Bản án số 02/2020/LĐ-ST ngày 12/08/2020 của TAND Quận 2, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp lao động quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 02/2020/LĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 02/2020/LĐ-ST ngày 12/08/2020 của TAND Quận 2, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp lao động quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND Quận 2 (TAND TP. Hồ Chí Minh)
Số hiệu: 02/2020/LĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/08/2020
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 02/2020/LĐ-ST
Ngày: 12-8-2020
V/v: Tranh chp lao động về
quyền, lợi ích liên quan đến
việc làm, tiền lương.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Tnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thực.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Thế Hùng
2. Ông Nguyễn Cửu Long
-Thư phiên tòa: Thị Thu Phương Thư Tòa án nhân dân
Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 12 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 2, Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử thẩm ng khai vụ án lao động thụ số:
60/2019/TLST- ngày 16 tháng 12 năm 2019, về việc Tranh chp về quyền,
lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương theo Quyết định đưa vụ án ra xét x
số: 100/2020/QĐXXST- ngày 14/7/2020 Quyết định hoãn phiên tòa số:
20/2020/QĐST-LĐ ngày 28/7/2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Ngô Quang T, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Dương Ngọc T, sinh năm:
1988; địa chỉ: Đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh đại
diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số công chứng 005446, Quyển số
03,TP/CC-SCC;HĐGD ngày 11/3/2020).
Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn V
Địa chỉ: Đường A1, Phường B1, Quận C1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Phạm Ngô Hoàng D, sinh năm
1989; địa chỉ liên hệ: Đường A1, Phường B1, Quận C1, Thành ph Hồ Chí
Minh đại diện theo ủy quyền (Giy ủy quyền s 01/2020/UQ ngày
30/6/2020).
Nguyên đơn ông Ngô Quang T vắng mặt tại phiên tòa, ủy quyền cho
ông Dương Ngọc T tham gia tố tụng (có mặt tại phiên tòa).
2
Ông Phạm Ngô Hoàng Duy là đại diện theo ủy quyền của bđơn Công ty
Trách nhiệm hữu hạn V (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tkhai các biên bản trong quá trình giải quyết
vụ án, nguyên đơn ông Ngô Quang T ông Dương Ngọc T đại diện theo ủy
quyền trình bày:
Ngày 01/6/2019, ông Ngô Quang T bắt đầu làm việc cho Công ty Trách
nhiệm hữu hạn V (đây gọi là Công ty V), vị trí: Trưởng phòng kinh doanh, mức
lương Net là: 30.000.000 đồng, thời gian thử việc 02 tháng, lương thu nhập
được trả vào tài khoản ông Ngô Quang T, số 31310000662xxx tại Ngân hàng B.
Ngày 01/8/2019, sau khi hoàn tt thời gian thử việc 02 tháng, ông T được nhận
làm nhân viên chính thức của ng ty V được phòng nhân sự gửi hợp đồng
lao động có thời hạn 12 tháng, trong Hợp đồng có thỏa thuận về tiền lương, thời
gian làm việc, phụ cp, hoa hồng một số nội dung khác. Ông T đã hợp
đồng lao động gửi lại Công ty V nhưng phía Công ty V ly do Tổng giám
đốc đang ở nước ngoài nên chưa ký và đưa lại cho ông T.
Ngày 03/10/2019, ông T và Công ty V thỏa thuận chm dứt hợp
đồng lao động với nội dung ông T được hưởng đủ lương, hoa hồng và trợ cp là
01 (một) tháng lương, toàn bsố tiền sẽ được nhận vào kỳ lương tháng 09/2019
ngày 05/10/2019. Thỏa thuận trên được lập thành văn bản Công ty V giữ
văn bản này. Ngày 04/10/2019, ông T đã bàn giao đầy đủ công việc, trang thiết
bị của mình cho người phtrách. Tuy nhiên, đến ngày 05/10/2019, Công ty V
đã không thực hiện đúng thỏa thuận nêu trên.
Ngày 10/10/2019, ông T tham gia cuộc họp cùng ông Nguyễn Văn M
giám đốc đầu và ông Phạm Ngô Hoàng D nhân viên hành chính nhân sự
của công ty với nội dung ông T đã hoàn thành biên bản bàn giao, bàn giao
Laptop, biên bản thanh lý hợp đồng, Data khách hàng. Ông T yêu cầu Công ty
V trả đủ lương và trả lại 01 (một) bản hợp đồng lao động mà ông T đã ký và gửi
cho Công ty trước đó. Tuy nhiên, tại cuộc họp Công ty V cần thời gian xác thực
thông tin nên hẹn trả lời ông T vào cuộc họp lúc 14h00’ ngày 14/10/2019.
Vào lúc 14h00’ ngày 14/10/2019, ông T ông Nguyễn K đến Công
ty V để tham gia cuộc họp nhưng phía công ty không người đại diện hợp
pháp để làm việc với ông T. Ông T đã nộp đơn ra yêu cầu hòa giải tranh chp
lao động ngày 31/10/2019, v việc được hòa giải tại Phòng lao động –
Thương binh xã hội Quận 2 nhưng không thành.
Nay ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty V nghĩa vụ, chi trả
tiền lương, hoa hồng và tiền trợ cp như sau:
- Tiền lương tháng 09/2019: 30.000.000 đồng.
- Bồi thường 01 tháng lương nghỉ việc: 30.000.000 đồng.
- Trả tiền 04 ngày phép năm chưa sử dụng: 5.000.000 đồng.
3
- Tiền hoa hồng bán hàng: 9.900.000 đồng.
Tổng số tiền ông T yêu cầu Công ty V phải trả 74.900.000 đồng, trả
ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Tại văn bản số 11/2020/CV ngày 01/7/2020, phía bị đơn Công ty V trình
bày:
Công ty V thừa nhận giữa ông Ngô Quang T Công ty có Hợp đồng lao
động với thời hạn 12 tháng các nội dung thỏa thuận khác như phía nguyên
đơn trình bày, ông Ngô Quang T làm việc vtrí Trưởng phòng kinh doanh,
mức lương là: 34.300.000 đồng/tháng. Ngày 03/10/2019, Công ty V ông T
thỏa thuận chm dứt Hợp đồng lao động số 003/2019/TT-HDLD. Công ty
V giải quyết số tiền lương và trợ cp thôi việc như sau:
- Tiền lương tháng 09/2019 (từ ngày 01/9/2019 đến ngày 30/9/2019) với
số ngày thực tế làm việc là 19/23.5 ngày: 27.731.915 đồng.
- Tiền trợ cp nghỉ việc tương đương số tiền lương từ 01/10/2019 đến
31/10/2019 là: 34.300.000 đồng.
- Tiền ngày phép năm chưa sử dụng 04 ngày là: 5.838.298 đồng.
- Tiền hoa hồng dự án là: 9.900.000 đồng.
Tuy nhiên, phía Công ty V đã trích đóng bảo hiểm hội đến tháng
09/2019 cho ông T với số tiền là: 840.000 đồng, đóng thuế thu nhập nhân
cho ông T với tổng số tiền là: 14.529.064 đồng, số tiền còn lại : 62.401.149
đồng. Công ty V xác nhận đang nợ ông T số tiền 62.401.149 đồng nêu trên. Tuy
nhiên, do ảnh hưởng của dịch bệnh, tình hình kinh doanh đang gặp khó khăn
nên Công ty V yêu cầu được trả số tiền nêu trên theo phương thức như sau:
- Ngày 31/07/2020: Trả 18.000.000 đồng.
- Ngày 31/08/2020: Trả 18.000.000 đồng.
- Ngày 30/09/2020: Trả 26.401.149 đồng.
Tại phiên tòa thẩm, các đương sự trình bày và thống nht như sau:
Giữa ông T Công ty V Hợp đồng lao động với thời hạn 12 tháng, vị trí
làm việc Trưởng phòng Kinh doanh với mức lương 34.300.000 đồng, mức
lương 30.000.000 đồng ông T đưa ra mức lương sau khi đã trừ thuế, ngoài ra
các bên n thỏa thuận một số nội dung khác trong Hợp đồng lao động. Ngày
03/10/2019, Công ty V ông T thỏa thuận chm dứt Hợp đồng lao động
số 003/2019/TT-HDLD với nội dung các bên thống nht chm dứt Hợp đồng
lao động đã ông T được hưởng những khoản tiền sau: Tiền lương tháng
09/2019 chưa thanh toán, trợ cp 01 tháng lương nghỉ việc tương đương với
lương tháng 10/2019, tiền ngày phép năm chưa sử dụng, tiền hoa hồng các
khoản tiền này sẽ được thanh toán vào kỳ phát lương của tháng 09/2019. Ngày
04/10/2019, phía ông T đã hoàn tt các thtục bàn giao lại trang thiết bị, công
4
việc cho phía ng ty V nhưng sau đó phía Công ty V không thực hiện việc trả
các khoản tiền cho ông T theo thỏa thuận nêu trên.
Các bên đều thống nht về khoản tiền mà phía Công ty V phải trả cho ông
Ngô Quang T sau khi trừ đi tiền trích nộp bảo hiểm xã hội tháng 09/2019 cho
ông T là 840.000 đồng và tiền thuế thu nhập cá nhân như sau:
- Tiền lương tháng 09/2019 (từ ngày 01/9/2019 đến ngày 30/9/2019) với
số ngày thực tế làm việc là 19/23.5 ngày : 27.731.915 đồng và tiền trợ cp thôi
việc tương đương số tiền lương từ 01/10/2019 đến 31/10/2019 là: 34.300.000
đồng. Sau khi trừ đi khoản thuế thu nhập nhân mà phía Công ty V đã đóng
cho ông T thì hai khoản tiền này còn lại là: 50.000.000 đồng.
- Tiền ngày phép năm chưa sử dụng 04 ngày là: 5.838.298 đồng. Tiền hoa
hồng của các dự án là: 9.900.000 đồng. Sau khi trừ đi khoản thuế thu nhập
nhân phía Công ty V đã đóng cho ông T thì hai khoản tiền này còn lại là:
12.401.149 đồng.
Tổng cộng, phía bị đơn Công ty V phải trả cho ông T là: 62.401.149
đồng.
Phía nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả ngay khoản tiền trên ngay sau
khi Tòa tuyên án, tuy nhiên phía bị đơn chỉ đồng ý trả trong thời hạn 07 ngày kể
từ ngày bản án của Tòa án hiệu lực pháp luật do ảnh hưởng của dịch bệnh
nên tìnhnh tài chính của Công ty V gặp rt nhiều khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết qutranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Các bên đều xác nhận giữa ông Ngô Quang T Công ty V hợp
đồng lao động thời hạn là 12 tháng, các bên cũng thỏa thuận vmức lương, vị
trí làm việc một số nội dung khác. Căn cứ vào Phiếu lương 9/2019 đã được
các bên xác nhận thể hiện thông tin ông Ngô Quang T, vị trí trưởng phòng kinh
doanh, mức lương gộp : 34.300.000 đồng. Căn cứ vào bảng sao kê ngân hàng
thể hiện việc Công ty V trả lương cho ông T bằng hình thức chuyển khoản đến
tài khoản của ông T số 31310000662xxx tại Ngân hàng B. Như vậy, có đủ cơ
sở để xác định giữa Công ty V ông Ngô Quang T có quan hệ lao động.
Ngày 06/11/2019, ông T nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân Quận 2
yêu cầu Công ty V phải trả tiền lương, tiền bồi thường các khoản tiền khác
với do cho rằng Công ty V đã không thực hiện đúng thỏa thuận giữa hai bên
khi thỏa thuận chm dứt hợp đồng lao động. Do đó, xác định quan hệ tranh chp
giữa các bên trong vụ án này tranh chp lao động về quyền, lợi ích liên quan
đến việc làm, tiền lương quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015.
5
Trước khi khởi kiện, ông T cũng đã thực hiện việc yêu cầu hòa giải tranh
chp lao động nhân theo quy định tại Điều 200, 201 Bộ luật Lao động năm
2012 nhưng hòa giải không thành. Bị đơn Công ty V pháp nhân, trụ stại
Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1
Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Ttụng dân s 2015; căn cứ khoản 2
Điều 200, Điều 201 Bộ luật Lao động năm 2012, vụ án thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về tố tụng:
- Về thời hiệu khởi kiện và điều kiện khởi kiện:
Về điều kiện khởi kiện: Ngày 31/10/2019, ông T Công ty V đã thực
hiện thtục hòa giải scủa hòa giải viên lao động nhưng hòa giải không
thành, do vụ án đủ điều kiện khởi kiện theo theo quy định tại Điều 200, 201
Bộ luật Lao động năm 2012.
Về thời hiệu khởi kiện: Ông T yêu cầu giải quyết tranh chp lao động
nhân, thời hiệu khởi kiện 01 năm theo quy định tại khoản 2 Điều 202 Bộ luật
Lao động năm 2012. Ngày 06/11/2019, ông T nộp đơn khởi kiện đến Tòa án
nhân dân Quận 2 còn trong thời hiệu khởi kiện. Tuy nhiên, các đương sự
trong vụ án không yêu cầu tính thời hiệu khởi kiện nên căn cứ khoản 2 Điều
184 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về việc tham gia phiên tòa sơ thẩm của Viện kiểm sát:
Vụ án không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 nên Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 không tham gia phiên tòa.
[3] Về nội dung yêu cầu của các đương sự:
3.1. Về quan hệ lao động:
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ và sự trình bày, xác nhận của
các đương sự tại phiên tòa, đsở xác định giữa ông T và Công ty V đã
xác lập quan hệ lao động: Ông Ngô Quang T làm việc tại ng ty V theo Hợp
đồng lao động thời hạn 12 tháng, vị t là: Trưởng phòng kinh doanh, mức
lương gộp thỏa thuận là: 34.300.000 đồng/tháng. Căn cứ Điều 15, Điều 22,
Điều 50 Bộ luật Lao động năm 2012 thì hợp đồng lao động giữa các bên không
bị vô hiệu và có hiệu lực kể từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng.
3.2. Về yêu cầu của nguyên đơn ông Ngô Quang T.
Tại phiên tòa thẩm, các bên đều xác nhận giữa ông T Công ty V đã
thỏa thuận chm dứt Hợp đồng lao động đã ngày 03/10/2019, ông T
Công ty V đã ký thỏa thuận chm dứt hợp đồng lao động với nội dung chm dứt
Hợp đồng lao động giữa ông T và Công ty V, ông T được hưởng đlương, tiền
hoa hồng, tiền phép năm trợ cp 01 (một) tháng lương. Xét thỏa thuận nêu
trên của các bên là tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật
Lao động năm 2012 nên có giá trị ràng buộc giữa các bên.
6
Tại phiên tòa, các bên đều thống nht về khoản tiền phía Công ty V
phải trả cho ông Ngô Quang T sau khi trừ đi tiền trích nộp bảo hiểm hội
tháng 09/2019 cho ông T 840.000 đồng tiền thuế thu nhập nhân như
sau:
- Tiền lương tháng 09/2019 (từ ngày 01/9/2019 đến ngày 30/9/2019) với
số ngày thực tế làm việc là 19/23.5 ngày là: 27.731.915 đồng và tiền trợ cp thôi
việc tương đương số tiền lương từ 01/10/2019 đến 31/10/2019 là: 34.300.000
đồng. Sau khi trừ đi khoản thuế thu nhập nhân mà phía Công ty V đã đóng
cho ông T thì hai khoản tiền này còn lại là: 50.000.000 đồng.
- Tiền ngày phép năm chưa sử dụng 04 ngày là: 5.838.298 đồng. Tiền hoa
hồng của các dự án là: 9.900.000 đồng. Sau khi trừ đi khoản thuế thu nhập
nhân phía Công ty V đã đóng cho ông T thì hai khoản tiền này còn lại là:
12.401.149 đồng.
Tổng cộng, phía bị đơn Công ty V phải trả cho ông T số tiền là:
62.401.149 đồng.
Căn cứ Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tđây những tình
tiết, sự kiện không phải chứng minh. Mặt khác, đây stự nguyện của các
đương sự, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, do đó chp nhận yêu
cầu của nguyên đơn ông Ngô Quang T, buộc bị đơn Công ty V phải trả cho ông
T số tiền: 62.401.149 đồng là phù hợp với các quy định của pháp luật.
Phía nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả ngay khoản tiền trên ngay sau
khi Tòa tuyên án, tuy nhiên phía bị đơn chỉ đồng ý trả trong thời hạn 07 ngày kể
từ ngày bản án của Tòa án hiệu lực pháp luật do ảnh hưởng của dịch bệnh
nên tình hình tài chính của Công ty V gặp rt nhiều khó khăn.
Xét các bên đã thỏa thuận phía Công ty V phải trả các khoản tiền trên cho
ông T vào kỳ lương tháng 09/2019 và theo quy định tại Điều 96 của Bộ luật Lao
động năm 2012 thì người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng hạn.
Mặt khác, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 482 thì phần bản án, quyết định của
Tòa án cp sơ thẩm về trả lương, trợ cp thôi việc được thi hành ngay mặc dù có
thể bị kháng cáo, kháng nghị. Do đó, phía bị đơn yêu cầu được trả trong thời
hạn 07 ngày ktừ ngày bản án của Tòa án hiệu lực pháp luật là không
sở để chp nhận.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xchp nhận yêu cầu của
nguyên đơn ông Ngô Quang T, buộc Công ty V phải trả cho ông Ngô Quang T
tiền lương tháng 09/2019 tiền trợ cp thôi việc (tương đương tiền lương
tháng 10/2019), tiền hoa hồng, tiền phép năm với tổng số tiền là: 62.401.149
đồng ngay khi bản án của Tòa án hiệu lực pháp luật, riêng đối với số tiền
50.000.000 đồng tiền lương tháng 09/2019 tiền trợ cp thôi việc (tương
đương tiền lương tháng 10/2019) sau khi trừ thuế thu nhập nhân thì ông T có
quyền yêu cầu thi hành án ngay sau khi Tòa tuyên án. Số tiền còn lại là:
7
12.401.149 đồng Công ty V phải trả cho ông Ngô Quang T ngay khi bản án của
Tòa án có hiệu lực pháp luật.
[4] Về án phí lao động sơ thẩm và quyền kháng cáo:
Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 12,
Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp quản sử dụng về án phí, lphí Tòa án thì ông
Ngô Quang T được miễn án phí, bđơn Công ty V phải chịu tiền án phí lao
động sơ thẩm đối với phần yêu cầu của ông T được Tòa án chp nhận.
Về quyền kháng cáo: Ông T, Công ty V được quyền kháng cáo bản án theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 184, Điều 266, Điều 271, khoản 1
Điều 273, Điều 482, Điều 483 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 15, Điều 22, Điều 36, Điều 50, Điều 96, khoản 2 Điều 200,
Điều 201 và Điều 202 Bộ Luật lao động năm 2012;
Căn cứ Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Xử:
1. Chp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Ngô Quang T:
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn V phải trả cho ông Ngô Quang T tiền
lương tháng 09/2019 tiền trợ cp thôi việc (tương đương tin lương tháng
10/2019) là: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), trả tiền hoa hồng dự án
tiền phép năm chưa sử dụng là: 12.401.149 đồng (Mười hai triệu, bốn trăm
lẻ một nghìn, một trăm bốn mươi chín đồng), tổng cộng số tiền phải trả là:
62.401.149 đồng (Sáu mươi hai triệu, bốn trăm lẻ một nghìn, một trăm bốn
mươi chín đồng) ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Đối với s tiền 50.000.000 đồng (m mươi triệu đồng) tiền lương
tháng 09/2019 và tiền trợ cp thôi việc (tương đương tiền lương tháng 10/2019),
ông Ngô Quang T quyền yêu cầu thi hành án ngay sau khi Tòa tuyên án. Số
tiền còn lại là: 12.401.149 đồng (Mười hai triệu, bốn trăm lẻ một nghìn, một
trăm bốn mươi chín đồng), Công ty Trách nhiệm hữu hạn V phải trả cho ông
Ngô Quang T ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Các bên thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
8
Ktngày bản án hiệu lực pháp luật ối với các trường hợp quan
thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày
đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải
trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tt cả các khoản
tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi sut quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468
Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí lao động sơ thẩm:
Ông Ngô Quang T không phải chịu án phí lao động sơ thẩm.
Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn V phải chịu án phí lao động
thẩm : 1.872.034 đồng (Một triệu, m trăm bảy mươi hai nghìn, không trăm
ba mươi bốn đồng). Công ty Trách nhiệm hữu hạn V chưa nộp án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 7a 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo:
Ông Ngô Quang T, Công ty trách nhiệm hữu hạn V được quyền kháng
cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
- Viện kiểm sát nhân dân Quận 2;
- Chi cục Thi hành án dân sự Quận 2;
- Các đương sự;
- Lưu.
(Đã ký)
Nguyễn Trung Thực
Tải về
Bản án số 02/2020/LĐ-ST Bản án số 02/2020/LĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất