đời sống chung không
thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị Y đề nghị ly hôn
căn cứ theo quy định tại Điều 56 luật hôn nhân gia đình nên chấp nhận.
3. Về con chung: Có hai con chung Lê Th Tho L, sinh ngày
25/9/2013 và H V, sinh ngày 21/02/2017.
Chị Y nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con nhỏ Hạ V
để anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung Thị Thảo L cho đến khi
4
cháu L đủ 18 tuổi hoặc sự thay đổi khác cháu L đơn trình bày được
với bố. Về cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu anh Tcấp dưỡng. Anh T
không đồng ý với yêu cầu của Chị Y đề nghị được nuôi dưỡng cả hai con
chung là Lê Thị Thảo LLê Hạ V.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét
xử nhận thấy, anh T Ch Y hai con gái, cháu lớn Thị Thảo L, cháu
HV mới 4 tuổi, hiện cả hai đang cùng anh T. Về điều kiện nuôi con, anh
T đang sinh sống với của bố mđẻ tại nhà của bố mẹ tại phường QV, thành phố
TN, nghề nghiệp m khí tại nhà, theo đơn trình bày của anh T đề ngày
9/12/2021 thu nhập của anh một tháng khoảng 10.000.000đ, bố mẹ đẻ anh
làm ruộng cũng thu nhập. Chị Y cũng cấp các tài liệu chứng cứ thể hiện chị
công việc ổn định, đang làm công nhân tại Công ty TNHH Glonics, thời gian
làm việc theo giờ hành chính, thu nhập hàng tháng từ lương 5 đến 6 triệu
đồng, ngoài ra còn tiền từ bán hàng online 01 sổ tiết kiệm trị giá
100.000.000đ.
Tại phiên tòa anh T cho rằng chị Y đang thuê trọ không điều kiện nuôi
con, chị Y tý bỏ nhà đi hai năm, thi thoảng mới về nhưng không đóng góp
nuôi con nên chị Y không quyền nuôi con. Hội đồng xét xử thấy lời khai của
anh T là không có cơ sở, hiện nay chị Ynơi ở, có công việc và thu nhập ổn
định, thời gian làm việc theo giờ hành chính nên có đủ điều kiện về vật chất
tinh thần để chăm sóc con. Ngoài ra, chị Y cho rằng lời khai của anh T không
đúng, ngay khi vợ chồng mâu thuẫn chị đã đón con vĐại Từ cùng bố mẹ
đẻ, việc hai con chị đang với gia đình anh T do mchồng chị yêu cầu chị
đưa về để tiện học nh cho con. Trong thời gian ra riêng, ch nhiều lần muốn
đón con nhưng anh T gia đình chồng ngăn cản không cho đón. Nvậy,
thể thấy từ năm 2019 chị Y vẫn có sự quan tâm, chăm sóc đến hai con nhưng do
hoàn cảnh bị ngăn cản nên mới không thực hiện được.
Hội đồng xét xử nhận thấy, anh T chị Y đều điều kiện khnăng
để nuôi dạy con như nhau, con lớn cháu Thảo L đã đơn trình bày muốn với
bố, cháu Hạ V còn nhỏ cần sự quan tâm, chăm sóc của mẹ đẻ. vậy, cần
chấp nhận yêu cầu của chị Y về việc đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hạ
V, bác yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con của anh T. Giao cho anh T
trực tiếp chăm sóc cháu Thị Thảo L, giao cho chị Y được trực tiếp chăm sóc
con nhỏ Lê Hạ V cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Việc cấp dưỡng nuôi con không giải quyết do các đương sự không yêu
cầu. Anh T, chị Y được quyền thăm nom chăm sóc giáo dục con chung, không
ai có quyền ngăn cản.
4. Về tài sản chung, công nợ chung: Không. Không đề nghị giải quyết
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải nộp án dân sự sơ thẩm vào ngân sách
nhà nước.
Xét ý kiến đ nghị ca đi diện Vin kim sát vni dung v án có
căn c chp nhn.
5
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28; Điều 35, Điều 39; Điều 147BLTTDS năm 2015. Áp
dụng Điều 56; Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Luật phí lệ
phí năm 2016; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016quy định
về mức thu án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Y. Cho chị Nguyễn Thị
Y được lyn với anh Lê Minh T.
2.Về con chung: Giao con chung Thị Thảo L, sinh ngày
25/9/2013cho anh Ttrực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu L đủ 18
tuổi hoặc sự thay đổi khác. Giao con chung Hạ V, sinh ngày 21/02/2017
cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi hoặc có
sự thay đổi khác.
Việc cấp dưỡng nuôi con chung không giải quyết do các đương sự không
yêu cầu. Chị Y, anh T được quyền đi lại thăm nom chăm sóc, giáo dục con
chung.
3. Về tài sản chung, công nợ chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án
không giải quyết.
4. Án phí: Chị Nguyễn Thị Y phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng)
tiền án phí dân sựsơ thẩm sung quỹ nhà nước được khấu trừ vào tiền tạm ứng án
phí sang theo biên lai thu s000604 ngày 22 tháng 10 năm 2021của Chi cục thi
hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn quyền kháng cáo bản án
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
-TAND tỉnh Thái Nguyên;
- VKSND TP. Thái Nguyên ;
- Chi cục THADS TP. Thái Nguyên;
- UBNDi NĐ, BĐ cư trú;
- Các ĐS;
- Lưu.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Thị Tứ Xuân
6
Tải về
Bản án số 05/2022/HNGĐ-ST Bản án số 05/2022/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất