Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 01/03/2024 của TAND tỉnh Bến Tre

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 04/2024/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 01/03/2024 của TAND tỉnh Bến Tre
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bến Tre
Số hiệu: 04/2024/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 01/03/2024
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội“Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 142; điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/8/2023.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Phạm Văn Ngọt
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thời (Giáo viên)
Ông Dương Văn Chăm (Giáo viên)
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Thiên Trang- Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông
Lê An Hiệp– Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử
thẩmkínvụ án hình sựthụ số: 01/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 01 năm
2024theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 554/2024/QĐXXST-HS ngày 15
tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn N, sinh năm 1962, tại tỉnh Bến Tre. Đăng ký thường trú: Số C,
ấp Q, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa:
10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
con ông Nguyễn Văn N1 (chết) bà Nguyễn Thị B (chết); vđã ly hôn
Phạm Thị M; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2000;
tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ từ ngày 16/8/2023 cho đến nay. (Bị cáo
mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Quang H Luật sư thuộc Đoàn luật
sư tỉnh B. (có mặt)
- Bị hại: Võ Thị Ngọc H1, sinh ngày 15/12/2010; (cháu H1 có đơn yêu cầu
xét xử vắng mặt, đơn đề ngày 01/3/2024).
Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Thị S. Sinh năm: 1964.
Nơi cư trú: Ấp Q, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre; (có mặt).
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị hại: Đoàn Thị
Ngọc D Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm T; (có mặt).
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TNH BN TRE
Bản án số: 04/2024/HS-ST
Ngày 01- 3 - 2024
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
2
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Thu N2. Sinh
năm: 1989. Nơi trú: SA, đường D, khu A, phường H, T, tỉnh Bình Dương;
(có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn N và cháu Võ Thị Ngọc H1 (sinh ngày 15/12/2010) ở gần nhà
với nhau, H1 thường xuyên đến nN chơi. Lợi dụng việc H1 không khả
năng nhận thức nên N đã nhiều lần thực hiện hành vi giao cấu với H1 tại nhà của
N số C, ấp Q, xã T, huyện G. Cụ thể:
Lần thứ nhất: o khoảng đầu tháng 7 năm 2023, H1 đến nhà N chơi. Tại
đây, N nảy sinh ý định giao cấu với H1 nên kêu H1 đi vào bên trong phòng ngủ
của N. Khi vào trong phòng N kêu H1 cởi quần áo của H1 ra, N cũng tự cởi
quần áo của mình ra rồi cả hai nằm trên giường. Nu nằm đè lên người Huyền,
dùng dương vật cọ sát với âm hộ của H1 cho dương vật cương cứng để thực
hiện việc giao cấu nhưng do dương vật không cương cứng nên N không thực
hiện được việc giao cấu với H1.
Lần thứ hai: Cách lần thứ nhất khoảng 03 ngày, H1 đến nhà N chơi. N kêu
H1 vào phòng ngủ cởi quần áo ra, N tự cởi quần áo của mình ra. N cầm tay
của H1 đặt vào dương vật của N để cho dương vật cương cứng. Sau khi dương
vật cương cứng, cả hai nằm trên giường, N nằm đè lên người của H1 rồi thực
hiện hành vi giao cấu với H1 được khoảng 03 phút thì xuất tinh trên bụng của
H1.
Lần thứ ba: Cách lần thứ hai khoảng 04 ngày, H1 đến nhà N chơi. N kêu
H1 vào phòng ngủ và cởi quần áo ra, N tự cởi quần áo ra rồi trải chiếu dưới nền
gạch. Sau đó, cả hai nằm trên chiếu Nu nằm đè lên người của H1 để thực hiện
hành vi giao cấu với H1 nhưng do dương vật không cương cứng nên N không
thực hiện được việc giao cấu với H1.
Lần thứ tư: Cách lần thứ ba khoảng 03 ngày, H1 đến nhà N chơi. N kêu H1
vào phòng ngủ cởi quần áo ra, N tcởi quần áo ra rồi trải chiếu dưới nền
gạch. Sau đó, cả hai nằm trên chiếu Nu nằm đè lên người của H1 được khoảng
05 phút thì N xuất tinh trên bụng của H1.
Lần thứ năm: Cách lần thứ khoảng 01 ngày, H1 đến nhà N chơi. N kêu
H1 vào phòng ngủ và cởi quần áo ra, N tự cởi quần áo ra rồi trải chiếu dưới nền
gạch. Sau đó, cả hai nằm trên chiếu Nu nằm đè lên người H1 để thực hiện hành
vi giao cấu với H1, được vài phút thì xuất tinh trên bụng của H1.
Vật chứng thu giữ:
- 01 áo sơ mi ngắn tay màu xanh;
- 01 quần ngắn lưng thun bông màu xám, trắng;
- 01 quần ngắn lưng thun sọc màu trắng, đen;
3
(Do bị cáo Nguyễn Văn N giao nộp).
Theo Kết luận giám định xâm hại tình dục trẻ em số 332-23/KLTDTE -
TTPYBT ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận:
1. Các kết quả chính:
- Tỉnh, tiếp xúc tốt.
- Toàn thân không dấu trầy sước, không dấu bầm máu.
- Vùng bụng, hai bên đùi không bầm máu. Âm hộ vị trí 5 giờ, sát mép
màng trinh viêm đỏ.
- Khẩu kính lỗ màng trinh 1,5 cm.
- Vị trí 09 giờ, 11 giờ có dấu rách cũ chưa đến chân màng trinh.
- Siêu âm tử cung buồng trứng qua đường bụng: Hiện tại chưa phát hiện bất
thường.
2. Kết luận:
- Màng trinh: Vị trí 09 giờ, 11 giờ dấu rách chưa đến chân màng
trinh.
- Khẩu kính lỗ màng trinh 1,5 cm.
- Hiện tại Võ Thị Ngọc H1 không mang thai.
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương thể: n cứ thông 22/2019/TT-BYT
ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương thsử dụng
trong giám định pháp y giám định pháp y tâm thần. Hiện tại trên thể của
Võ Thị Ngọc H1 không có thương tích để xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể.
Theo Kết luận giám định số 5983/KL-KTHS ngày 26/10/2023 của Phân
Viện khoa học kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Không
phát hiện ADN của bị cáo Nguyễn Văn N trong mẫu dịch âm đạo ghi thu của
Thị Ngọc H1.
Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần số 906/KL-VPYTW ngày
29/11/2023 của Viện pháp y m thần Trung ương B1 đối với bị hại Th
Ngọc H1 kết luận:
- Về y học: Trước, trong, sau khi bị xâm hại và hiện nay: Đương sự bị bệnh
chậm phát triển tâm thần nặng/Động kinh (F72/G40-ICD.10).
- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm bị xâm hại và
hiện nay: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần số 849/KL-VPYTW ngày
21/11/2023 của Viện pháp y tâm thần Trung ương B1 đối với bị cáo Nguyễn
Văn N kết luận:
- Về y học: Trước, trong, sau khi gây án hiện nay: Đương sự bị rối loạn
nhân cách và hành vi do sử dụng rượu (F10.71-ICD.10).
4
- Về khả năng nhận thức điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án
hiện nay: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn N đã khai nhận hành vi phạm tội của
mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, kết quả thực
nghiệm điều tra và các chứng cứ khác đã thu thập được.
Đại diện bị hại Thị Ngọc H1 (bà Thị S) yêu cầu bị cáo bồi thường
tổn thất tinh thần số tiền 30.000.000 đồng, bị cáo đồng ý và đã tác động gia đình
bồi thường xong. Hiện đại diện bị hại đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
cho bị cáo.
Tại Bản cáo trạng số: 06/CT-VKSBT-P1 ngày 03/01/2024 của Viện Kiểm
sát nhân dân tỉnh Bến Tre truy tbị cáo Nguyễn Văn N về tội Hiếp dâm người
dưới 16 tuổi” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn N khai nhận hành vi phạm tội phù hợp
nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ đã thu thập.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa ginguyên nội dung
cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn N. Sau khi phân tích các tình tiết
về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự, các tình tiết về nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Bến Tre đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 142; điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
54; Điều 38 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N mức án từ 08
năm đến 10 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo là ngày
16/8/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xáp dụng Điều 48, Điều
592 Bộ luật dân sự ghi nhận bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho
bị hại Thị Ngọc H1 số tiền 30.000.000 đồng, hiện người đại diện của bị hại
không có yêu cầu gì thêm.
- Về xử vật chứng:Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự Điều 106 Bộ luật
tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng:
01 áo sơ mi ngắn tay màu xanh;
01 quần ngắn lưng thun bông màu xám, trắng;
01 quần ngắn lưng thun sọc màu trắng, đen;
(Vật chứng hiện nay do Cục Thi hành án tỉnh Bến Tre quản lý)
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N trình bày quan điểm: Thống
nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre về tội danh.
Về mức hình phạt: Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại
điểm b, s, x, q khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cụ thể: Bị cáo thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại thời điểm y án bị cáo bị hạn chế khả năng
5
nhận thức; sau khi gây án, bị cáo đã đến công an xã T để tự thú về hành vi phạm
tội của mình; bị cáo có cha và anh là liệt sỹ; có mẹ là mẹ Việt Nam anh hùng; bị
cáo đã tác động gia đình bồi thường xong cho bị hại; tại phiên toà người đại diện
hợp pháp của bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng
xét xxem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới
mức thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận gia đình bcáo đã thay bị cáo bồi thường
số tiền 30.000.000 đồng cho bị hại và không có yêu cầu gì thêm.
Người bảo vệ quyền và li ích hợp pháp của bị hại trình bày quan điểm:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển
bình thường sức khỏe của bị hại, đặc biệt bị hại trẻ em. Sức khỏe và tinh
thần của bị hại bị sa sút nhiều sau khi xảy ra sự việc. Thống nhất quan điểm của
Viện kiểm sát về tội danh đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử
phạt bị cáo theo mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Về trách nhiệm dân sự:
bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại; phía bị hại không yêu cầu thêm. Đề
nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Bị cáo Nguyễn Văn N nói lời sau cùng: Bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định ttụng của quan điều tra Công an tỉnh B,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre, Kiểm sát viên trong quá
trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định
của Bộ luật Tố tụng hình sự; thành phần Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa đều
thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra
tại phiên tòa, bị cáo Luật bào chữa cho bị cáo; người đại diện theo pháp
luật của bị hại; người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại không ý
kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố
tụng. Do đó về hành vi, quyết định của quan tiến hành tố tụng người tiến
hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Do không kiểm soát được ham muốn dục vọng của
bản thân và lợi dụng việc cháu Võ Thị Ngọc H1 không có năng lực nhận thức và
điều khiển hành vi nên trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 8 năm 2023
tại nhà số C, ấp Q, T, huyện G, tỉnh Bến Tre, Nguyễn Văn N đã 05 lần thực
hiện hành vi xâm hại tình dục đối với cháu Võ Thị Ngọc H1 (sinh ngày
15/12/2010), khi cháu H1 chưa đủ 13 tuổi.
Trong quá trình điều tra tại phiên tòa thẩm, bị cáo thừa nhận thực
hiện hành vi phạm tội với cháu H1. Mặc bị cáo bị hạn chế khả năng nhận
thức và điều khiển hành vi, nhưng lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của
bị hại, những người tham gia tố tụng khác chứng cứ thu thập được qua quá
trình điều tra cũng như việc xét hỏi tại phiên tòa. Như vậy, có đủ sở để kết
6
luận Bản cáo trạng số: 06/CT-VKSBT-P1 ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo Nguyễn Văn N3 tội Hiếp dâm
người dưới 16 tuổitheo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự
với tình tiết định khung “Phạm tội hai lần trở lên” căn cứ đúng pháp
luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
[3.1] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo
nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tình
dục, danh dự, nhân phẩm của phụ nữ nói chung nhất trẻ em gái vi phạm
pháp luật, bị hội lên án. Tuy nhiên, để thỏa mãn dục vọng của bản thân, bị
cáo đã cố ý thực hiện tội phạm bất chấp hậu quả, làm ảnh hưởng xấu đến tình
hình an ninh trật tự hội địa phương, vi phạm nghiêm trọng chuẩn mực
đạo đức xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi mà bị cáo thực hiện đối với bị hại
cũng như hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của bị cáo gây ra.
[3.2] Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo không tiền án, tiền sự
nhưng bản thân bị cáo trước đó đã bị Ủy ban nhân dân tỉnh B ra Quyết định đưa
vào trường giáo dưỡng năm 2004 do có hành vi gây rối trật tự công cộng.
[3.3] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự.
[3.4] Tình tiết giảm nhẹ: Sau khi gây án, bị cáo đã đến công an T để tự
thú về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải
về hành vi phạm tội của mình; Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi
thường thiệt hại tinh thần cho bị hại; bị o cha ruột liệt sỹ; mẹ ruột Mẹ
Việt Nam anh hùng; tại phiên toà ngườiđại diện hợp pháp của bị hại đề nghị
xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó, bị cáo được áp dụng các
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s, x khoản 1
khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát
phù hợp.
Xét thấy, bị cáo hiện nay đã lớn tuổi, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy
định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có đủ điều kiện được áp dụng Điều 54 Bộ luật
hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ sức
giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại Thị Ngọc H1
(bà Võ Thị S) yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường tổn thất tinh thần số tiền
30.000.000 đồng, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường xong nên ghi nhận. Đại
diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm nên ghi nhận.
Tại phiên tòa, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thu
N2 cho rằng chị là con của bị cáo Nguyễn Văn N, số tiền 30.000.000 đồng mà bị
7
cáo bồi thường cho bị hại tiền của chị bồi thường thay cho bị cáo, chị N2
không yêu cầu bị cáo trả lại cho chị số tiền này nên ghi nhận.
[5] Về xử lý vật chứng:
- 01 áo sơ mi ngắn tay màu xanh;
- 01 quần ngắn lưng thun bông màu xám, trắng;
- 01 quần ngắn lưng thun sọc màu trắng, đen;
Xét thấy, các vật chứng nêu trên không còn giá trị sử dụng, tại phiên tòa bị
cáokhông yêu cầu nhận lại. Do đó, căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự Điều
106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy các vật chứng nêu trên (hiện nay
do Cục thi hành án tỉnh Bến Tre quản lý).
[6] Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa đề nghị Hội đồng
xét xáp dụng điểm q khoản 1 Điều 51 Bluật nh sự đối với bị cáo không
phù hợp tại phiên tòa bị cáo khai nhận khi bị cáo không dùng rượu thì sức
khỏe của bị cáo bình thường, không bị ảnh hưởng . Do đó, việc bị cáo bị rối
loạn nhân cách hành vi do sử dụng rượu tại kết luận giám định không được
xem bênh theo tranh luận của Viện kiểm sát phù hợp nên Hội đồng xét
xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ
luật hình sự đối với bị cáo. Đề nghị của người bào chữa về những nội dung khác
là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại tại phiên
tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tại phiên
tòa làphù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ
khoản 1 Điều 12 Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo
Nguyễn Văn N người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội“Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 142; điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều
51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày 16/8/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585,
586, 592 Bộ luật Dân sự.
8
Ghi nhận bị cáo Nguyễn Văn N (do Nguyễn Thị Thu N2 nộp thay) đã
bồi thường cho bị hại Thị Ngọc H1 số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
Đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm.
3. Về xử vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự Điều 106 Bộ
luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) áo sơ mi ngắn tay màu xanh;
- 01 (một) quần ngắn lưng thun bông màu xám, trắng;
- 01 (một) quần ngắn lưng thun sọc màu trắng, đen;
Vật chứng nêu trên hiện nay do Cục Thi hành án tỉnh Bến Tre quản lý theo
biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/01/2024.
4. Án phí: Căn cứ Điều 136 B luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ
khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo
Nguyễn Văn N được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị o, người đại diện theo pháp luật của bị hại, người bảo vệ quyền
lợi ích hợp pháp của bị hại; người quyền lợi, nghĩa vliên quan mặt tại
phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án
thẩm đyêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử
phúc thẩm.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhậ n:
- VKSND cấp cao tại TP.HCM (1b);
- Vụ GĐKT I TANDTC (1b);
- VKSND tỉnh Bế n Tre (1b);
- Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - CA tỉ nh Bế n Tre
(1b);
- Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bế n Tre (1b);
- Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b);
- Trại tạm giam Công an tỉnh Bến Tre, bị cáo
(2b);
- UBND xã Tân Lợi Thạnh, h.Giồng Trôm
(1b);
- ĐDHPBH (1b);
- Tòa Gia đình & NCTN, Phòng
KTNV&THA, Văn phòng TAND tỉnh Bến
Tre, hồ sơ vụ án (7b).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Văn Ngọt
9
Tải về
Bản án số 04/2024/HS-ST Bản án số 04/2024/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất