Bản án số 03/2021/DS-ST ngày 31/03/2021 của TAND huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ về tranh chấp bồi thường thiệt hại sức khỏe và tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 03/2021/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 03/2021/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 03/2021/DS-ST ngày 31/03/2021 của TAND huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ về tranh chấp bồi thường thiệt hại sức khỏe và tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Đoan Hùng (TAND tỉnh Phú Thọ) |
| Số hiệu: | 03/2021/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 31/03/2021 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà Nguyễn Thị B khởi kiện Ông Hà Chí L; Ông Hà Chí L có yêu cầu phản tố với bà Nguyễn Thị B |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH PHÚ THỌ
————————
Bản án số: 03/2021/DS-ST
Ngày: 31-03-2021
V/v tranh chấp bồi thường thiệt hại
về sức khỏe và tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
——————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Mùi
Ông Nguyễn Văn Thực
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thọ
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Phú Thọ tham gia
phiên tòa: Bà Vũ Kim Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ
thẩm công khai
vụ án thụ lý số: 43/2020/TLST-DS ngày 12 tháng 11 năm 2020
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2021/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 3
năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B – sinh năm 1968
Địa chỉ: Thôn 04, xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
- Bị đơn: Ông Hà Chí L – sinh năm 1958
Địa chỉ: Thôn 04, xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H – sinh năm
1966.
Địa chỉ: Thôn 04, xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Đình T – sinh năm: 1977
Địa chỉ: Thôn 04, xã Y, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
Bà B, ông L, bà H đều có mặt. Ông T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn là bà
Nguyễn Thị B trình bày:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là bà Nguyễn
Thị B trình bày: Ngày 24/12/2019, ông Hà Chí L và vợ là bà Nguyễn Thị H thuê
đội thợ xây về phá chuồng lợn và xây bờ rào trên phần đất đang tranh chấp giữa
hai nhà. Bà B đã can ngăn và không cho thợ xây làm nữa. Sau đó hai bên lời qua
tiếng lại rồi dẫn đễn xô sát. Ông L tóm cổ áo rồi tát một cái làm bà B ngã xuống
đống gạch gần đó. Sự việc đã được Công an xã đến lập biên bản. Sau khi bị ngã,
bà B được người thân đưa ra Trạm y tế xã sơ cứu, sau đó đi Bệnh viện Đa Khoa
V điều trị (vào viện lúc 11h00). Đến ngày 29/12/2019 thì ra viện (ra viện lúc
16h00). Trong thời gian điều trị tại bệnh viện, con gái bà B là Nguyễn Thị Hải Y
phải nghỉ làm từ trưa ngày 24/12/2019 đến chiều ngày 29/12/2019 để chăm sóc.
Trong sự việc trên, bà B xác định chỉ có ông L là người đánh làm bà bị
thương phải đi viện điều trị. Do vậy, bà B yêu cầu ông Hà Chí L phải bồi thường
những khoản sau:
+ 29.000 đồng tiền sơ cứu tại Trạm y tế xã Y;
+ 300.000 đồng tiền taxi hai lượt đi và về từ nhà đến Bệnh viện V;
+ 1.698.000 đồng tiền khám và chiếu chụp khi vào viện;
+ 5.000.000 đồng tiền tạm ứng viện phí;
+ 649.000 đồng tiền thanh toán khi ra viện;
+ 600.000 đồng tiền thuê xe taxi đi giám định sức khỏe tại V;
+ 1.500.000 đồng tiền ăn trong những ngày điều trị tại bệnh viện của bà B
và người chăm sóc (con gái bà B);
+ 4.000.000 đồng là tiền công lao động một tháng phải nghỉ ở nhà không đi
làm được;
+ 6.000.000 đồng là tiền lương của chị Y tương ứng với số ngày phải ở nhà
để chăm sóc.
Tổng cộng là: 19.776.000 đồng (Mười chín triệu B trăm B mươi sáu nghìn
đồng).
Ngoài các khoản trên, bà B không yêu cầu ông L bồi thường khoản tiền nào
khác.
Bị đơn là ông Hà Chí L trình bày:
Trước ngày xảy ra sự việc, ông L và vợ tôi là bà Nguyễn Thị H có sang nhà
bà Nguyễn Thị B để bàn về việc bà B tranh chấp đất. Quan điểm là muốn kết
thúc tranh chấp, sẽ làm sổ đỏ cho bà B đối với phần diện tích bà ấy đang sử
dụng nhưng bà B không đồng ý, bà B nói với vợ chồng ông L là “Đất của bà thì
bà cứ xây” (ý nói là cứ xây bờ rào làm ranh giới giữa hai nhà).
Đến 24/12/2019, vợ chồng ông L thuê nhóm thợ đến xây bờ rào. Nhóm thợ
đã thực hiện đúng hướng dẫn là chỉ đập bỏ phần chuồng lợn phía bên đất của gia
3
đình đã được cấp GCNQSD đất và xây nốt một cạnh bờ rào để ngăn cách giữa
hai nhà.
Khoảng 10 giờ 00 phút, bà Nguyễn Thị B về, thấy có người đang xây bờ
rào thì không nói câu nào, lao vào đạp đổ bờ rào. Bà H can ngăn thì con con gái
bà B là chị Nguyễn Thị Hải Y túm tóc bà H còn bà B một tay túm tóc, một tay
cầm búa đinh của thợ xây định ghè vào chán bà H. Thấy vậy, thợ cả là anh
Nguyễn Văn T chạy ra giằng búa khỏi tay bà B, lúc đó ông L đang lắp điện nghe
thấy to tiếng nên chạy xuống và can ngăn thì bà B chỉ mặt tôi nói: “Mày chỉ là
con chó chui gầm chạn, đất thờ tổ mày ở bên Thanh Sơn. Đây là đất bố mẹ tao,
mày cút.”. Do bị xúc phạm nên ông L đã tát cảnh cáo bà B một cái vào má. Sau
đó tôi đi báo công an xã xuống làm việc.
Ông L xác định chỉ tát cảnh cáo bà B duy nhất một cái vào má, không đến
mức thương tích gì, không đánh mạnh. Nguyên nhân là do bà B có lời lẽ xúc
phạm ông L trước do vậy bà B yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe số tiền
là: 19.776.000 đồng (Mười chín triệu bảy trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) ông L
không đồng ý mà chỉ nhất trí bồi thường khoản tiền sơ cứu tại Trạm y tế xã Y là
29.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết ông L có yêu cầu phản bố, đề nghị buộc bà B
phải bồi thường cho ông và bà H những khoản tiền sau:
+ 06m tường rào bị đổ trị giá 1.200.000 đồng;
+ Tiền công nửa ngày của 06 thợ xây là: 900.000 đồng;
+ Tiền xi cát đã trộn bị chết là: 870.000 đồng;
+ Tiền cọc bê tông làm trụ xây tường rào là 3 cọc có tổng tiền là 1.200.000
đồng.
Tổng cộng là: 4.170.000 đồng (Bốn triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H (vợ ông Hà Chí
L) trình bày: công nhận nội dung ông Hà Chí L trình bày là đúng sự thật và nhất
trí với yêu cầu phản tố của ông L.
Quá trình giải quyết tại Công an xã Y, bà Nguyễn Thị B có đơn đề nghị
trưng cầu giám định về thương tích. Tại bản kết luận giám định pháp y về
thương tích số 05/TgT/2020 ngày 08/01/2020 của Trung tâm pháp y Phú Thọ
kết luận: “Sau bị người khác đánh góc hàm phải của bà Nguyễn Thị B không để
lại thương tích gì. Trong thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ y
tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y,
giám định pháp y tâm thần không có mục xếp tỉ lệ tổn thương cơ thể.
Tại thời điểm giám định góc hàm phải của bà Nguyên Thị B không để lại
thương tích gì, không xác định được cơ chế chấn thương.”
Ngày 08/5/2020 Công an xã Y thông báo két quả xác minh vụ việc có hành
vi xâm hại sức khỏe, cố ý làm hư hỏng tài sản xảy ra ngày 24/12/2019 tại thôn 4
xã Y như sau: Hành vi của bà B dùng chân đạp đổ bờ rào gạch bê tông đang xây
4
của gia đình ông L bà H và hành vi của ông Hà Chí L dùng tay tát vào mặt bà B
đều không đủ căn cứ để xử lý về hình sự mà chỉ là vi phạm hành chính. Ngoài ra
căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có đủ căn cứ xác định toàn bộ
diện tích đất ông L bà H xây dựng nhà ở, chuồng lợn bờ rào nằm trong giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà H. Về phần dân sự các bên không tự
giải quyết được thì đề nghị làm đơn đến TAND huyện Đ để giải quyết theo thẩm
quyền.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng định giá đã tiến hành xem xét,
thẩm định tại chỗ đối với đoạn tường rào bị đổ. Quá trình thẩm định đoạn tường
rào xây bị bà B du đổ nằm hoàn toàn trên diện tích đất mà gia đình ông Hà Chí
L đang sử dụng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hội đồng định
giá thống nhất 01m tường rào trị giá là 200.000 đồng. Bà B, ông L, bà H đều
nhất trí với giá mà Hội đồng định giá đưa ra. Tại phiên tòa bà B đồng ý tự
nguyện bồi thường cho ông L, bà H trị giá 6m tường rào là 1.200.000đ.
Xác minh tại bênh viện V, thời điểm được ra viện, bà Nguyễn Thị B sức
khỏe bình thường, tự chăm sóc bản thân được và không cần người nào chăm sóc
nữa.
Xác minh tại địa phương, UBND xã Y cho biết bà Nguyễn Thị B làm nghề
nông nghiệp, chỉ là lao động phổ thông, thu nhập trung bình đối với lao động
phổ thông tại địa phương từ 200.000đ – 250.000đ/ ngày.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, xác định: Trong
quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo
hướng:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều
588, khoản 1 Điều 589, Điều 590, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ vào: Khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271, khoản 1, khoản 3 Điều 273 của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào điểm d, đ Điều 12, khoản 5 Điều 26 và khoản 1 Điều 27 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30 tháng 02 năm 2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí, lệ phí tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Hà
Chí L phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà Nguyễn Thị B tổng số tiền
là: 10.976.000 đồng (Mười triệu chín trăm bảy mươi sáu nghìn đồng), bao gồm
những khoản sau:
+ 29.000 đồng tiền sơ cứu tại Trạm y tế xã Y;
+ 1.698.000 đồng tiền khám và chiếu chụp tại Bệnh viện đa khoa tư nhân
V;
5
+ 5.000.000 đồng tiền tạm ứng viện phí;
+ 649.000 đồng tiền thanh toán khi ra viện;
+ 600.000 đồng tiền thuê xe taxi đi giám định sức khỏe tại V;
+ 1.500.000 đồng là tiền công 06 ngày bà B phải nghỉ làm để điều trị tại
bệnh viện (250.000 đồng/ngày);
+ 1.500.000 đồng là tiền công 06 ngày con gái bà B phải nghỉ làm để
chăm sóc bà B tại bệnh viện (250.000 đồng/ngày);
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tương
ứng với yêu cầu bồi thường thiệt hại các khoản có tổng số tiền là: 8.800.000
đồng (Tám triệu tám trăm nghìn đồng).
3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn, buộc bà Nguyễn Thị
B phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Hà Chí L và bà Nguyễn Thị H số
tiền là: 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
4. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn tương ứng với
yêu cầu bồi thường thiệt hại các khoản có tổng số tiền là: 2.970.000 đồng (Hai
triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng).
5. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ
quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày
có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải
trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản
tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều
468 Bộ luật dân sự.
6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bà Nguyễn Thị B phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí
dân sự sơ thẩm.
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị B đối với một phần yêu
cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe không được chấp nhận.
Miễn án phí cho ông Hà Chí L do là người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Xét đơn khởi kiện của Nguyễn Thị B và đơn yêu cầu phản tố của ông Hà
Chí L, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ việc tranh chấp bồi thường thiệt hại
sức khỏe và tài sản ngoài hợp đồng, nơi xảy ra sự việc và nơi bị đơn cư trú đều
tại thôn 04, xã Y, huyện Đ, theo quy định tại Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng
dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh
Phú Thọ.
[2] Về nội dung vụ án:
6
[2.1] Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn. Tại Bản tự khai và
các Biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án, bà B đều khẳng định sự
việc ngày 24/12/2019 chỉ có một mình ông Hà Chí L đã đánh bà, dẫn đến việc
bà phải đi sơ cứu tại Trạm Y tế xã Y và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tư nhân V.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Hà Chí L cũng thừa nhận sự việc xảy ra
ngày 24/12/2019 chỉ có ông là người đã tát bà B và ông chỉ tát một cái duy nhất.
Lời khai của các bên phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ mà cơ quan công an đã
thu thập. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận: việc gây thương tích cho bà B là do
lỗi của một mình ông L. Do vậy, ông L phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe
cho bà B những khoản sau: 29.000 đồng tiền sơ cứu tại Trạm y tế xã Y;
1.698.000 đồng tiền khám và chiếu chụp tại Bệnh viện đa khoa tư nhân V;
5.000.000 đồng tiền tạm ứng viện phí; 649.000 đồng tiền thanh toán khi ra viện;
600.000 đồng tiền thuê xe taxi đi giám định sức khỏe tại V; 1.500.000 đồng là
tiền công 06 ngày bà B phải nghỉ làm để điều trị tại bệnh viện (250.000
đồng/ngày); 1.500.000 đồng là tiền công 06 ngày con gái bà B phải nghỉ làm để
chăm sóc bà B tại bệnh viện (250.000 đồng/ngày). Tổng cộng, ông L phải bồi
thường cho bà B tổng số tiền là: 10.976.000 đồng (Mười triệu chín trăm bảy
mươi sáu nghìn đồng).
Ngoài những khoản đã chấp nhận nêu trên, nguyên đơn còn yêu cầu bị
đơn phải thanh toán 8.800.000 đồng (Tám triệu tám trăm nghìn đồng), bao gồm
những khoản sau: 300.000 đồng tiền taxi hai lượt đi và về từ nhà tôi đến Bệnh
viện V; 1.500.000 đồng tiền ăn trong những ngày điều trị tại bệnh viện của bà B
và con gái bà B; 2.500.000 đồng tiền công lao động một tháng bà phải nghỉ ở
nhà không đi làm được (đã trừ đi 1.500.000 đồng là phần yêu cầu được chấp
nhận); 4.500.000 đồng tiền lương của con gái bà B tương ứng với số ngày phải ở
nhà để chăm sóc bà (đã trừ đi 1.500.000 đồng là phần yêu cầu được chấp nhận).
Hội đồng xét xử nhận thấy, sau khi ra viện sức khỏe bà B đã ổn định, có
thể tự chăm sóc bản thân nên khoản tiền công của bà B và người chăm sóc,
ngoài 06 ngày điều trị tại bệnh viện, không có cơ sở để chấp nhận. Đối với yêu
cầu bồi thường tiền ăn, xét thấy chi phí ăn uống là chi phí hàng ngày không phụ
thuộc vào việc bị người khác gây thương tích hay không nên không có cơ sở để
chấp nhận. Tiền tiền taxi hai lượt đi và về từ nhà bà B đến Bệnh viện V không
có tài liệu chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở để chấp nhận.
[2.2] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn. Lời khai của ông L, bà B, bà H và
người làm chứng là ông Nguyễn Đình T là phù hợp với hiện trạng nơi xảy ra sự
việc, bày B cũng thừa nhận việc làm đổ bờ tường mà nhà ông L đang xây. Tại
phiên tòa bà B cũng tự nguyện, đồng ý bồi thường cho ông L, bà H giá trị 6m
tường rào trị giá 1.200.000đ nên cần buộc bà B phải bồi thường cho ông L, bà H
1.200.000đ tương ứng với 06m tường rào bị đổ (200.000 đồng/mét tường rào bị
đổ).
Ngoài những khoản đã chấp nhận nêu trên, ông L còn yêu cầu phản tố,
buộc bà B phải thanh toán 2.970.000 đồng, bao gồm những khoản sau: 900.000
đồng tiền công nửa ngày của 06 thợ xây; 870.000 đồng tiền xi cát trộn bị chết;
7
1.200.000 đồng tiền cọc bê tông.
Hội đồng xét xử nhận thấy, những khoản này đã nằm trong giá thành đoạn
tường rào đã định giá và chấp nhận ở phần trên nên không có cơ sở để chấp
nhận.
[3] Về án phí:
Buộc bà B phải chịu án phí dân sự đối với yêu cầu phản tố của ông L, do
yêu cầu của ông L được chấp nhận.
Miễn án phí cho bà Nguyễn Thị B đối với phần yêu cầu bồi thường thiệt
hại về sức khỏe không được chấp nhận do thuộc trường hợp yêu cầu bồi thường
thiệt hại về sức khỏe.
Miễn án phí cho ông Hà Chí L do là người cao tuổi.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ về toàn bộ nội dung vụ
án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều
588, khoản 1 Điều 589, Điều 590, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ vào: Khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271, khoản 1, khoản 3 Điều 273 của Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào điểm d, đ Điều 12, khoản 5 Điều 26 và khoản 1 Điều 27 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30 tháng 02 năm 2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí, lệ phí tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Hà
Chí L phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà Nguyễn Thị B tổng số tiền
là: 10.976.000 đồng (Mười triệu chín trăm bảy mươi sáu nghìn đồng), bao gồm
những khoản sau:
+ 29.000 đồng tiền sơ cứu tại Trạm y tế xã Y;
+ 1.698.000 đồng tiền khám và chiếu chụp tại Bệnh viện đa khoa tư nhân
V;
+ 5.000.000 đồng tiền tạm ứng viện phí;
+ 649.000 đồng tiền thanh toán khi ra viện;
+ 600.000 đồng tiền thuê xe taxi đi giám định sức khỏe tại V;
+ 1.500.000 đồng là tiền công 06 ngày bà B phải nghỉ làm để điều trị tại
bệnh viện (250.000 đồng/ngày);
8
+ 1.500.000 đồng là tiền công 06 ngày con gái bà B phải nghỉ làm để
chăm sóc bà B tại bệnh viện (250.000 đồng/ngày);
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tương
ứng với yêu cầu bồi thường thiệt hại các khoản có tổng số tiền là: 8.800.000
đồng (Tám triệu tám trăm nghìn đồng).
3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn, buộc bà Nguyễn Thị
B phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Hà Chí L và bà Nguyễn Thị H số
tiền là: 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
4. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn tương ứng với
yêu cầu bồi thường thiệt hại các khoản có tổng số tiền là: 2.970.000 đồng (Hai
triệu chín trăm bảy mươi nghìn đồng).
5. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ
quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày
có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải
trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản
tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều
468 Bộ luật dân sự.
6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bà Nguyễn Thị B phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí
dân sự sơ thẩm.
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị B đối với một phần yêu
cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe không được chấp nhận.
Miễn án phí cho ông Hà Chí L do là người cao tuổi.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều
30 Luật thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt có quyền
kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện, tỉnh;
- Chi cục THADS huyện Đ;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Anh Tuấn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng