Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 30/07/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên về yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 02/2025/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 30/07/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên về yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 4 - Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên |
| Số hiệu: | 02/2025/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/07/2025 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tại thời điểm đăng ký kết hôn ngày 04/11/2000 |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4- THÁI NGUYÊN
Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30/7/2025
V/v hủy kết hôn trái pháp luật
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 -THÁI NGUYÊN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Bích Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Thu Trà - Bà Nịnh Thị Tám
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng-Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4-
Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4- Thái Nguyên tham gia
phiên tòa: Bà Trần Thị Miền - chức vụ Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 7 năm 2025 tại Hội trường Tòa án nhân dân khu vực 4- Thái
Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số:
69/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 về việc “Huỷ kết hôn trái
pháp luật” của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 39/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 20/6/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị T, sinh năm 1983
2. Bị đơn: Anh Trương Văn G, sinh năm 1982
Cùng nơi thường trú: xóm L, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (nay là xóm
L, xã V, tỉnh Thái Nguyên)
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Thái
Nguyên. Người đại diện theo pháp luật: ông Hoàng Thế T1, chức vụ Chủ tịch.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lưu Trường G1, chức vụ Phó Chánh văn
phòng HĐND và UBND xã V, tỉnh Thái Nguyên (theo công văn số 76/UBND-
VP ngày 16/7/2025 của UBND xã V)
(Chị T, ông G1 có mặt, vắng mặt anh G)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, các bản khai chị Vũ Thị T trình bày: Chị và anh
Trương Văn G tìm hiểu, yêu thương nhau và quyết định tiến tới hôn nhân, vợ
chồng có đăng ký kết hôn tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện P,
tỉnh Thái Nguyên (nay là Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Thái Nguyên) cấp giấy
chứng nhận kết hôn số 50/2000 ngày 04 tháng 11 năm 2000. Do tại thời điểm
kết hôn chị và anh Trương Văn G đều chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của
2
pháp luật nên khi đi đăng ký kết hôn cả chị và anh G đều khai ngày tháng năm
sinh khác để UBND xã cho đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, chị và anh G sinh
sống tại xóm L, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (nay là xã V, tỉnh Thái
Nguyên), thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó vợ chồng
thường xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường bất đồng quan điểm sống dẫn
đến xung đột và không thể giải quyết được, không ai còn quan tâm và trách
nhiệm với nhau, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải
quyết ly hôn giữa chị và anh G
Về con chung: Trong quá trình chung sống giữa chị và anh G có 02 (hai)
con chung là Trương Thị Thu H, sinh ngày 21/8/2001 và Trương Thị T2, sinh
ngày 09/12/2008. Hiện nay, cháu H đã trưởng thành đủ sức khỏe để lao động và
học tập, cháu T2 hiện đang học tại Trường trung học phổ thông T4 vẫn do chị
nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung
Trương Thị T2 và không yêu cầu anh G phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về công nợ chung: Không có.
Về phía bị đơn anh Trương Văn G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng
không có mặt tại Tòa án để tham gia tố tụng. Tòa án đã tiến hành xác minh tại
nơi cư trú quá trình làm việc anh G xác định vợ chồng không có mâu thuẫn,
không có mặt theo giấy triệu tập, không đưa ra quan điểm đối với yêu cầu của
chị T.
Quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban
nhân dân xã V, huyện P (nay là xã V, tỉnh Thái Nguyên) có ý kiến: Hiện hồ sơ
lưu trữ đăng ký kết hôn năm 2000 tại xã V không còn lưu giữ, chỉ còn lưu sổ
đăng ký kết hôn năm 2000. Trong sổ đăng ký kết hôn tại UBND xã V số
50/2000 ngày 04/11/2000 có xác nhận đăng ký kết hôn giữa anh Trương Quang
G2, sinh ngày 08/7/1980 và chị Vũ Thị T sinh ngày 14/11/1981. Thông tin năm
sinh và chữ đệm (người chồng) không khớp với thông tin do Tòa án cung cấp,
qua xác minh hồ sơ lưu trữ và cơ sở dữ liệu hộ tịch của đơn vị không còn lưu
giữ được thông tin khai sinh của anh Trương Văn G và chị Vũ Thị T. Việc đăng
ký kết hôn giữa anh Trương Quang G2 và chị Vũ Thị T tại thời điểm năm 2000
là đúng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, Ủy ban đề nghị Tòa án căn cứ
hồ sơ liên quan, thông tin dữ liệu thu thập được giải quyết theo quy định của
pháp luật.
Tại phiên tòa chị T xác định do không hiểu biết pháp luật nên anh chị đã đi
đăng ký kết hôn, tuy nhiên do người nhà đã liên hệ trước với UBND xã nên chị
và anh G2 chỉ phải ký sổ và ký vào Giấy chứng nhận kết hôn, sau khi kết hôn vợ
chồng có quá nhiều mâu thuẫn không thể chung sống được do đó đề nghị Tòa án
tuyên bố hủy kết hôn giữa chị và anh G2, đồng thời giữ nguyên quan điểm về
con chung, tài sản chung, nợ chung.
3
Tại phiên tòa đại diện Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Thái Nguyên giữ nguyên
quan điểm tại công văn số 70/UBND-VP ngày 16/7/2025 đồng thời nộp bổ sung
văn bản số 164/UBND-VP ngày 29/7/2025 về việc thu hồi bản sao trích lục kết
hôn nội dung: Căn cứ hồ sơ cấp sao trích lục kết hôn thực hiện tại Ủy ban nhân
dân xã V số 238/TLKH-BS ngày 16/4/2025 của UBND xã V, huyện P, tỉnh Thái
Nguyên có sai sót trong quá trình nhập dữ liệu, thông tin trong bản sao trích lục
kết hôn không đúng với hồ sơ gốc cụ thể: Họ và tên người chồng: Trương Quang
G2, thông tin sai: tên đệm “Văn” và ngày tháng năm sinh ghi “07/5/1982”, thông
tin đúng tên đệm “Q” và ngày tháng năm sinh “08/7/1980”. Họ và tên người vợ:
Vũ Thị T, thông tin sai: năm sinh “1983”, thông tin đúng năm sinh “1981”.
Đại diện Viện kiểm sát khu vực 4-T5: Về thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án
đến khi đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án
đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp hành đúng
thời hạn chuẩn bị xét xử, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành
theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng
quy định pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, Điều 143, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015; Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Điều 9,10,11,12, 81,82và
Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị hội đồng xét xử giải quyết
theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị T, Tuyên bố: Hủy việc
kết hôn trái pháp luật giữa anh Trương Văn G và chị Vũ Thị T, giao con chung
Trương Thị T2, sinh ngày 09/12/2008 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng
và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác, tạm
hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh G do chị T không yêu cầu,
anh G được quyền đi lại thăm và chăm sóc con chung.Về tài sản chung, nợ
chung: không giải quyết. Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ
thẩm. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Bị đơn anh Trương Văn G, có nơi thường trú tại xóm L, xã V, huyện P,
tỉnh Thái Nguyên (nay là xóm L, xã V, tỉnh Thái Nguyên), căn cứ khoản 8 Điều 28,
khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4- Thái Nguyên.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, anh G đã biết
việc Tòa án thụ lý vụ án, tuy nhiên bị đơn không hợp tác, từ chối nhận các văn
bản tố tụng, do đó Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố
4
tụng theo quy định tại Điều 179, Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa
anh G vắng mặt lần thứ hai không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3
Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
[2]. Về quan hệ hôn nhân:
[2.1] Chị Vũ Thị T đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn xác định bị mất Giấy
chứng nhận kết hôn gốc và cung cấp Trích lục kết hôn số 238/TLHK-BS ngày
16/4/2025 của UBND xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Theo trích lục xác định:
Họ, chữ đệm, tên vợ VŨ T3 TUYẾN, ngày tháng năm sinh: 14/11/1983; Họ,
chữ đệm, tên chồng TRƯƠNG VĂN GIÓNG, ngày tháng năm sinh 07/5/1982,
kèm theo là tờ khai cấp bản sao trích lục hộ tịch của chị Vũ Thị T với số căn
cước công dân 019183017864, cấp ngày 27/8/2024.
[2.2] Tại văn bản số 164/UBND-VP ngày 29/7/2025 thu hồi bản sao trích
lục kết hôn số 238/TLKH-BS, đồng thời trong quá trình giải quyết Ủy ban nhân
dân xã xác định hồ sơ lưu trữ và cơ sở dữ liệu hộ tịch của đơn vị không còn lưu
giữ được thông tin khai sinh của anh Trương Quang G2 và chị Vũ Thị T; tài
liệu, giấy tờ liên quan đến thủ tục đăng ký kết hôn của anh Trương Quang G2 và
chị Vũ Thị T hiện tại không còn lưu giữ.
[2.3] Theo tài liệu chứng cứ thu thập được thấy: Tại Giấy khai sinh số 69,
quyển số 01 do UBND xã V cấp ngày 05/11/2001 cho Trương Thị Thu H, xác
định họ tên người cha là Trương Văn G, sinh năm 1982, họ tên mẹ Vũ Thị T,
sinh năm 1983. Tại căn cước công dân số 019082007116 và Giấy khai sinh số
201/2016 do UBND xã V, huyện P cấp ngày 12/9/2016 xác định anh Trương
Văn G, sinh ngày 07/5/1982; Tại căn cước công dân số 019183017864 và Giấy
khai sinh số 42 do UBND xã V, huyện P cấp ngày 26/02/2019 xác định chị Vũ
Thị T, sinh ngày 14/11/1983. Tại xác nhận thông tin về cư trú số 000186/XN
ngày 02/4/2025 xác nhận thông tin của Vũ Thị T sinh ngày 14/11/1983 xác định
và chủ hộ là Trương Văn G có số định đanh cá nhân 019082007116, Vũ Thị T
có quan hệ với chủ hộ: Vợ
Như vậy, có căn cứ xác định chị T và anh G đã tiến hành đăng ký kết hôn
tại UBND xã V, huyện P tại thời điểm ngày 04/11/2000
[2.4] Chị Vũ Thị T xác định kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết
hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (nay là xã V, tỉnh
Thái Nguyên) vào ngày 04/11/2000, tuy nhiên căn cứ các tài liệu thu thập như
phân tích ở trên xác định tại thời điểm đăng ký kết hôn ngày 04/11/2000: anh
Trương Văn G được 18 tuổi 05 tháng 27 ngày và chị Vũ Thị T được 16 tuổi 11
tháng 21 ngày là chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại Điều 5, Điều 9 Luật hôn
nhân và gia đình năm 1986. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu
thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên mâu thuẫn, không ai
còn quan tâm và có trách nhiệm với nhau, cuộc sống không hạnh phúc, do đó
5
chị T giữ nguyên quan điểm khởi kiện. Căn cứ khoản 2, 4 Điều 4 Thông tư liên
tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án
nhân dân tối cao-Viện kiểm sát nhân dân tối cao- Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành
một số quy định của Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn, hủy kết hôn trái pháp luật giữa chị Vũ Thị T và anh
Trương Văn G.
[3] Về con chung: Vợ chồng có 02 (hai) con chung là Trương Thị Thu H, sinh
ngày 21/8/2001 và Trương Thị T2, sinh ngày 09/12/2008, chị T đề nghị được nuôi
cháu T2. Xét cháu Trương Thị Thu H đã đủ tuổi trưởng thành, đủ sức khỏe để học
tập và lao động nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, đối với cháu Trương
Thị T2 tại bản tự khai xác định trong quá trình chung sống đều được bố mẹ quan
tâm chăm sóc và không thể hiện quan điểm muốn ở với ai. Xét cháu T2 là con gái
đang độ tuổi trưởng thành cần có sự quan tâm chăm sóc của người mẹ, quá trình
giải quyết vụ án chị T có nguyên vọng được nuôi con đối với anh G không đưa ra
quan điểm về việc giải quyết vụ án, từ chối nhận văn bản tố tụng đồng thời vắng
mặt tại phiên tòa, do đó Hội đồng xét xử giao con chung Trương Thị T2, sinh ngày
09/12/2008 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con
chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị T không yêu cầu Tòa án không xem
xét giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi conđược quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm
sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con và
thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con
trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại
Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản
chung, nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết
[5] Về nợ chung: chị T xác định không có, anh G không đưa ra ý kiến nên
hội đồng xét xử không giải quyết.
[6] Về án phí: chị T phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm
theo quy định của pháp luật.
[7] Đối với việc quản lý tài liệu lưu trữ liên quan đến sổ hộ tịch, hồ sơ đăng
ký kết hôn của công dân cũng như việc cấp trích lục tại Ủy ban nhân dân xã V,
huyện P, tỉnh Thái Nguyên trước khi sát nhập là chưa đảm bảo theo quy định
pháp luật. Hội đồng xét xử kiến nghị Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Thái Nguyên
rút kinh nghiệm chung những vi phạm, thiếu sót nêu trên.
[8] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
6
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 143, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều
273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Căn cứ Điều 5 và Điều 9 Luật Hôn nhân và
gia đình năm 1986; khoản 6 Điều 3, Điều 8, Điều 11, Điều 12, Điều 81, Điều 82,
Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2, 4 Điều 4
Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày
06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao-Viện kiểm sát nhân dân tối cao- Bộ tư
pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân gia đình.
Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; điểm a khoản 5 Điều
27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Vũ Thị T.
1.Về quan hệ hôn nhân: Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Trương
Văn G và chị Vũ Thị T.
2. Về con chung: Chị T và anh G có 02 (hai) con chung.
2.1 Con thứ nhất Trương Thị Thu H, sinh ngày 21/8/2001 đã trưởng thành,
đủ sức khỏe lao động và học tập nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
2.2. Giao con chung Trương Thị T2, sinh ngày 09/12/2008 cho chị Vũ Thị
T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho đến khi con chung
thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật
Anh Trương Văn G được quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục con chung mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con và thành viên
trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc
thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người
trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng cho con chung.
3.Về tài sản chung: Chị Vũ Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử
không xem xét giải quyết.
4. Về công nợ chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu, Hội đồng
xét xử không giải quyết.
5. Về án phí: Chị Vũ Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án
phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước, được khấu trừ vào tiền
tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004895 ngày 22/4/2025 của Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (nay là phòng Thi hành
án dân sự Khu vực 4-Thái Nguyên).
7
6.Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án Dân sự;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
Dân sự.
7.Quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị T và Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Thái
Nguyên có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày
tuyên án sơ thẩm. Anh Trương Văn G vắng mặt được quyền kháng cáo trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo
quy định.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND tỉnh Thái Nguyên;
- VKSND khu vực 4 – Thái Nguyên;
- THADS tỉnh Thái Nguyên;
- UBND xã Vô Tranh, tỉnh TN;
- Lưu: HS.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Chu Thị Bích Hiền
8
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Chu Thị Bích Hiền
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm