Bản án số 03/2023/HNGĐ-ST ngày 10/03/2023 của TAND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 03/2023/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 03/2023/HNGĐ-ST ngày 10/03/2023 của TAND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Bảo Thắng (TAND tỉnh Lào Cai)
Số hiệu: 03/2023/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/03/2023
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị Lù Thị P ly hôn với anh Giàng Seo S; Về con chung
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN B Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 03/2023/HNGĐ - ST
Ngày 10/3/2022
V/v " Ly hôn, tranh chấp về nuôi dưỡng
con chung khi ly hôn .
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Như Long
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Lương Tuất Mạnh
2. Bà: Nguyễn Thị Ánh Tuyết
Thƣ phiên tòa: Thị Tươi - Thư Tòa án nhân dân huyện B,
tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Hải Bằng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 3 năm 2023. Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào
Cai tiến hành xét xử thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình th số:
228/2022/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2022 về việc Ly hôn, tranh
chấp vnuôi dưỡng con chung khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 14/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
1- Nguyên đơn: Chị Lù Thị P; Sinh năm: 1986.
Địa chỉ: Thôn L1, xã Ph, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt tại phiên toà.
2- Bị đơn: Anh Giàng Seo S.
Địa chỉ: Thôn L1, Ph, huyện B, tỉnh Lào Cai. Hiện đang chấp hành
hình phạt tại phân trại số 2, trại giam Tân Lập, tỉnh Phú Thọ - Vắng mặt tại
phiên tòa (Có yêu cầu đề nghị xét sử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của chị Thị P các bản tự khai của chị Thị P
và anh Giàng Seo S cùng các tài liệu chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án thì chị
Thị Panh Giàng Seo S đều xác nhận anh, chị về chung sống với nhau như v
chồng, trên cơ sở tự nguyện từ thời gian tháng 10/2003, có tổ chức cưới hỏi theo
phong tục tập quán địa phương nhưng không đăng kết n. Sau ngày cưới
anh, chị về chung sống với nhau tại Thôn L1, xã Ph, huyện B, tỉnh Lào Cai
đã 03 con chung với nhau. Đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên
nhân chính dẫn đến mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong làm ăn tạo
dựng cuộc sống gia đình nuôi dạy con cái, Anh Giàng Seo S không chịu tu
2
chí làm ăn, dẫn đến việc vi phạm pháp luật và bị Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình
xử phạt 15 năm về tội " Mua bán trái phép chất ma túy" và hiện nay đang
chấp hành hình phạt tù tại phân trại số 2, trại giam Tân Lập, tỉnh Phú Thọ. Thực
tế anh chị đã tự sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay không ai quan tâm gì đến
nhau nữa. Nhận thấy tình cảm không còn, ngày 19/12/2022 chị Thị P đã làm
đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện B giải quyết không công nhận chị
và anh Giàng Seo S là vợ chồng theo quy định của pháp luật.
Anh Giàng Seo S cũng nhất trí đề nghị Tòa án giải quyết không công
nhận anh và chị Lù Thị P không phải là vợ chồng theo quy định của pháp luật
thực tế tình cảm không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc hiện nay anh
vẫn đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam.
Về con chung: Chị Lù Thị Panh Giàng Seo S đều xác nhận trong thời
gian chung sống cho đến nay anh, chị đã có 03 con chung.
Cháu lớn: Giàng Thị C - Sinh ngày: 20/4/2004;
Cháu thứ hai: Giàng Thị L - Sinh ngày: 21/7/2006;
Cháu thứ ba: Giàng Quang Th - Sinh ngày: 17/8/2009
Hiện nay cả 03 cháu đều khỏe mạnh phát triển bình thường cháu lớn
Giàng Thị C đã trưởng thành trên 18 tuổi. Nên chị anh Giàng Seo S đều
không yêu cầu Tòa án giải quyết khi không công nhận chị anh vchồng.
Đối với cháu Giàng Thị L cháu Giàng Quang Th hiện tại đang cùng
với chị Thị P tại Thôn L1, Ph, huyện B, tỉnh Lào Cai. Khi Tòa án giải
quyết không công nhận anh chị không phải là vợ chồng, chị Lù Thị P có yêu cầu
xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cả 02 cháu Giàng Thị L
cháu Giàng Quang Th cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Lù Thị
P không yêu cầu anh Giàng Seo S phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.
thực tế hiện nay anh Giàng Seo S đang chấp hành hình phạt trong trại
giam, không có đủ điều kiện để nuôi dưỡng các cháu.
Về tài sản chung: Chị Thị P anh Giàng Seo S đều xác nhận trong
thời gian chung sống anh, chị chưa tạo dựng được tài sản chung. Nên khi Tòa
án giải quyết không công nhận anh, chị là vợ chồng, anh, chị đều không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Chị Thị P và anh Giàng Seo S đều xác nhận trong
thời gian chung sống anh chị không vay nợ của ai cũng không cho ai vay nợ
nên khi không công nhận vợ chồng anh chị đều không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh o
Cai tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong
quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp
luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ vụ án cho đến trước thời
điểm Hội đồng xét xử nghị án; Trình bày những quan điểm về xác định thẩm
quyền thụ vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định cách
người tham gia tố tụng các biện pháp thu thập chứng cứ, trình tự, thủ tục tố
tụng tại phiên tòa cũng như trong quá trình giải quyết vụ án. Tòa án đã thực hiện
đầy đủ các bước thu thập chứng cứ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân
sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành tốt các quy định của pháp luật, Tuy nhiên
3
trong vụ án này bị đơn là người đang phải chấp hành án phạt tù tại trại giam Tân
Lập thuộc xã Võ Tranh, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, điều kiện đường xá xa sôi
nên việc tiến hành hòa giải đối với các đương sTòa án không thể tiến hành
được. Tuy nhiên Tòa án đã tiến hành các biện pháp y thác thu thập chứng cứ,
tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng trình tự quy định của pháp luật.
Đề nghị hội đồng xét xử n cứ o Khon 1 Điu 9; Khon 1 Điều 14;
Điều 15; Khon 2 Điều 53; Điu 57; Điều 81, 82, 83 luật hôn nhân gia đình;
Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng n sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản sử dụng án phí
lệ phí tòa án.
Vquan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn xử không công
nhận chị Lù Thị P và anh Giàng Seo S là vợ chồng.
Về con chung: Sau khi nhận định đánh giá về điều kiện nuôi dưỡng cũng
như để đảm bảo sự ổn định trong sinh hoạt của các cháu nhỏ đề nghị Hội đồng
xét xử: Giao cháu Giàng Thị L; Sinh ngày: 21/7/2006 và cháu Giàng Quang Th;
Sinh ngày: 17/8/2009 cho chị Thị P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục
cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Giàng Seo S không phải cấp
dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.
Tuyên nghĩa vụ chịu án phí quyền kháng cáo cho các đương sự theo
quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, được thẩm
vấn công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:
[1].Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị P anh Giàng Seo S chung sống
với nhau như vợ chồng từ thời gian tháng 10/2003, trên sở hoàn toàn tự
nguyện, tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương nhưng không
đăng kết hôn theo quy định của pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xxác định
đây cuộc hôn nhân bất hợp pháp không được pháp luật thừa nhận. Sau ngày
cưới anh, chị về chung sống hòa thuận hạnh phúc đã 03 con chung với nhau
đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính dẫn đến việc chị
Thị P làm đơn xin ly hôn anh Giàng Seo S do quan điểm, cách sống không
thống nhất với nhau trong làm ăn tạo dựng cuộc sống gia đình nuôi dạy con.
Mặt khác năm 2013 do anh Giàng Seo S không chịu tu chí làm ăn, dẫn đến việc
vi phạm pháp luật và bị Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử phạt 15 năm tù về tội
" Mua bán trái phép chất ma túy" hiện nay đang chấp hành hình phạt tại
phân trại s2, trại giam Tân Lập, tỉnh Phú Thọ. Thực tế anh chị đã tự sống ly
thân từ năm 2013 cho đến nay không ai quan tâm đến nhau nữa. Nhận thấy
tình cảm không còn, ngày 19/12/2022 chị Thị P đã làm đơn khởi kiện đề
nghị Tòa án nhân dân huyện B giải quyết không công nhận chị anh Giàng
Seo S là vợ chồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại bản tự khai của anh Giàng Seo S anh
cũng xác nhận anh chị Thị P vchung sống với nhau như vợ chồng từ
tháng 10/2003 nhưng không đăng kết hôn tại quan nhà nước có thẩm
4
quyền. Về nguyên nhân mâu thuẫn như chị Thị P trình bầy đúng. Đến nay
chị Thị P yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận anh chị
vợ chồng anh cũng nhất trí với lý do tình cảm giữa anh chị không còn, cuộc
sống chung không hạnh phúc.
Xét thấy việc chung sống của chị Thị P anh Giàng Seo S trái với
các qui định của pháp luật về hôn nhân gia đình. Tại phiên tòa hôm nay ch
Thị P vẫn ginguyên yêu cầu đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết không
công nhận anh chị vợ chồng với do tình cảm không còn, cuộc sông chung
không hạnh phúc. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của chị Thị P và ý kiến
đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa căn cứ, nên Hội đồng xét
xử cần cần chấp nhận xử không công nhận chị Thị P anh Giàng Seo S
là vợ chồng là căn cứ phù hợp với Khoản 1 Điều 9; Khoản 1 Điều 14; Khoản
2 Điều 53 luật hôn nhân và gia đình.
[2].Về con chung: Tại phiên tòa hôm nay và các tài liệu có trong hồ sơ vụ
án thì chị Thị Pang anh Giàng Seo S đều xác nhận trong thời gian chung
sống cho đến nay anh, chị đã có 03 con chung.
Cháu lớn: Giàng Thị C - Sinh ngày: 20/4/2004;
Cháu thứ hai: Giàng Thị L - Sinh ngày: 21/7/2006;
Cháu thứ ba: Giàng Quang Th - Sinh ngày: 17/8/2009. Hiện nay các cháu
đều khỏe mạnh phát triển bình thường cháu lớn Giàng Thị C đã trưởng thành
trên 18 tuổi, nên khi không công nhận anh chị vợ chồng thì anh chị đều không
yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xxét thấy là phù hợp nên không đề cập giải
quyết.
Đối với cháu Giàng Thị L và cháu Giàng Quang Th hiện nay các cháu
đang cùng với chị Thị P tại Thôn L1, Ph, huyện B, tỉnh Lào Cai. Khi
được Tòa giải quyết không công nhận chị và anh là vợ chồng thì chị Lù Thị P
yêu cầu đề nghị xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả 02
cháu Giàng Thị L và cháu Giàng Quang Th cho đến khi các cháu trưởng thành
đủ 18 tuổi. Chị Thị P không yêu cầu anh Giàng Seo S phải cấp dưỡng tiền
nuôi dưỡng con chung. thực tế hiện nay anh Giàng Seo S đang chấp hành
hình phạt tù tại trại giam nên không có đủ điều kiện để nuôi dưỡng các con. Anh
Giàng Seo S cũng nhất trí.
Tại phiên tòa hôm nay xét thấy yêu cầu của chị Thị P, ý kiến đề nghị
của đại diện Viện kiểm sát vviệc nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét
thấy là phù hợp với các quy định tại Khoản 1 Điều 14; Điều 15, 81,82, 83 luật
hôn nhân gia đình, phù hợp với tâm nguyện vọng của các cháu. Đảm
bảo được quyền, lợi ích về mọi mặt cho các cháu. Nên Hội đồng xét xử cần chấp
nhận.
[3] Về tài sản chung: Tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ trong hồ
vụ án thì chị Thị P anh Giàng Seo S đều xác nhận trong thời gian
chung sống anh chị chưa tạo dựng được tài sản chung. Nên khi giải quyết
không công nhận vợ chồng anh, chị đều không yêu cầu giải quyết, Viện kiểm
sát không đề cập giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[4] Về công nợ chung: Chị Thị P anh Giàng Seo S đều xác nhận
trong thời gian chung sống anh chị không vay nợ của ai cũng không cho ai
5
vay nợ nên khi giải quyết không công nhận vợ chồng anh chị đều không
yêu cầu Tòa án giải quyết, Viện kiểm sát không đề cập. Hội đồng xét xử không
đề cập giải quyết.
[5] Về smặt của đƣơng sự tại phiên a: Đối với anh Giàng Seo S
hiện nay đang chấp hành hình phạt tại trại giam Tân Lập, tỉnh Phú Thọ vắng
mặt tại phiên tòa nhưng trong lời khai bản thân anh cũng đã trình bầy đầy đủ
những yêu cầu và ý kiến quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án và anh
yêu cầu đề nghị Tòa án xét xử giải quyết vắng mặt anh theo quy định của pháp
luật. Xét thấy việc yêu cầu của anh là tự nguyện, do vậy Hội đồng xét xử căn cứ
vào Khoản 1 Điều 227 Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử
giải quyết vắng mặt anh là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
[6]. Về án phí: Chị Thị P phải chịu án phí dân sthẩm theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
n cứ o Khoản 1 Điều 9; Khoản 1 Điều 14; Điều 15; Khoản 2 Điều 53;
Điều 57; Điều 81, 82, 83 luật n nhân gia đình; Khoản 4 Điều 147; Khoản 1
Điều 227; Khoản 1 Điều 228 B luật t tụng dân sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu
nộp, quản sdụng án p lphí tòa án.
1.Về quan hệ hôn nhân: Xử không công nhận chị Lù Thị P và anh Giàng
Seo S là vợ chồng.
2. Về con chung: Giao cháu Giàng Thị L; Sinh ngày: 21/7/2006 cháu
Giàng Quang Th; Sinh ngày: 17/8/2009 cho chị Thị P trực tiếp nuôi dưỡng,
chăm sóc giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Giàng
Seo S không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.
Sau khi chấm dứt quạn hệ n nhân anh Giàng Seo S quyền, nghĩa vụ
thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản tr.
3. Về án phí: Chị Thị P phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền
án phí Dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm
ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0003163 ngày 19/12/2022 tại Chi cục
Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai.
Xác nhận chị Lù Thị P đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai thẩm, báo cho nguyên đơn biết quyền kháng cáo
bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn quyền kháng cáo bản
án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo
quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
6
Nơi nhận T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lào Cai; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND huyện B;
- THA dân sự huyện B; Đã ký
- UBND xã Ph, huyện B;
- Các đương sự (2);
- Lưu HS – TA - VP.
Phạm Như Long
Tải về
Bản án số 03/2023/HNGĐ-ST Bản án số 03/2023/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất