Bản án số 03/2021/DS-ST ngày 31/03/2021 của TAND huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ về tranh chấp bồi thường thiệt hại sức khỏe và tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 03/2021/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 03/2021/DS-ST ngày 31/03/2021 của TAND huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ về tranh chấp bồi thường thiệt hại sức khỏe và tài sản
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Đoan Hùng (TAND tỉnh Phú Thọ)
Số hiệu: 03/2021/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/03/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị B khởi kiện Ông Hà Chí L; Ông Hà Chí L có yêu cầu phản tố với bà Nguyễn Thị B
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH PHÚ THỌ
————————
Bản án số: 03/2021/DS-ST
Ngày: 31-03-2021
V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại
về sức khỏe và tài sản
CỘNG A HỘI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lp - Tdo - Hạnh phúc
—————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hi đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Mùi
Ông Nguyễn Văn Thực
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thọ
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Phú Thọ tham gia
phiên tòa: Vũ Kim Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử
thẩm công khai
vụ án thụ số: 43/2020/TLST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2020
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2021/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 3
năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B sinh năm 1968
Địa chỉ: Thôn 04, xã Y, huyện Đ, tỉnh P Thọ.
- Bị đơn: Ông Hà Chí L sinh năm 1958
Địa chỉ: Thôn 04, xã Y, huyện Đ, tỉnh P Thọ.
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị H sinh năm
1966.
Địa chỉ: Thôn 04, xã Y, huyện Đ, tỉnh P Thọ.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Đình T sinh năm: 1977
Địa chỉ: Thôn 04, xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
Bà B, ông L, bà H đều có mặt. Ông T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn là
Nguyễn Thị B trình bày:
Trong đơn khi kin các li khai ti Tòa án, nguyên đơn Nguyn
Th B trình bày: Ngày 24/12/2019, ông Hà Chí L và v là bà Nguyn Th H thuê
đội th xây v phá chung ln xây b rào trên phn đất đang tranh chp gia
hai nhà. Bà B đã can ngăn và không cho th xây làm na. Sau đó hai bên li qua
tiếng li ri dn đễn xô sát. Ông L tóm c áo ri tát mt cái làm B ngã xung
đống gch gn đó. S vic đã được Công an xã đến lp biên bn. Sau khi b ngã,
B được người thân đưa ra Trm y tế sơ cu, sau đó đi Bnh vin Đa Khoa
V điu tr (vào vin lúc 11h00). Đến ngày 29/12/2019 thì ra vin (ra vin lúc
16h00). Trong thi gian điu tr ti bnh vin, con gái bà B là Nguyn Th Hi Y
phi ngh làm t trưa ngày 24/12/2019 đến chiu ngày 29/12/2019 để chăm sóc.
Trong s vic trên, B xác định ch ông L người đánh làm b
thương phi đi vin điu tr. Do vy, bà B yêu cu ông Hà Chí L phi bi thường
nhng khon sau:
+ 29.000 đồng tin sơ cu ti Trm y tế xã Y;
+ 300.000 đồng tin taxi hai lượt đi và v t nhà đến Bnh vin V;
+ 1.698.000 đồng tin khám và chiếu chp khi vào vin;
+ 5.000.000 đồng tin tm ng vin phí;
+ 649.000 đồng tin thanh toán khi ra vin;
+ 600.000 đồng tin thuê xe taxi đi giám định sc khe ti V;
+ 1.500.000 đồng tin ăn trong nhng ngày điu tr ti bnh vin ca bà B
và người chămc (con gái bà B);
+ 4.000.000 đồng là tin công lao động mt tháng phi ngh nhà không đi
làm được;
+ 6.000.000 đồng là tin lương ca ch Y tương ng vi s ngày phi nhà
để chăm sóc.
Tng cng là: 19.776.000 đồng (Mười chín triu B trăm B mươi sáu nghìn
đồng).
Ngoài các khon trên, bà B không yêu cu ông L bi thường khon tin nào
khác.
B đơn là ông Hà Chí L trình bày:
Trước ngày xy ra s vic, ông L và v tôi là bà Nguyn Th H có sang nhà
Nguyn Th B để bàn v vic B tranh chp đất. Quan đim là mun kết
thúc tranh chp, s làm s đỏ cho B đối vi phn din tích y đang s
dng nhưng bà B không đồng ý, bà B nói vi v chng ông L Đất ca bà thì
bà c xây” (ý nói là cứ xây b rào làm ranh gii gia hai nhà).
Đến 24/12/2019, v chng ông L thuê nhóm th đến xây b rào. Nhóm th
đã thc hin đúng hướng dn là ch đập b phn chung ln phía bên đất ca gia
3
đình đã được cp GCNQSD đất xây nt mt cnh b rào để ngăn cách gia
hai nhà.
Khong 10 gi 00 phút, bà Nguyn Th B v, thy người đang xây b
rào thì không nói câu nào, lao vào đạp đổ b rào. H can ngăn thì con con gái
B ch Nguyn Th Hi Y túm tóc H còn B mt tay túm tóc, mt tay
cm búa đinh ca th xây định ghè vào chán H. Thy vy, th c là anh
Nguyn Văn T chy ra ging búa khi tay B, lúc đó ông L đang lp đin nghe
thy to tiếng nên chy xung can ngăn thì B ch mặt tôi nói: Mày ch
con chó chui gm chn, đất th t mày bên Thanh Sơn. Đây đất b m tao,
mày cút.”. Do b xúc phm nên ông L đã tát cnh cáo B mt cái vào má. Sau
đó tôi đi báo công an xã xung làm vic.
Ông L xác định ch tát cnh cáo B duy nht mt cái vào má, không đến
mc thương tích gì, không đánh mnh. Nguyên nhân do B li l xúc
phm ông L trước do vy B yêu cu bi thường thit hi v sc khe s tin
là: 19.776.000 đồng (Mười chín triu bảy trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) ông L
không đồng ý mà ch nht trí bi thường khon tin sơ cu ti Trm y tế Y
29.000 đồng.
Trong quá trình gii quyết ông L yêu cu phn b, đề ngh buc B
phi bi thường cho ông và bà H nhng khon tin sau:
+ 06m tường rào b đổ tr giá 1.200.000 đồng;
+ Tin công na ngày ca 06 th xây là: 900.000 đồng;
+ Tin xi cát đã trn b chết là: 870.000 đồng;
+ Tin cc bê tông làm tr xây tường rào là 3 cc có tng tin 1.200.000
đồng.
Tng cng là: 4.170.000 đồng (Bn triu mt trăm bảy mươi nghìn đồng).
Người có quyn li, nghĩa v liên quan là bà Nguyn Th H (v ông Hà Chí
L) trình bày: công nhn ni dung ông Hà Chí L trình bày là đúng s tht và nht
trí vi yêu cu phn t ca ông L.
Quá trình gii quyết ti Công an Y, Nguyn Th B đơn đề ngh
trưng cu giám định v thương tích. Ti bn kết lun giám định pháp y v
thương tích s 05/TgT/2020 ngày 08/01/2020 ca Trung tâm pháp y Phú Th
kết luận: “Sau bị người khác đánh góc hàm phi ca bà Nguyn Th B không để
li thương tích gì. Trong thông tư s 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 ca B y
tế quy định t l phn trăm tn thương cơ th s dng trong giám định pháp y,
giám định pháp y tâm thn không có mc xếp t l tn thương cơ th.
Ti thi đim giám định góc hàm phi ca Nguyên Th B không để li
thương tích gì, không xác định được cơ chế chn thương.”
Ngày 08/5/2020 Công an xã Y thông báo két qu xác minh v vic có hành
vi xâm hi sc khe, c ý làm hư hng tài sn xy ra ngày 24/12/2019 ti thôn 4
Y như sau: Hành vi ca B dùng chân đạp đổ b rào gch bê tông đang xây
4
ca gia đình ông L bà H hành vi ca ôngChí L dùng tay tát vào mt B
đều không đủ căn c để x lý v hình s mà ch là vi phm hành chính. Ngoài ra
căn c vào các tài liu chng c đã thu thp được có đủ căn c xác định toàn b
din tích đất ông L H xây dng nhà , chung ln b rào nm trong giy
chng nhn quyn s dng đất mang tên bà H. V phn dân s các bên không t
gii quyết được thì đề ngh làm đơn đến TAND huyn Đ để gii quyết theo thm
quyn.
Trong quá trình gii quyết v án, Hi đồng định giá đã tiến hành xem xét,
thm định ti ch đối vi đon tường rào b đổ. Quá trình thm định đon tường
rào xây b B du đổ nm hoàn toàn trên din tích đất mà gia đình ông Chí
L đang s dng đã được cp giy chng nhn quyn s dng đất. Hi đồng định
giá thng nht 01m tường rào tr giá 200.000 đồng. B, ông L, H đều
nht trí vi giá mà Hi đồng định giá đưa ra. Tại phiên tòa B đồng ý tự
nguyện bồi thường cho ông L, bà H trị giá 6m tường rào là 1.200.000đ.
Xác minh ti bênh vin V, thi đim được ra vin, bà Nguyn Th B sc
khe bình thường, t chăm sóc bn thân được và không cn người nào chăm sóc
na.
Xác minh ti địa phương, UBND Y cho biết Nguyn Th B làm ngh
nông nghip, ch lao động ph thông, thu nhp trung bình đối vi lao động
ph thông ti địa phương t 200.000đ 250.000đ/ ngày.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, xác định: Trong
quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo
hướng:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều
588, khoản 1 Điều 589, Điều 590, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ vào: Khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271, khoản 1, khoản 3 Điều 273 của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Căn cứ o điểm d, đ Điều 12, khoản 5 Điều 26 và khoản 1 Điều 27 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30 tháng 02 năm 2016 của Ủy ban thường
vụ Quc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí, lệ phí tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông
Chí L phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho Nguyễn Thị B tổng số tiền
là: 10.976.000 đồng (Mười triệu chín trăm bảy mươi sáu nghìn đồng), bao gồm
những khoản sau:
+ 29.000 đồng tiền cứu tại Trạm y tế xã Y;
+ 1.698.000 đồng tiền khám chiếu chụp tại Bệnh viện đa khoa nhân
V;
5
+ 5.000.000 đồng tiền tạm ứng viện phí;
+ 649.000 đồng tiền thanh toán khi ra viện;
+ 600.000 đồng tiền thuê xe taxi đi giám định sức khỏe tại V;
+ 1.500.000 đồng tiền công 06 ngày B phải nghỉ làm để điều trị tại
bệnh viện (250.000 đồng/ngày);
+ 1.500.000 đồng tiền công 06 ngày con gái B phải nghỉ làm để
chăm sóc bà B tại bệnh viện (250.000 đồng/ngày);
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện ca nguyên đơn tương
ứng với yêu cầu bồi thường thiệt hại các khoản tổng số tiền là: 8.800.000
đồng (Tám triệu tám trăm nghìn đồng).
3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn, buộc Nguyễn Thị
B phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Chí L Nguyễn Thị H số
tiền là: 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
4. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn tương ứng với
yêu cầu bồi thường thiệt hại các khoản tổng số tiền : 2.970.000 đồng (Hai
triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng).
5. Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ
quan thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày
đơn yêu cầu thi hành án của người đưc thi nh án (đối với khoản tiền phải
trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản
tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều
468 Bộ luật dân sự.
6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc Nguyễn ThB phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí
dân sự sơ thẩm.
Miễn án phí dân sự thẩm cho Nguyễn Thị B đối với mt phần yêu
cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe không được chấp nhận.
Miễn án phí cho ông Hà Chí L do là người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Xét đơn khởi kiện của Nguyễn Thị B đơn yêu cầu phản tố của ông
Chí L, Hội đồng xét xử xác định đây vụ việc tranh chấp bồi thường thiệt hại
sức khỏe tài sản ngoài hợp đồng, nơi xảy ra sự việc nơi bị đơn cư trú đều
tại thôn 04, xã Y, huyện Đ, theo quy định tại Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng
dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh
Phú Thọ.
[2] Về nội dung v án:
6
[2.1] Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn. Tại Bản tự khai và
các Biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án, B đều khẳng định sự
việc ngày 24/12/2019 chỉ một mình ông Chí L đã đánh bà, dẫn đến việc
bà phải đi sơ cứu tại Trạm Y tế xã Y và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tư nhân V.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Chí L cũng thừa nhận sviệc xảy ra
ngày 24/12/2019 chỉ có ông là người đã tát bà B và ông chỉ tát một cái duy nhất.
Lời khai của các bên phù hợp với tài liệu trong hồ mà cơ quan công an đã
thu thập. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận: việc gây thương tích cho B là do
lỗi ca một mình ông L. Do vậy, ông L phải bồi thường thiệt hại vsức khỏe
cho bà B những khoản sau: 29.000 đồng tiền sơ cứu tại Trạm y tế Y;
1.698.000 đồng tiền khám chiếu chụp tại Bệnh viện đa khoa tư nhân V;
5.000.000 đồng tiền tạm ứng viện phí; 649.000 đồng tiền thanh toán khi ra viện;
600.000 đồng tiền thuê xe taxi đi giám định sức khỏe tại V; 1.500.000 đồng là
tiền công 06 ngày bà B phải nghỉ làm để điều trị tại bệnh viện (250.000
đồng/ngày); 1.500.000 đồng tiền công 06 ngày con gái bà B phải nghỉ làm để
chăm sóc B tại bệnh viện (250.000 đồng/ngày). Tổng cộng, ông L phải bồi
thường cho B tổng số tiền là: 10.976.000 đồng (Mười triệu chín trăm bảy
mươi sáu nghìn đồng).
Ngoài những khoản đã chấp nhận nêu trên, nguyên đơn còn yêu cầu bị
đơn phải thanh toán 8.800.000 đồng (Tám triệu tám trăm nghìn đồng), bao gồm
những khoản sau: 300.000 đồng tiền taxi hai lượt đi và về từ nhà tôi đến Bệnh
viện V; 1.500.000 đồng tiền ăn trong những ngày điều trị tại bệnh viện của B
con gái B; 2.500.000 đồng tiền công lao động mt tháng phải nghỉ
nhà không đi làm được ã trừ đi 1.500.000 đồng là phần yêu cầu được chấp
nhận); 4.500.000 đồng tiền lương của con gái B tương ứng với số ngày phải ở
nhà để chămc bà (đã trừ đi 1.500.000 đồng là phần yêu cầu được chấp nhận).
Hội đồng xét xử nhận thấy, sau khi ra viện sức khỏe B đã ổn định,
thể tự chăm sóc bản thân nên khoản tiền công của B người chăm sóc,
ngoài 06 ngày điều trị tại bệnh viện, không sở để chấp nhận. Đối với yêu
cầu bồi thường tiền ăn, xét thấy chi phí ăn uống chi phí hàng ngày không ph
thuộc vào việc bị người khác gây thương tích hay không nên không sđể
chấp nhận. Tiền tiền taxi hai lượt đi về từ nhà B đến Bệnh viện V không
có tài liệu chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở để chấp nhận.
[2.2] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn. Lời khai của ông L, B, H
người làm chứng là ông Nguyễn Đình T phù hợp với hiện trạng nơi xảy ra sự
việc, bày B cũng thừa nhận việc làm đbờ tường mà nhà ông L đang xây. Tại
phiên tòa B cũng tự nguyện, đồng ý bồi thường cho ông L, H giá trị 6m
tường rào trị giá 1.200.000đ nên cần buộc bà B phải bồi thường cho ông L, bà H
1.200.000đ tương ứng với 06m tường rào bị đổ (200.000 đồng/mét tường o bị
đổ).
Ngoài những khoản đã chấp nhận nêu trên, ông L còn yêu cầu phản tố,
buộc B phải thanh toán 2.970.000 đồng, bao gồm những khoản sau: 900.000
đồng tiền công nửa ngày của 06 thợ xây; 870.000 đồng tiền xi cát trộn bị chết;
7
1.200.000 đồng tiền cc bê tông.
Hội đồng xét xử nhận thấy, những khoản này đã nằm trong giá thành đoạn
tường rào đã định gvà chấp nhận phần trên nên không sở để chấp
nhận.
[3] Về án phí:
Buộc B phải chịu án phí dân sự đối với yêu cầu phản tố của ông L, do
yêu cầu của ông L được chấp nhận.
Miễn án phí cho Nguyễn Thị B đối với phần yêu cầu bồi thường thiệt
hại về sức khỏe không được chấp nhận do thuộc trường hợp yêu cầu bồi thường
thiệt hại về sức khỏe.
Miễn án phí cho ông Hà Chí L do là người cao tuổi.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ về toàn bộ nội dung vụ
án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều
588, khoản 1 Điều 589, Điều 590, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ vào: Khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271, khoản 1, khoản 3 Điều 273 của Bộ luật
Tố tụng dân s.
Căn cứ o điểm d, đ Điều 12, khoản 5 Điều 26 và khoản 1 Điều 27 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30 tháng 02 năm 2016 của Ủy ban thường
vụ Quc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí, lệ phí tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông
Chí L phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho Nguyễn Thị B tổng số tiền
là: 10.976.000 đồng (Mười triệu chín trăm bảy mươi sáu nghìn đồng), bao gồm
những khoản sau:
+ 29.000 đồng tiền cứu tại Trạm y tế xã Y;
+ 1.698.000 đồng tiền khám chiếu chụp tại Bệnh viện đa khoa nhân
V;
+ 5.000.000 đồng tiền tạm ứng viện phí;
+ 649.000 đồng tiền thanh toán khi ra viện;
+ 600.000 đồng tiền thuê xe taxi đi giám định sức khỏe tại V;
+ 1.500.000 đồng tiền công 06 ngày B phải nghỉ làm để điều trị tại
bệnh viện (250.000 đồng/ngày);
8
+ 1.500.000 đồng tiền công 06 ngày con gái B phải nghỉ làm để
chăm sóc bà B tại bệnh viện (250.000 đồng/ngày);
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tương
ứng với yêu cầu bồi thường thiệt hại các khoản tổng số tiền là: 8.800.000
đồng (Tám triệu tám trăm nghìn đồng).
3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn, buộc Nguyễn Thị
B phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Chí L Nguyễn Thị H số
tiền là: 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
4. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn tương ứng với
yêu cầu bồi thường thiệt hại các khoản tổng số tiền là: 2.970.000 đồng (Hai
triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng).
5. Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ
quan thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày
đơn yêu cầu thi hành án của người đưc thi hành án (đối với khoản tiền phải
trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản
tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều
468 Bộ luật dân sự.
6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc Nguyễn ThB phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí
dân sự sơ thẩm.
Miễn án phí dân sự thẩm cho Nguyễn Thị B đối với một phần u
cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe không được chấp nhận.
Miễn án phí cho ông Hà Chí L do là người cao tuổi.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đưc thực hiện theo quy định tại các Điều
30 Luật thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự mặt quyền
kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện, tỉnh;
- Chi cục THADS huyện Đ;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Anh Tuấn
Tải về
Bản án số 03/2021/DS-ST Bản án số 03/2021/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất