Bản án số 04/2022/DS-PT ngày 10/01/2022 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 04/2022/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 04/2022/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 04/2022/DS-PT ngày 10/01/2022 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Vĩnh Long |
| Số hiệu: | 04/2022/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 10/01/2022 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chị Lê Thị Phụng Kiều yêu cầu anh Bùi Thanh Vân, chị Nguyễn Thị Ánh Phượng trả lại số tiền nợ vay 131.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 04 /2022/DS-PT
Ngày: 10 - 01 -2022
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Nữ Phà Ca
Các Thẩm phán: Ông Phạm Trường Thọ
Bà Nguyễn Thị Kim Chi
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Có – Thẩm tra viên của Tòa án
nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Bà Trần Ngọc Bích -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 10 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 172/2021/TLPT-DS ngày 14 tháng
12 năm 2021 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 45/2021/DSST ngày 11 tháng 11 năm 2021
của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 223/2021/QĐPT-DS
ngày 23 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Phụng K, sinh năm 1976.
Địa chỉ: Ấp Giồng Thanh Bạch, xã Thiện M, huyện TÔ, tỉnh Vĩnh Long
2. Bị đơn:
1. Anh Bùi Thanh V, sinh năm 1970.
2. Chị Nguyễn Thị Ánh Ph, sinh năm 1973.
Cùng địa chỉ: ấp Giồng Thanh Bạch, xã Thiện M, huyện TÔ, tỉnh Vĩnh Long.
2
- Người kháng cáo: Nguyên đơn chị Lê Thị Phụng K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 07-5-2021 và các lời khai khác trong quá trình
tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị Lê Thị Phụng K trình bày:
- Vào tháng 01/2014 (âl) nguyên đơn Lê Thị Phụng K có cho bị đơn Bùi
Thanh V và Nguyễn Thị Ánh Ph vay số tiền 62.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng,
không quy định thời hạn trả, thỏa thuận bằng lời nói.
- Vào tháng 01/2018 (âl) chị K có cho anh V, chị Ph vay tiếp số tiền
69.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng, thỏa thuận bằng lời nói, thời hạn trả trong 01
tháng.
Sau khi vay anh V, chị Ph trả được 03 kỳ lãi không nhớ số tiền lãi bao
nhiêu, vốn chưa trả.
Đến ngày 15-8-2018 (âl) chị Ph có làm bản cam kết nợ số tiền 131.000.000
đồng hứa khi bán được nhà trả số tiền trên cho chị K nhưng đến nay không trả vốn,
lãi cho chị.
Do phía bị đơn chị Ph vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng, chị K yêu
cầu Tòa án giải quyết buộc anh V, chị Ph có trách nhiệm trả cho chị số tiền còn
nợ vốn 131.000.000 đồng và tính lãi suất từ 15-8-2018 (âl) đến ngày 15-3-2021
(âl) với lãi suất 0,83%/tháng, số tiền lãi là 33.706.300 đồng. Tổng cộng vốn, lãi
164.706.300 đồng, đồng thời chị Ph, anh V tiếp tục trả lãi đến khi thanh toán
xong nợ.
Tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là
hợp pháp gồm: Tờ cam kết của chị Ph ngày 15-8-2018 thừa nhận còn nợ
131.000.000 đồng.
Trong bản tự khai ngày 04-7-2011, bị đơn là Nguyễn Thị Ánh Ph trình
bày: Chị thừa nhận từ năm 2013 đến năm 2016 chị Ph có vay của chị K hai lần
tổng cộng số tiền 131.000.000 đồng, chị đã trả lãi cho chị Ph nhiều lần đến ngày
02/11/2020 không khả năng trả tiếp. Nay chị Ph đồng ý trả cho chị K số tiền vay
131.000.000 đồng, lãi không đồng ý trả.
Trong bản tự khai ngày 14-6-2021 và các lời trình bày tiếp theo, bị đơn
là anh Bùi Thanh V trình bày: Anh là chồng chị Ph, việc giao dịch vay tiền giữ
chị K và chị Ph anh không biết nên anh không có trách nhiệm cùng chị Ph trả số
tiền vay theo yêu cầu chị K.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 45/2021/DS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2021
của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:
3
Căn cứ các Điều 101, 463, 466 của Bộ luật dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố
tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị Phụng K.
Buộc bị đơn Nguyễn Thị Ánh Ph có nghĩa vụ trả cho Lê Thị Phụng K số tiền số
tiền vay vốn 131.000.000 đồng và lãi suất từ 24-9-2018 (nhằm ngày 15-8-2018 âl)
đến ngày 26-4-2021 (nhằm ngày 15-3-2021 âl) là 31 tháng với lãi suất 0,83%/tháng
bằng 33.706.300 đồng. Tổng cộng vốn, lãi 164.706.300 đồng, đồng thời chị Ph
tiếp tục trả lãi từ ngày 27-4-2021 đến khi thanh toán xong nợ cho chị K theo lãi
suất 0,83%/tháng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền
kháng cáo của đương sự theo luật định.
Ngày 22 tháng 11 năm 2021, bị đơn chị Lê Thị Phụng K có đơn kháng
cáo với nội dung yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Lê Thị Phụng K thay đổi một phần yêu cầu
kháng cáo. Chị yêu cầu chị Nguyễn Thị Ánh Ph và anh Bùi Thanh V có trách
nhiệm liên đới trả số tiền vay vốn 131.000.000đ, tiền lãi từ ngày 24/9/2018 đến
ngày 26/4/2021 với lãi suất 0,83%/tháng số tiền 33.706.300đ. Tuy nhiên, tiền lãi
chị chỉ yêu cầu tính tròn 30.000.000 đồng. Tổng cộng vốn, lãi là 161.000.000
đồng.
Chị Ph đồng ý theo yêu cầu kháng cáo của chị K. Chị Ph xác định khi chị
vay tiền của chị K thì anh V không hay biết và không có sự đồng ý của anh V
nhưng nay chị thiếu tiền nhiều người không có khả năng trả nên yêu cầu anh V
cùng liên đới với chị trả nợ cho chị K.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người
tham gia tố tụng: Tất cả đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý
vụ án đến xét xử phúc thẩm.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khỏan 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng
dân sự, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Buộc chị Ph trả cho chị K số
tiền vốn lãi 161.000.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị K
về việc yêu cầu anh V cùng liên đới với chị Ph trả cho chị K số tiền vốn, lãi
bằng 161.000.000 đồng. Chị K không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Theo chị K, chị Ph thừa nhận vào tháng 01/2014 (âl) nguyên đơn Lê
Thị Phụng K có cho bị đơn Nguyễn Thị Ánh Ph vay số tiền 62.000.000 đồng. Đến
tháng 01/2018 (âl) chị K tiếp tục cho chị Ph vay số tiền 69.000.000 đồng. Lãi suất
hai bên thỏa thuận 3%/tháng và khi vay hai bên không lập biên nhận vay.
Đến ngày 15-8-2018 (âl) chị Ph có làm bản cam kết xác định còn nợ chị K
số tiền 131.000.000 đồng hứa khi bán được nhà trả số tiền trên cho chị K. Tại phiên
tòa, chị Ph thừa nhận từ ngày lập tờ cam kết ngày 15-8-2018 (âl) tức ngày
24/9/2018 (dl) chị ngưng đóng lãi cho đến nay nên đồng ý trả tiền vốn, lãi theo yêu
cầu của chị K là vốn 131.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 15-8-2018 (âl) tức ngày
24/9/2018 (dl) đến ngày xét xử sơ thẩm bằng 30.000.000 đồng. Tổng cộng vốn, lãi
bằng 161.000.000 đồng.
Xét sự thỏa thuận của các đương sự về số tiền vốn, lãi tại phiên tòa là hoàn
toàn tự nguyện không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên được công
nhận.
[2] Xét kháng cáo chị K yêu cầu anh V cùng liên đới với chị Ph trả số tiền
vốn, lãi 161.000.000 đồng và chị K cho rằng khi thảo thuận vay hai khoản tiền trên
chị giao tiền cho chị Ph, không lập biên nhận, không có báo cho anh V biết nhưng
do tờ cam kết trả nợ ngày 15-8-2018 (âl) chị Ph cam kết nếu không có tiền trả số
vay 131.000.000 đồng thì chồng chị Ph là anh Bùi Thanh V trả dùm. Anh V không
thừa nhận số tiền vốn vay 131.000.000 đồng của chị K, chị Ph đã sử dụng mục đích
chung vợ chồng và anh không đồng ý liên đới cùng chị Ph trả tiền cho chị K.
Tại phiên tòa, chị Ph thừa nhận khi chị vay tiền của chị K thì anh V không
hay biết và không có sự đồng ý của anh V nhưng nay chị thiếu tiền nhiều người
không có khả năng trả nên yêu cầu anh V cùng liên đới với chị trả nợ cho chị K.
Xét chị Ph đồng ý anh V liên đới cùng chị trả số tiền vốn lãi cho K nhưng anh V
không đồng ý. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị K, chị Ph
không cung cấp được chứng cứ chứng minh số tiền vay trên chị Ph, anh V có cùng
sử dụng chung và chị Ph sử dụng số tiền trên nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của
gia đình. Căn cứ Điều 27, khoản 1 Điều 30, Điều 37 Luật Hôn nhân gia đình
năm 2014 thì không có căn cứ buộc anh V có trách nhiệm liên đới cùng chị Ph
trả cho chị K số tiền vốn, lãi bằng 161.000.000đ. Do đó, không có căn cứ chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của chị K.
[3] Về án dân sự sơ thẩm:

5
Chị K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền chị K nộp tạm ứng
án phí dân sự sơ thẩm 4.117.000 đồng theo biên lai thu số 16967 ngày 07/5/2021
tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Ôn sẽ được hoàn trả cho chị K.
Buộc chị Ph phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho chị K 161.000.000
đồng x 5% = 8.050.000 đồng.
Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền chị K đã
nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu số 14119
ngày 22 tháng 11 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Ôn, tỉnh
Vĩnh Long được hoàn trả cho chị K.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về nghĩa vụ tiếp tục trả lãi từ
ngày xét xử sơ thẩm đến khi thanh toán xong nợ theo mức lãi suất 0,83%/tháng
không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147, Điều 300, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý
và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và Điều 19 Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP
ngày 24/9/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa về số tiền lãi.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn chị Lê Thị Phụng K
về việc yêu cầu anh Bùi Thanh V liên đới cùng chị Nguyễn Thị Ánh Ph trả tiền
vốn, lãi vay; Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 45/2021/DS-ST ngày 11
tháng 11 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
Áp dụng các Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân
sự; tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Thị Phụng K.
Buộc bị đơn Nguyễn Thị Ánh Ph có nghĩa vụ trả cho Lê Thị Phụng K số tiền số
tiền vay vốn 131.000.000 đồng và số tiền lãi 30.000.000 đồng. Tổng cộng vốn, lãi
161.000.000 đồng (một trăm sáu mươi mốt triệu đồng).
2. Về án phí dân sự:
Chị Lê Thị Phụng K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân
sự phúc thẩm. Số tiền chị Lê Thị Phụng K nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm
6
4.117.000 đồng theo biên lai thu số 16967 ngày 07/5/2021 và số tiền tạm ứng án
phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu số 14119 ngày 22 tháng 11
năm 2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Ôn sẽ được hoàn trả cho chị
K.
Buộc chị Nguyễn Thị Ánh Ph phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền
8.050.000 đồng.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về nghĩa vụ tiếp tục trả lãi từ
ngày xét xử sơ thẩm đến khi thanh toán xong nợ theo mức lãi suất 0,83%/tháng
không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều
2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- CA: 01; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TACC: 01; (Đã ký)
- VKSND TVL: 02;
- TAND H.TÔ: 01;
- VKSND H.TÔ: 01;
- Chi Cục THADS H.TÔ: 01; Sơn Nữ Phà Ca
- Đương sự: 02;
- Lưu: 04.
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 11/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 03/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 29/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 24/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 23/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 16/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 15/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 12/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 10/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 09/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 06/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 04/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm