Bản án số 04/2023/HNGĐ ngày 23/03/2023 của TAND huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 04/2023/HNGĐ
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 04/2023/HNGĐ
| Tên Bản án: | Bản án số 04/2023/HNGĐ ngày 23/03/2023 của TAND huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Thường Xuân (TAND tỉnh Thanh Hóa) |
| Số hiệu: | 04/2023/HNGĐ |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/03/2023 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tại bản án số 04/2023/HNGĐ-ST của TAND huyện Thường Xuân đã xử cho Nguyên đơn Vi Thị H được ly hôn với bị đơn Cầm Bá T; Về con cái giao cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; Về ấn phí |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TAND HUYỆN THƯỜNG XUÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THANH HÓA Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 04/2023/HNGĐ - ST
Ngày 23 tháng 3 năm 2023
V/v: “Tranh chấp hôn nhân gia đình
về ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Sỹ H;
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà: Lê Thị H;
2. Bà: Nguyễn Thị Th;
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Á – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thường
Xuân, Thanh Hóa.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thị V - Kiểm sát viên;
Ngày 23 tháng 3 năm 2023. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân.
Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa mở lại phiên tòa đưa ra xét
xử sơ thẩm công khai vụ án vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 154/2022/TLST –
HNGĐ, ngày 17/10/2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn, nuôi
con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST – HNGĐ, ngày
16 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2023/QĐST - HNGĐ
ngày 06/3/2023 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Vi Thị H – sinh năm 1999;
Địa chỉ: thôn BĐ, xã VX, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa.
(có mặt);
2.Bị đơn: Cầm Bá Th – sinh năm 1995;
Địa chỉ: thôn BĐ, xã VX, huyện TX, tỉnh Thanh Hóa;
(vắng mặt không có lý do);
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 19/8/2022 của chị Vi Thị H là nguyên đơn và bản
tự khai của đương sự, các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án thể
hiện:
* Về hôn nhân: Nguyên đơn Vi Thị H và bị đơn Cầm Bá Th chung sống với
nhau vào năm 2016, trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, tự do tìm hiểu, thật sự yêu
thương nhau và không bị ai ép buộc được hai bên 2 gia đình đồng ý, tổ chức cưới
2
hỏi theo phong tục tập quán địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã
VX, huyện TX vào ngày 13/4/2018. Sau khi lấy nhau về, thời gian đầu vợ chồng
chung sống hạnh phúc, khoảng cuối năm 2018 thì tình cảm vợ chồng phát sinh
nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn tình cảm vợ chồng là do tính
tình vợ chồng không hợp, quan điểm, suy nghĩ, cách sống của mỗi người là khác
nhau, không thông cảm cho nhau nên không tìm thấy sự hòa hợp trong đời sống vợ
chồng; nguyên đơn cho rằng bị đơn Cầm Bá Th sống không có trách nhiệm với gia
đình, không tu trí làm ăn, thường xuyên ham chơi, nghiện ngập, đánh đập và xúc
phạm chị. Chị H đã nhiều lần động viên, khuyên ngăn nhưng anh Th vẫn không
thay đổi. Mâu thuẫn tình cảm vợ chồng đã được 2 bên gia đình nhiều lần dàn xếp,
hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện được. Vợ chồng đã sống ly
thân từ cuối năm 2018 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Hiện nay chị H
nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời
sống chung của vợ chồng không thể kéo dài. Tại phiên tòa nguyên đơn Vi Thị H
vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân,
tỉnh Thanh Hóa giải quyết cho chị được ly hôn với bị đơn Cầm Bá Th.
*Về con cái: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung, tên
cháu là Cầm Thị Bảo Tr – sinh ngày 16/6/2017. Hiện tại cháu Bảo Tr đang ở với
ông bà nội, nay ly hôn. Nguyên đơn Vi Thị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị
được nuôi con và không đề nghị bị đơn Cầm Bá Th cấp dưỡng nuôi con chung.
*Về tài sản và công nợ: Tài sản chung, tài sản riêng và công nợ không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn Cầm Bá Th sau khi nhận được thông báo thụ lý vụ án, giấy
triệu tập và thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng
cứ và hòa giải của Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân thì anh Th không có ý
kiến gì, cũng không đến Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập cũng như thông báo
hòa giải. Qua xác minh tại địa phương thì anh Cầm Bá Th có hộ khẩu thường trú tại
thôn BĐ, xã VX, huyện Thường Xuân, hiện tại anh Th đang đi làm ăn xa không có
mặt ở địa phương; các giấy tờ Tòa án huyện Thường Xuân tống đạt cho bà Cầm
Thị L(mẹ anh Th), bà L đã thông tin lại cho anh Th biết, nhưng anh Th nói là bận
công việc nên không về được và cũng không có ý kiến gì. Như vậy anh Cầm Bá Th
không hợp tác, gây khó khăn cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án
nhân dân huyện Thường Xuân đã lập biên bản về việc không hòa giải được đối với
vụ việc trên. Vào ngày 06 tháng 3 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân
đã mở phiên tòa đưa vụ án ra xét xử, đã niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử và
giấy triệu tập hợp lệ, nhưng bị đơn Cầm Bá Th vẫn cố tình vắng mặt không có lý
do. Tòa án nhân dân huyện Thường Xuân đã ra quyết định hoãn phiên tòa, niêm yết
công khai quyết định hoãn phiên tòa tại nơi cư trú của bị đơn. Tại phiên tòa hôm
nay một lần nữa bị đơn Cầm Bá Th vắng mặt không có lý do.
Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn tình cảm vợ chồng, UBND xã
VX, huyện TX đã xác nhận: Mâu thuẫn tình cảm vợ chồng anh Cầm Bá Th và chị
Vi Thị H chính quyền địa phương không nắm được, thôn, xã cũng không được hòa
3
giải mâu thuẫn tình cảm vợ chồng. Hiện tại chị H đã trở về nhà bố mẹ đẻ ở xã XC,
huyện TX để sinh sống.
*Ý kiến của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân tham gia
phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải
quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và
phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký từ khi thụ
lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố
tụng dân sự, không có thiếu sót vi phạm gì; Về tuân theo pháp luật của những
người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành chấp hành đúng các quy định, bị
đơn không chấp hành các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, trong quá trình
giải quyết vụ án bị đơn vắng mặt không có lý do. Việc ra bản án vắng mặt bị đơn là
hợp lý.
- Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51,56,57,
81,82 và 83 Luật hôn nhân gia đình 2014; Khoản 2 Điều 21, Điều 28, Điều 35,
Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều
271,273,278 BLTTDS 2015; Điểm a, khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Đề nghị
HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn Vi Thị H; Giao
cháu Cầm Thị Bảo Tr cho nguyên đơn Vi Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục cho đến khi cháu Bảo Trân đến tuổi trưởng thành, bị đơn Cầm Bá Th
không phải cấp dưỡng nuôi con chung, được quyền đi lại chăm sóc con không ai
được ngăn cản; Nguyên đơn Vi Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả thảo luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở
để nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Vi Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án
giải quyết tranh chấp về ly hôn, nuôi con với anh Cầm Bá Th. Đây là tranh chấp về
hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2.Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn Cầm Bá Th có nơi cư trú tại thôn
BĐ, xã VX, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 35
và điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện
Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa có thẩm quyền giải quyết vụ án.
1.3.Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Bị đơn đã được Tòa án niêm
yết công khai quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy
triệu tập hợp lệ. Tuy nhiên tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt lần thứ hai không
có lý do. Xét thấy sự vắng mặt của bị đơn không thuộc trường hợp vì sự kiện bất
4
khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Cầm Bá Th.
[2] Về nội dung:
2.1Về hôn nhân: Nguyên đơn Vi Thị H và bị đơn Cầm Bá Th tự nguyện đăng
ký kết hôn vào ngày 13/4/2018 tại Ủy ban nhân dân xã VX, huyện TX, đây là hôn
nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất
đồng quan điểm, tính cách không hợp nhau nên vợ chồng đã sống ly thân từ cuối
năm 2018 đến nay. Chị H xin ly hôn, anh Th không có ý kiến gì. Căn cứ vào các tài
liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy về hôn nhân giữa
nguyên đơn Vi Thị H và bị đơn Cầm Bá Th đời sống chung vợ chồng không có
hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời
sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm
2018 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Vì vậy nên chấp nhận đơn yêu
cầu xin ly hôn của nguyên đơn Vi Thị H là phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân
gia đình năm 2014.
2.2 Về con cái: Xét việc đề nghị yêu cầu nuôi con của chị H là nguyện vọng
chính đáng và phù hợp với quy định của pháp luật. Tại phiên tòa nguyên đơn đề
nghị giao cháu Cầm Thị Bảo Tr cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Để đảm bảo các điều kiện phát triển bình thường của trẻ em, do cháu đang còn nhỏ,
tâm sinh lý phát triển chưa hoàn thiện nên cần sự quan tâm, gần gủi chăm sóc từ
người mẹ, hiện nay cháu Bảo Tr đang ở cùng với ông bà nội. Bản thân anh Th
nghiện ngập lại đang đi làm ăn xa, chị H có công việc và thu nhập ổn
định(7.800.000đ/tháng) vì vậy giao cháu Cầm Thị Bảo Tr cho chị H trực tiếp chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.
2.3. Về tài sản, công nợ: Tài sản chung, tài sản riêng và công nợ không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
2.4.Về án phí: Nguyên đơn Vi Thị H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ
thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51,56,57, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều
147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, 235, 271, 273, 278 và 280
BLTTDS 2015; Điểm a, khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14,
ngày 31/12/2016.
1.Về hôn nhân:
Xử: Cho nguyên đơn Vi Thị H được ly hôn với bị đơn Cầm Bá Th.
2.Về con cái:
Giao cháu Cầm Thị Bảo Tr cho nguyên đơn Vi Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục kể từ tháng 4/2023 cho đến khi cháu Bảo Tr đến tuổi trưởng
thành(đủ 18 tuổi). Bị đơn Cầm Bá Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung và
được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con không ai được ngăn cản.
5
3.Về án phí và các vấn đề khác:
Nguyên đơn Vi Thị H phải nộp 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn
nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên
đơn Vi Thị H đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0015448,
ngày 17/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thường Xuân, Thanh Hóa.
Nguyên đơn Vi Thị H đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí HNGĐ sơ thẩm.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu
thi hành án được quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn,
có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn được
quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ
hoặc được niêm yết công khai./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- Các đương sự; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
-VKSND huyện Thường Xuân;
- VKSND tỉnh Thanh Hóa;
- Chi cục THADS huyện Thường Xuân; (Đã ký)
- Ban Tư pháp xã VX;
- TAND tỉnh Thanh Hóa;
- Lưu hồ sơ; Lê Sỹ H
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 03/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 02/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm