Bản án số 03/2020/HS-ST ngày 07/02/2020 của TAND huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 03/2020/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 03/2020/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 03/2020/HS-ST ngày 07/02/2020 của TAND huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Ngọc Hồi (TAND tỉnh Kon Tum) |
| Số hiệu: | 03/2020/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 07/02/2020 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGỌC HỒI
TỈNH KON TUM
Bản án số: 03/2020/HS-ST
Ngày: 07 - 02 - 2020
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HỒI- TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hành;
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Phan Thị Yến Phượng; Bà Trần Thị Trí;
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Minh Quang - Thư ký Tòa án nhân
dân huyện Ngọc Hồi;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi tham gia phiên toà: Ông
Hà Sỹ Thái- Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2020 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện
Ngọc Hồi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2019/TLST-HS
ngày 02 tháng 12 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
49/2019/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa
số: 01/2020/HSST-QQĐ ngày 08/01/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Văn K; Tên gọi khác: Không; Sinh 1970, tại T.
- Nơi cư trú: Số 10/6/1 đường Đ, phường P, thành phố H, tỉnh T. Nghề
nghiệp: Lái xe. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo;
Trình độ học vấn: 12/12
- Cha đẻ: Ngô Văn L, sinh năm 1939. Mẹ đẻ: Đặng Thị G, sinh năm 1939
Hiện đang sinh sống tại xã S, huyện A , tỉnh T
- Bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 08 anh chị em. Vợ: Nguyễn Thị Thùy
L; sinh năm 1974; nghề nghiệp: Viên chức.
Con: Bị cáo có 03 người con. Lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2013.
Tiền án- tiền sự: không. Nhân thân: Năm 2015 bị TAND huyện A L tỉnh T
xử phạt 5.000.000đ về tội đánh bạc. Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên
tòa.
Người bị hại:
2
1- Họ và tên: A T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 2000, tại tỉnh Kon tum.
(đã chết)
- Nơi cư trú: Thôn Nông Kon, xã Đăk Dục, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon tum.
Người đại diện cho gia đình người bị hại: Ông A H; Bố đẻ và bà Y T – mẹ
đẻ
Hiện đang sinh sống tại thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh K. Có mặt tại phiên tòa
2- Họ và tên: B; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 2002, tại tỉnh Kon tum. (đã
chết)
- Nơi cư trú: Thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon tum.
Người đại diện cho gia đình người bị hại: Ông A N. Bố đẻ; Bà Y T mẹ đẻ.
Hiện đang sinh sống tại thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon tum. Có mặt tại
phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH Minh Quốc do Ông
Bùi Ngọc S làm giám đốc. Trụ sở tại: số 647 đường N- TP K, tỉnh Kon Tum. Đại
diện theo ủy quyền ông Đoàn Thế T- Phó Giám đốc (Theo giấy ủy quyền ngày
17/7/2019) có đơn xin vắng mặt ;
Người làm chứng:
Anh Trần Văn N
Trú tại: Tổ 43 thôn T Nhơn xã p, huyện P, tỉnh T; Vắng mặt (Có đơn xin
vắng mặt)
Anh Bùi Văn S
Trú tại: Số nhà 189 đường Đ phường D Thành Phố K; Vắng mặt. (Có đơn
xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắc như sau:
Ngô Văn K sinh năm 1970, trú tại Phường P, Thành phố H, tỉnh T hợp đồng
lái xe chở khách cho Công ty trách nhiệm hữu hạn M. Ngày 16/7/2019, K được
giao nhiệm vụ tham gia điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 82B-002.10 vận chuyển
hành khách từ H về K. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, xe ô tô 82B- 002.10
bắt đầu xuất bến tại Thành phố Huế, lúc này người điều khiển xe là Trần Văn N
(tài 1), trên xe gồm có Ngô Văn K (tài 2), Bùi Văn S (phụ xe) và một số hành khách.
N điều khiển xe đi theo lịch trình, khi đến huyện Đắk Glei, tỉnh Kon Tum thì cho
xe dừng lại để đổi người điều khiển (đổi tài). Ngô Văn K thay Trần Văn N tiếp tục
điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 82B-002.10 chở khách về Thành phố Kon Tum.
Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 17/7/2019, xe ô tô do K điều khiển đi đến Km
1476+400, địa phận giao giữa hai thôn Đắk Giàng và Dục Nội, xã Đ huyện N, tỉnh
3
Kon Tum thì K phát hiện ở phía trước thuộc làn đường lưu thông của mình có hai
xe mô tô đi song song với nhau. Một xe biển kiểm soát 82E1-154.19, do A T điều
khiển chở theo sau là BR , còn một xe chưa xác định được biển kiểm soát và người
điều khiển đi thẳng về làn đường của xe ô tô. Khi xe ô tô do K điều khiển cách xe
mô tô khoảng 100m thì có một xe mô tô rẽ trái vào bên phải đường theo hướng xe
ô tô di chuyển, xe mô tô 82E1-154.19 do A T điều khiển vẫn đi thẳng. Khi khoảng
cách giữa hai phương tiện rất gần thì Ngô Văn K đánh lái điều khiển xe ô tô đi sang
làn đường bên trái để né tránh, đồng thời xe mô tô do A T điều khiển cũng rẽ sang
phải để về làn đường của mình tông vào xe ô tô. Sau khi bị tông, A T, BR ngã văng
xuống đường chết ngay tại chỗ.
Kết quả khám nghiệm hiện trường như sau:
Vụ tai nạn giao thông xảy ra tại km 1476 + 400 quốc lộ 14 đường Hồ Chí
Minh nằm ở địa giới giữa hai thôn Đ và D, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum. Đoạn
đường nơi xảy ra tai nạn có kết cấu bê tông nhựa, đường thẳng, thông thoáng, tầm
nhìn rộng; lòng đường rộng 6,3m, được phân chia thành hai làn đường xe lưu thông
ngược chiều riêng biệt bằng vạch sơn màu vàng đứt quãng ở giữa; hai bên lòng
đường được giới hạn bằng vạch sơn liền màu trắng, tiếp giáp với lòng đường hai
bên là lề đường rộng 01m, tiếp đến là mương thoát nước, nhà dân. Hiện trường có
các vị trí tiếp giáp như sau: Hướng Bắc đi huyện Đắk Glei, hướng Nam đi về trung
tâm huyện Ngọc Hồi, hướng Tây và hướng Đông tiếp giáp với khu dân cư.
Chọn hướng khám nghiệm là hướng huyện Đắk Glei đi Ngọc Hồi. Chọn cọc
tiêu lý trình Km 1476+400 làm điểm mốc (điểm chuẩn). Chọn mép trong vạch sơn
giới hạn lòng đường bên trái theo hướng khám nghiệm làm mép chuẩn để định vị
vị trí phương tiện, dấu vết tại hiện trường.
Xe ô tô biển kiểm soát 82B-002.10 dừng đỗ giữa lòng đường, song song với
trục đường, đầu xe quay về hướng đi huyện Ngọc Hồi. Trục trước bên trái (bên tài)
cách mép chuẩn là 2,45m, cách điểm mốc là 5,2m. Trục sau bên trái cách mép
chuẩn là 1,95m, cách điểm mốc là 11,4m. Trục trước bên phải (bên phụ) cách mép
chuẩn là 4,8m, cách điểm mốc là 4,4m. Trục sau bên phải cách mép chuẩn là 4,5m,
cách điểm mốc là 10,1m.
+ Xe mô tô biển kiểm soát 82E1-154.19 nằm ngã nghiêng về bên phải, sát
mép đường bên trái, đầu xe hơi chếch về hướng tim đường (hướng đi huyện Đắk
Glei). Trục trước cách mép chuẩn là 0,6m, cách điểm mốc là 11,2m, cách trục trước
bên trái xe ô tô là 9,5m. Trục sau nằm trên mép chuẩn, cách điểm mốc là 12,5m.
+ 04 dấu vết cà (ký hiệu hiệu từ C1 đến C4) nằm trên làn đường bên trái kéo
dài từ phía sau đuôi ô tô 82B-002.10 đến vị trí xe mô tô 82E1-154.19.
Vết cà C1 (dài 0,9m). Đầu C1 cách mép chuẩn là 1,05m, cách điểm mốc là
17,2m. Cuối C1 cách mép chuẩn là 1,20m, cách điểm mốc là 16,4m.
4
Vết cà C2 (dài 4,8m). Đầu C2 cách mép chuẩn là 1,65m, cách điểm mốc là
14,8m. Cuối C2 cách mép chuẩn là 1,7m, cách điểm mốc là 11m.
Vết cà C3 (dài 0,16m). Tâm C3 cách mép chuẩn là 1,4m, cách điểm mốc là
10m.
Vết cà C4 (dài 12,2m) . Đầu C4 cách mép chuẩn là 1,55m, cách điểm mốc
là 8,8m. Cuối C4 cách mép chuẩn là 0,4m, cách điểm mốc là 12m.
+ Dấu vết máu (kích thước 0,7m x 0,8m) nằm sát mép đường bên trái, cũng
chính là vị trí nạn nhân A T, cách điểm mốc là 9,5m.
+ Nạn nhân BR sau tai nạn nằm dưới mương thoát nước bên trái cách điểm
mốc là 11,3m.
Căn cứ vào dấu vết tại hiện trường, dấu vết trên phương tiện; vị trí, chiều
hướng của các phương tiện trên hiện trường; lời khai của những người có liên quan
xác định thời điểm trước khi xảy ra va chạm xe ô tô 82B-002.10 lưu thông theo
hướng Đắk Glei đi Ngọc Hồi, xe mô tô 82E1-154.19 lưu thông theo chiều ngược
lại.
- Dựng lại vị trí xe ô tô và mô tô phù hợp với các dấu vết tại hiện trường và
trên phương tiện, xác định điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện là phần
bánh trước của xe mô tô 82E1-154.19 với cụm đèn chiếu sang bên trái của xe ô tô.
Điểm đụng (là hình chiếu vuông góc của điểm va chạm đầu tiên xuống mặt đường),
điểm đụng được xác định nằm trên làn đường bên trái theo hướng lưu thông Đắk
Glei đi Ngọc Hồi, cách mép chuẩn là 1,45m, cách điểm mốc là 18m, cách trục sau
bên trái xe ô tô là 7,55m, cách trục sau bên phải xe ô tô là 08m, cách trục trước xe
mô tô là 23m.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 56 ngày 19/7/2019 của Trung
tâm pháp y tỉnh Kon Tum kết luận: Chân bên trái biến dạng có vết thương rách da
cơ vùng gối lộ xương bánh chè kích thước(8x5cm), gãy 1/3 dưới xương đùi và vỡ
xương bánh chè bên trái; vỡ lún xương sọ thành nhiều mảnh thái dương bên phải
có máu và tổ chức não ra ngoài. Nguyên nhân chết của nạn nhân B là đa chấn
thương.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 57 ngày 19/7/2019 của Trung
tâm pháp y tỉnh Kon Tum kết luận: Mặt, hai mắt biến dạng, hai hốc mắt sụp lún
vào trong gò má hai bên gãy sụp lún, sụp gãy xương chính mũi, vết thương dập nát
vùng mặt kích thước (18x13cm), vỡ sập xương hốc mắt hai bên, phòi hai mắt ra
ngoài; gãy 1/3 giữa xương cẳng tay bên phải lộ đầu xương ra ngoài. Mở rộng vết
thương vùng đầu mặt và hốc mắt thấy tổ chức da mô cơ bầm tụ máu, bóc tách da
vùng mặt thấy vỡ lún xương trán và vỡ trần hốc mắt hai bên, gãy toàn bộ xương
cung tiếp gò má hai bên và hai xương hàm trên; gãy 1/3 giữ xương cánh tay bên
phải lộ đầu xương ra ngoài. Nguyên nhân chết của nạn nhân A T là đa chấn thương.
Tại bản cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 28/11/2019, của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum truy tố Ngô Văn K về tội “Vi phạm quy định
5
về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình
sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị
Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2
Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Văn K từ 30 đến 36 tháng
tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng. Giao bị cáo Ngô Văn K
cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên H quản lý, giáo dục
trong thời gian thử thách. Trả lại cho bị cáo Ngô Văn K . Một (01) Giấy phép lái
xe ôtô số 460038007648, hạng E, có giá trị đến ngày 16/12/2021, và 01 giấy chứng
nhận tập huấn nghiệp vụ lái xe kinh doanh vận tải số: KT 001128 đều mang tên
Ngô văn K
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu theo quy định của
pháp luật.
Bị cáo Ngô Văn K khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo
trạng đã xác định, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Người đại diện
hợp pháp của bị hại có mặt có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự, tha thiết nghị Hội
đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo trong trường hợp
kết tội bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu trong hồ sơ
vụ án; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn
diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng
khác. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện
Ngọc Hồi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi, Kiểm sát viên
trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục
theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị
hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành
vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do
đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố
tụng là phù hợp quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm
pháp luật giao thông như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, lời khai
của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp
với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận: Vụ tai nạn
giao thông đường bộ xảy ra vào khoảng. Tối ngày 16/7/2019 xe ô tô khách biển
kiểm soát: 82B – 002.10 thuộc nhà xe M xuất bến từ thành phố Huế đi Kon Tum.
6
Đến khoảng 2 giờ sáng ngày 17/07/2019 Ngô Văn K điều khiển xe ô tô đi đến địa
phận xã Đ huyện Ngọc Hồi thì tông vào xe mô tô biển kiểm soát: 82E1 – 154.19
do A T điều khiển chở phía sau BR làm cho T và R ngã xuống đường chết ngay tại
chỗ. Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do lỗi bị can Ngô Văn K điều khiển xe không
chấp hành quy tắc giao thông, đi không đúng làn đường, vi phạm vào điều 9 Luật
giao thông đường bộ năm 2008 và Điều 5 thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày
31/5/2015 của Bộ giao thông vận tải, quy định về tốc độ và khoản cách an toàn của
xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, dẫn đến tai nạn chết
người. một phần người bị hại cũng có lỗi điều khiển xe mô tô có sử dụng rượu bia,
người điều khiển xe chưa có giấy phép lái xe, điều khiển xe đi vào phần đường của
xe ô tô sau đó đột ngột đi về phần đường của mình thì bị tai nạn.
Bị cáo Ngô Văn K là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có giấy
phép lái xe theo đúng pháp luật, điều khiển xe ô tô tham gia giao thông làm 02
người chết đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Đối với đơn yêu cầu
miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo của người đại diện hợp pháp của bị hại theo
quy định tại khoản 3 Điều 29 của Bộ luật hình sự, cụ thể: “Người thực hiện tội
phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính
mạng, sức khỏe. danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác, đã tự nguyện
sữa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả và được bị hại hoặc đại diện
hợp pháp của bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có
thể được miễn trách nhiệm hình sự”. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi
vi phạm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng,
tài sản của người khác, xâm phạm trật tự, an toàn công cộng nên cần xét xử nghiêm
minh theo quy định của pháp luật. Bị cáo Ngô Văn K là người có đầy đủ năng lực
hành vi, phạm tội với lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng của người khác. Xét tính
chất mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không
chấp hành quy tắc giao thông, giữ gìn an toàn cho mình và cho người khác, đi không
đúng làn đường gây ra tai nạn. Do vậy, bản cáo trạng số 51/CT-VKS ngày
28/11/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi truy tố bị cáo Ngô Văn K là
đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo
không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; quá trình
điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải; người đại diện hợp pháp của các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
7
Người bị hại cũng có phần lổi khi điều khiển xe máy đã uống rượu bia. Ngoài ra bị
cáo cũng là lao động chính đang nuôi, phụng dưỡng bố, mẹ già yếu, bị bệnh, có xác
nhận của chính quyền địa phương, nên được xem là những tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật
hình sự. về nhân thân: Năm 2015 bị TAND huyện A Lưới tỉnh Thừa Thiên Huế xử
phạt 5.000.000đ về tội đánh bạc.
[4] Căn cứ vào tính chất lỗi, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm
tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét
xử xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65
Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng
ngừa chung cho xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Ngô Văn K đã bồi thường thiệt hại cho
gia đình A T, Br mỗi gia đình là 200.000.000đ. gia đình các nạn nhân đã viết đơn
xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, gia đình các bị hại đã nhận đủ tiền và
không có ý kiến gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Quá trình khám nghiệm hiện trường đã tạm giữ 01
xe mô tô biển kiểm soát 82E1 – 154.19 và xe ô tô biển kiểm soát: 82B – 002.10,
01 giấy phép lái xe hạng E mang tên Ngô Văn K. Ngày 12/11/2019 Cơ quan CSĐT
công an huyện Ngọc Hồi đã ra quyết định số 30/QĐ trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp
là Công ty trách nhiệm hữu hạn M 01 xe ô tô biển kiểm soát: 82B – 002.10 và ông
A H 01 xe mô tô biển kiểm soát 82E1 – 154.19. (cùng giấy tờ liên quan của xe),
nên không xem xét nữa.
Đối với Giấy phép lái xe ôtô số 460038007648, hạng E, có giá trị đến ngày
16/12/2021, và 01 giấy chứng nhận tập huấn nghiệp vụ lái xe kinh doanh vận tải
số: KT 001128 đều mang tên Ngô văn K, nghỉ nên trả lại cho Ngô Văn K là phù
hợp.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn K phạm tội “Vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ”.
2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều
51, Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Ngô Văn K 36 (Ba mươi sáu ) tháng tù
nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, tính từ ngày
tuyên án sơ thẩm (ngày 07/02/2020) Giao bị cáo Ngô Văn K cho Ủy ban nhân dân
phường P, thành phố H, tỉnh T quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo
quy định điều tại 69 của luật thi hành án hình sự.
8
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần
trở lên, Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành
hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3.Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Ngô Văn K đã bồi thường thiệt hại cho gia
đình A T, B mỗi gia đình là 200.000.000đ. gia đình các nạn nhân đã viết đơn xin
miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, gia đình các bị hại đã nhận đủ tiền và không
có ý kiến gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4.Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 3
điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại các vật chứng cho các chủ sở hữu sau:
- Trả lại cho Ngô Văn K , Sinh năm: 1970. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú
Số 10/6/1 đường Đ, phường P, thành phố H, tỉnh T. Một (01) Giấy phép lái xe ôtô
số 460038007648, hạng E, có giá trị đến ngày 16/12/2021, và 01 giấy chứng nhận
tập huấn nghiệp vụ lái xe kinh doanh vận tải số: KT 001128 đều mang tên Ngô văn
K. (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Ngọc Hồi và Chi cục
thi hành án dân sự huyện Ngọc Hồi ngày 26/12/2020)
5.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội; quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Ngô Văn K phải
chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trong hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án ngày 07-02-2020 bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Người đại điện
hợp pháp của những người bị hại có mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc
bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận: T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
-VKSND huyện Ngọc Hồi; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
-TAND tỉnh Kon Tum; (Đã ký)
-TANDCC tại Đà Nẵng;
-Công an huyện Ngọc Hồi;
-Sở tư pháp tỉnh Kon Tum;
-Chi cục THADSH Ngọc Hồi;
-Bị cáo; bị hại người có QLNVLQ
- Lưu Nguyễn Hành
9
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm