Bản án số 01/2026/HNGĐ-PT ngày 22/01/2026 của TAND tỉnh Lai Châu về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 01/2026/HNGĐ-PT ngày 22/01/2026 của TAND tỉnh Lai Châu về tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lai Châu
Số hiệu: 01/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/01/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị T tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn với anh Dương Hoàng A
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LAI CHÂU
Bản án số: 01/2026/HNGĐ – PT
Ngày: 22-01-2026.
V/v “ Tranh chấp chia tài sản sau ly
hôn”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán: Chủ tọa phiên tòa: Bà: Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Thẩm phán: Bà: Giang Thị ng.
Bà: Phan Thị Phương.
- Thư ký phiên a: Ông n Tuấn Thư Tòa án nn n tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét
xử phúc thẩm công khai ván hôn nhân gia đình thụ số: 01/2025/TLPT-HNGĐ
ngày 16 tháng 10 năm 2025 về vic “Tranh chấp chia tài sản sau ly hôn”. Do có
kháng cáo của bị đơn đối với Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số
13/2025/HNGĐ-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Lai Châu.
Theo quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số 03/2025/QĐ - PT ngày 16 tháng
12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa s05/2026/QĐ-PT ngày 14/01/2026,
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị T - Sinh năm 1986; Địa chỉ: Tổ 28, phường
Đông Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu (nay tổ 28, phường Tân Phong,
tỉnh Lai Châu), có mặt.
2. Bị đơn: Anh Dương Hoàng A - Sinh năm 1982; Địa chỉ: phường Mỹ Lâm,
tỉnh Tuyên Quang, có mặt.
3. Người kháng cáo: Anh Dương Hoàng A - bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án thẩm quá trình tiến hành tố tụng tại tòa nguyên
đơn chị Trần Thị T trình bày:
Chanh Dương Hoàng A kết hôn năm 2012. Năm 2024 được Tòa án
nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang giải quyết cho ly hôn, tại bản án số
08/2024/HNGĐ-ST, ngày 10/01/2024, chchỉ yêu cầu giải quyết về quan hệ hôn
nhân con chung, theo đó chđược ly hôn anh Dương Hoàng A, con chung
cháu Dương Bảo H, sinh ngày 07/3/20xx giao cho chtrực tiếp nuôi dưỡng, còn
tài sản chị không yêu cầu Tòa án không giải quyết, để tự thỏa thuận. Nay chị
không thỏa thuận được, đnghị Tòa án chia tài sản chung, chị xác nhận trong thời
gian chung sống, anh, chị có tài sản chung gồm: một nhà hai tầng diện tích 190m
2
được xây dựng trên thửa đất số 30 (hiện nay thửa s98, tbản đồ số 163), diện
tích 110m
2
, địa chỉ Lô 12A KDC số 1A, xã S, thị xã L (nay là phường T, tỉnh Lai
Châu). Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản
khác gắn liền với đất số BD 611417, cấp ngày 24/10/2011 mang tên ông Dương
Hoàng ATrần Thị T. Nguồn gốc do vợ chồng chị nhận chuyển nhượng của
ông NQuang Huy; Nguồn gốc số tiền mua đất năm 2014 và xây dựng nhà năm
2016 do chị vay mượn của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát trin
Việt Nam- Chi nhánh Lai Châu (100.000.000 đồng mua đất, 500.000.000 đồng
xây nhà). Chtrình bày trong quá trình chung sống anh Dương Hoàng A không
công sức đóng góp tạo lập nên khối tài sản chung, toàn bộ số tin vay mua đất và
làm nhà do một mình chị tr nợ, anh Hoàng Anh chơi bời, nợ nn cầm
300.000.000 đồng đi trnợ với mục đích nhân riêng; mặt khác chị người
trực tiếp nuôi con nên chị đề nghị được toàn quyền sử dụng, quản lý diện tích đất
và nhà nêu trên.
Tại bản trình bày, đơn đề nghị tại phiên tòa bị đơn anh Dương Hoàng A
trình bày:
Anh chị Trần Thị T đã được Tòa án cho ly hôn, khi ly hôn chị T xác nhận
trong đơn không tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá
trình chung sống anh và chị Trần Thị T tạo lập tài sản chung như chị T trình
bày đúng. Nhưng nguồn gốc số tiền mua đất xây nhà tiền tiết kim của hai
vợ chồng và khoản vay chung tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu và Phát
triển Việt Nam- Chi nhánh Lai Châu. Bản thân anh có đi làm, thu nhập, hàng
tháng có gửi tiền mặt cho chị T để chi tiêu sinh hoạt hàng ngày và trả khoản vay
cho Ngân hàng. Bên cạnh đó bố mẹ anh có nhiều công sức đóng góp về thời gian
trông nom vật liệu, giám sát xây dựng khi xây dựng căn nhà trên. vậy, chị T
yêu cầu giao cho chị được quyền sử dụng tài sản chung anh không đồng ý, đngh
chia đôi, anh để lại ½ tài sản trên cho con, đến khi con đủ 18 tuổi sẽ thực hiện thủ
tục chuyển nhượng cho cháu, vì căn nhà là nơi cư trú hợp pháp duy nhất của con.
Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/7/2025, thể hin: Thửa đất số 30
(hiện nay thửa số 98, tờ bản đồ số 163); diện tích 110m
2
, địa chỉ phường T, tỉnh
Lai Châu đứng tên quyền sử dụng đt anh Dương Hoàng A chTrần Thị T, theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số BD 611417, cấp ngày 24/10/2011; Tài sản trên đất gồm: nhà hai tầng
diện tích 196,6m
2
.
Theo chứng thư thẩm định giá số 086/2025/1367/CT-DVVIE, ngày
20/8/2025 thể hiện: Diện tích 110m
2
đất giá trị 847.000.000 đồng (Tám trăm
bốn mươi bảy triệu đồng), công trình xây dựng giá trị 400.808.800 đồng (Bn
trăm triệu tám trăm linh tám nghìn tám trăm đồng). Tổng giá trị tài sản nhà, đất
1.247.808.800 đồng (một tỷ hai trăm bốn mươi bảy triệu tám trăm linh tám
nghìn tám trăm đồng).
Tại bản án hôn nhân gia đình số: 13/2025/HNGĐ-ST ngày 15/9/2025
của Tòa án nhân dân khu vực 1- Lai Châu đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khon
1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 147, khoản 2 Điều 157, khoản 2
Điều 165, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân s; khoản 2 Điều 1 Luật
sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Bộ Luật tố tụng Dân sự, Luật tố tụng hành chính,
Luật pháp người chưa thành niên, Luật phá sản, Luật hòa giải, đối thoại tại
Tòa án, ngày 25/6/2025 theo Luật 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025; Điều 29, Điều
33, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 5 Điu 27 của Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu,
nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án; Pháp lệnh số
05/2024/UBTVQH15 ngày 11/12/2024 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về chi
phí tố tụng.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn chị Trần Thị T đối với bị
đơn anh Dương Hoàng A về chia tài sản sau ly hôn.
2. Giao cho chị Trần Thị T được quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 30
(hiện nay là thửa số 98, tờ bản đồ số 163), diện tích 110m
2
, địa chỉ tổ 28, phường
Tân Phong, tỉnh Lai Châu và tài sản gắn liền với đất là một nhà 02 tầng, diện tích
196,6m
2
. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số BD 611417, cấp ngày 24/10/2011 mang tên ông Dương
Hoàng A và bà Trần Thị T. Trị giá tài sản nhà, đất là 1.248.000.000 đồng (Một tỷ
hai trăm bốn mươi tám triệu đồng)
ChTrần Thị T trách nhiệm trcho anh Dương Hoàng A stiền chênh
lệch giá trị tài sản là 312.000.000 đồng (Ba trăm mười hai triệu đồng)
3. Về chi phí tố tụng: Anh Dương Hoàng Atrách nhiệm hoàn trả cho chị
Trần Thị T số tin 4.529.500 đồng (Bốn triệu năm trăm hai mươi chín nghìn năm
trăm đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí chia tài sản chung và quyền kháng
cáo cho các đương sự, quyền cấp đổi quyền sử dụng đất.
Ngày 29/9/2025, bị đơn anh Dương Hoàng A kháng cáo toàn bộ bản án đề
nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết lại.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, bị đơn
không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về vic
giải quyết vụ án
Anh Dương Hoàng A trình bày: Quá trình chung sống vợ chồng anh mt
ngôi nhà xây trên thửa đất như chị T trình bày đúng, nhưng số tin mua thửa
đất và xây là là công sức chung của hai vợ chồng nên anh kháng cáo đnghị sửa
bản án sơ thẩm theo hướng phải chia đôi khối tài sản chung.
Chị T không đồng ý đề nghgiữ nguyên như bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ
tọa phiên tòa, Hội đồng xét xtừ khi thụvụ án đến trước khi nghị án đã thực
hiện đúng các quy định của Bộ lut tố tụng Dân sự. Những người tham gia tố
tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: đnghị Hội đồng xét xchấp nhận một
phần kháng cáo ca bị đơn, sửa một phần bản án thẩm theo hướng chị Trần Thị
T được quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 30 (hiện nay là thửa đất số 98, tờ bản
đồ số 163), diện tích 110m
2
địa chỉ tại Lô 12 A, khu dân cư số 1A, xã S, thị xã
Lai Châu (nay phường T, tỉnh Lai Châu), tài sản gắn liền vi đất nhà hai tầng,
diện tích xây dựng là 98,3m
2
, diện tích sàn là 196,6m
2
và có trách nhiệm trả cho
anh Dương Hoàng A số tin 523.702.200 đồng (423.500.000 đồng giá trị thửa đất
+ 100.202.200 đồng giá trị căn nhà trên đất); xác định lại về chi phí tố tụng và án
phí theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ đã được thẩm tra tại phiên
tòa, qua nghe ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1]. Chị Trần Thị T khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung nhà, đất,
địa chỉ tại phường T, tỉnh Lai Châu của chị anh Dương Hoàng A đã ly hôn
nhưng chưa chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân tranh chấp về tài sản chia
tài sản chung sau ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều
35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố dụng dân sự và thuộc thẩm quyền của Tòa
án nhân dân khu vực 1- Lai Châu. Do vậy, Tòa án nhân dân khu vực 1- Lai Châu
thụ lý giải quyết là đúng.
[1.2]. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Ngày 15/9/2025, Tòa án nhân
dân khu vực 1- Lai Châu tuyên bản án thẩm số 13/2025/HNGĐ-ST. Ngày
29/9/2025 bị đơn anh Dương Hoàng A đơn kháng cáo gửi đến Tòa án nhân dân
khu vực 1- Lai Châu. Đơn kháng cáo được bị đơn gửi trong thời hạn luật định và
đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định. Đơn kháng cáo là hợp lệ, Tòa án
nhân dân tỉnh Lai Châu thụ lý giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Nội dung kháng cáo: Xét kháng cáo của anh Dương Hoàng A, Hội đồng
xét xử thấy rằng:
[2.1]. Về tài sản chung chưa chia:
Tại phiên tòa chị Trần Thị T và anh Dương Hoàng A đều xác nhận anh chị
tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chưa chia là thửa đất số 30 (hiện nay
thửa số 98, tờ bản đồ số 163), diện tích 110m
2
, địa chỉ phường T, tỉnh Lai Châu
và tài sản gắn liền với đất là một nhà 02 tầng, diện tích xây dựng là 98,3m
2
, diện
tích sàn là 196,6m
2
. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số BD 611417, cấp ngày 24/10/2011 mang tên
ông Ngô Quang H bà Lưu Thị T đã được đăng biến động chuyển nhượng
cho anh Dương Hoàng A chị Trần Thị T. Đây căn ckhông phải chứng minh.
vậy, xác định khối tài sản chung chưa chia của chị Trần Thị T anh Dương
Hoàng A là quyền sử dụng thửa đất số 98, tờ bn đồ số 163, diện tích 110m
2
, địa
chphường T, tỉnh Lai Châu (đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BD 611417, cấp ngày
24/10/2011 mang tên ông Ngô Quang H Lưu ThT đã được đăng biến
động chuyển nhượng cho anh Dương Hoàng A chị Trần Thị T) một ngôi nhà
02 tng, diện tích xây dựng là 98,3m
2
, diện tích sàn là 196,6m
2
được xây dựng
trên thửa đất số thửa số 98, tờ bản đồ số 163 nêu trên theo Điều 33 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014.
[2.2]. Nguồn gốc, công sức tạo lập khối tài sản chung:
- Quyền sử dụng thửa đất số 98, tờ bản đồ số 163, diện tích 110m
2
, địa chỉ
phường T, tỉnh Lai Châu ất đã được cp giấy chng nhận quyn sdụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số BD 611417, cấp ngày
24/10/2011 mang tên ông Ngô Quang Huy và bà Lưu Thị Thanh đã được đăng ký
biến động chuyển nhượng cho anh Dương Hoàng A và chị Trần Thị T).
Chị T khẳng định nguồn gốc có thửa đt trên là từ số tiền chị đứng tên vay Ngân
hàng Đầu tư Phát triển Việt Nam (viết tắt Ngân hàng BIDV), chị cung cấp hợp
đồng tín dụng ngày 09/01/2014, người vay chTrần Thị T vay 100.000.000 đồng
của Ngân hàng BIDV (BL 61), hợp đồng này được áp dụng đối với cán bộ Ngân
hàng BIDV số nợ này theo bảng rút vốn (BL số 58) số tiền vay từ ngày
09/01/2014 đến ngày 29/01/2015 đã được trả hết. Chị T thừa nhận số nợ quá
trình trả nợ vợ chồng vẫn chung sống.
Anh Dương Hoàng A trình bày từ tiền tiết kiệm của hai vợ chồng.
Căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số BD 611417, cấp ngày 24/10/2011 mang tên ông Ngô
Quang H Lưu ThT ti trang nội dung thay đổi sở pháp thể hin
thửa đất đã được chuyển nhượng cho người nhận cuối cùng là anh Dương Hoàng
A chị Trần Thị T theo hợp đồng chuyển nhượng được công chứng ngày
25/12/2013. Như vậy, thửa đất trên xác định anh Dương Hoàng A và chị Trần Thị
T nhận chuyển nhượng năm 2013, chuyển nhượng trong thời khôn nhân, vợ
chồng bình đẳng nhau vquyền, nghĩa vtrong tạo lập tài sản chung, không phân
biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập theo Điều 29 Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014; hợp đồng vay nợ và trả nợ là sau khi đã nhận chuyển
nhượng xong thửa đất; mặt khác hợp đồng tín dụng được áp dụng cho cán bộ
Ngân hàng BIDVchị T cán bộ Ngân hàng BIDV nên việc trả nợ đứng tên chị
T đương nhiên. Vì vậy, chị T cho rằng toàn bộ công sức của chị mua thửa đất
trên không phù hợp. Khi không tài liệu chứng minh là tài sản riêng, vợ chng
không có thỏa thuận nào về định đot tài sản trong thời kỳ hôn nhân nên cần xác
định công sức ngang nhau để chia đôi theo nguyên tắc tại khoản 2 Điều 59 Lut
Hôn nhân và gia đình năm 2014, vì vậy cần sửa chia lại về giá trị quyền sử dụng
đất, xác định công sức ngang nhau mỗi bên được hưởng một nửa giá trị tài sản.
- Đối với một nhà 02 tầng, diện tích xây dựng 98,3m
2
, diện tích sàn
196,6m
2
được xây dựng trên thửa đất sthửa số 98, tờ bản đồ số 163 đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số BD 611417, cấp ngày 24/10/2011 mang tên ông Ngô Quang H
Lưu Thị T đã được đăng biến động chuyển nhượng cho anh Dương Hoàng A
và chị Trần Thị T.
ChT anh Dương Hoàng A đều thừa nhận được xây dựng năm 2016, quá
trình xây dựng anh Dương Hoàng A không ở nhà, có bố mẹ anh Dương Hoàng A
đến trông coi quá trình xây dựng. Hơn nữa, chị T cung cấp hợp đồng tín dụng
ngày 30/3/2016, số tiền vay 500.000.000 đồng với mục đích xây nhà (BL 54 đến
57). Ngày 03/11/2023 chị T đã thực hiện trả nợ đủ số tiền 500.000.000 đồng cho
ngân hàng BIDV (BL 53).
ChT cung cấp các bảng sao tài khoản tiền gửi của chị T từ năm 2014
đến năm 2023 (BL 65 đến 68), qua đối chiếu các khon tiền trả nợ chưa sự
thống nhất với ngày trả nợ theo bảng kê rút tiền vốn khoản vay 100.000.000 đng
ngày 09/01/2014 khoản vay 500.000.000 đồng ngày 30/3/2016 (BL58, BL52
đến 53), số ngày tháng trả nợ cũng chưa thể hiện đủ 12 tháng của một năm.
Anh Dương Hoàng A thừa nhận quá trình làm nhà anh không nhà, bn
thân anh không cung cấp được căn cứ chứng minh việc chuyển tiền cho chị T.
Thực tế, chị T cung cấp các khoản vay, trả nợ nêu tn thhiện từ năm 2016 đến
năm 2023 một mình chị T trả nợ nên cần khẳng định công sức xây dựng ngôi nhà
của chị T nhiều hơn anh Dương Hoàng A. vậy, cần chia cho chT giá trị ngôi
nhà nhiều hơn anh Dương Hoàng A theo tỷ lệ như cấp Sơ thẩm chia là phù hợp.
[2.3]. Xét xăn cứ chia khối tài sản chung
Hiện tại khối tài sn chung là ngôi nhà và quyền sử dụng thửa đất nêu trên
đang do chị Trần Thị T là người quản lý. Ngôi nhà gắn liền với đất không thể chia
đều cho các bên bằng hiện vật. Chị Trần Thị T là người trực tiếp nuôi con chung,
chnguyện vọng nhận hiện vật. Anh Dương Hoàng A hiện tại chuyển về tnh
Tuyên Quang sinh sống. Vì vậy, xét hoàn cảnh sống của mẹ con chị Tđể bảo
vệ lợi ích của phụ nữ, trẻ em cần giao cho chị Trần Thị T quyền sử dụng thửa đất
số 30 (hiện nay là thửa số 98, tờ bản đồ số 163), diện tích 110m
2
, địa chỉ phường
T, tỉnh Lai Châu (đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền s
hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất sBD 611417, cấp ngày 24/10/2011
mang tên ông Ngô Quang H và bà Lưu Thị T đã được đăng ký biến động chuyển
nhượng cho anh Dương Hoàng A chị Trần Thị T) quyền sở hữu một ngôi
nhà 02 tầng, diện tích 196,6m
2
được xây dựng trên thửa đất số thửa số 98, tờ bản
đồ s163. Anh ơng Hoàng A được nhận giá trị tài sản bằng tiền (đồng tiền Việt
Nam).
ChTrần Thị T trách nhiệm trích chia bằng tiền (đồng tiền Việt Nam)
cho anh Dương Hoàng A gồm giá trị nhà và giá trị quyền sử dụng đất.
[2.4]. Về giá trị nhà, đất:
Anh Dương Hoàng A kháng cáo không nhất trí với giá thẩm định của cấp
thẩm nhưng anh Dương Hoàng A không cung cấp giá thẩm định khác. Quá
trình giải quyết, Tòa án đã lập biên bản anh Dương Hoàng A đồng ý trong thời
hạn 30 ngày anh Dương Hoàng A không cung cấp thẩm định giá mới thì nht trí
kết luận định giá của cấp sơ thẩm. Tại phiên tòa anh Dương Hoàng A nhất trí với
giá thẩm định của cấp sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử xác định giá trị quyền sử
dụng đất theo chứng thư thẩm định giá ngày 20/8/2025, gồm: Diện tích 110m
2
đt
có giá trị 847.000.000 đồng (Tám trăm bốn mươi bảy triệu đồng), công trình xây
dựng giá trị 400.808.800 đồng (Bốn trăm triệu tám trăm linh tám nghìn tám trăm
đồng). Tổng giá trị tài sản nhà, đất 1.247.808.800 đồng (một tỷ hai trăm bn
mươi bảy triệu tám trăm linh tám nghìn tám trăm đồng).
Vậy, chị Trần Thị T có trách nhiệm trích chia giá trị nhà giá trị quyền sử
dụng đất cho anh Dương Hoàng A số tiền: giá trị quyền sử dụng đất: 847.000.000
đồng : 2= 423.500.000 đồng; giá trị nhà: 400.808.800 : 4= 100.202.200 đồng.
Tổng số tiền anh ơng Hoàng A được nhận do chị Trần Thị T phải trả
523.702.200 đồng (Năm trăm hai mươi ba triệu bảy trăm linh hai nghìn hai trăm
đồng) (423.500.000 đồng+ 100.202.200 đồng).
[3] Về án phí, chi phí tố tụng:
[3.1]. Về án phí:
Án phí phúc thẩm: Do bản án thẩm bị sửa nên anh Dương Hoàng A
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 2 Điều 148 Bộ luật Tố tụng
Dân sự. Anh Dương Hoàng A được nhận lại số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu
tiền tạm ứng án phí, lphí tòa án số 0000172 ngày 10/10/2025 của Thi hành án
dân sự tỉnh Lai Châu.
Án phí sơ thẩm: Do bản án xác định tài sản các đương sự được chia sự
thay đổi nên án phí dân scần tính lại. Căn cứ khoản 2 Điều 147 Bộ luật Tố tng
Dân sự, điểm b khoản 5 Điều 27 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Nghị quyết:
- ChTrần Thị T phải nộp án phí đối với giá trị tài sản được hưởng là:
32.964.264 đồng (giá trị tài sản chị T được chia là 724.106.600 đồng, chị T phải
nộp án phí là: 20.000.000 + (4% x 324.106.600 đng). Đối trừ số tin 18.000.000
đồng ch T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001316, ngày
14/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố nay phòng thi hành án dân
sự khu vực 1- Lai Châu. Chị Trần Thị T còn phải nộp số tin 14.964.264 đồng
(Mười bốn triệu chín trăm sáu mươi bốn nghìn hai trăm sáu mươi bốn đồng)
- Anh Dương Hoàng A nộp án phí đối với giá trị tài sản được chia là:
24.948.088 đồng (Hai mươi bốn triệu chín trăm bốn mươi tám nghìn không trăm
tám mươi tám đồng) (giá trị tài sản anh Dương Hoàng A được chia 523.702.200
đồng, anh Dương Hoàng A phải nộp án phí là: 20.000.000 + (4% x 123.702.000
đồng).
[3.2]. Về chi phí tố tụng: tiền xem xét thẩm định tại chỗ (3.618.000 đồng +
800.000 đồng) thẩm định giá 13.500.000 đồng: tổng số tiền là 17.918.000 đồng.
Do các đương sự không thỏa thuận được, cần xác định theo giá trị tài sản các bên
được chia theo khoản 2 Điều 157, khoản 2 Điều 165 Bluật Tố tụng Dân sự:
- Anh Dương Hoàng A phải chịu số tiền là: 17.918.000 đồng x 523.702.200
đồng) : 1.247.808.800 = 7.520.139 đồng (Bảy triệu năm trăm hai mươi nghìn một
trăm ba mươi chín đồng).
- ChTrần Thị T : 17.918.000 đồng x 724.106.600 đồng ; 1.247.808.800
đồng = 10.397.860,700 đồng (làm tròn 10.397.861 đồng (ời triệu ba trăm chín
mươi bảy nghìn tám trăm sáu mươi mốt đồng).
Xác định chị T đã tạm ứng stiền chi phí tố tụng 17.918.000 đồng, nên anh
Dương Hoàng A phải trả tiền cho phí ttụng cho chị T 7.520.139 đồng (By
triệu năm trăm hai mươi nghìn một trăm ba mươi chín đồng).
Từ những nhận định đánh giá nêu trên, xét quan điểm giải quyết vụ án của
Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử cần chấp nhận sửa bản
án sơ thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên Hội
đồng xét xử không đặt ra xem xét, hiu lực kể từ ngày hết kháng cáo, kháng
nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều
35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 147, khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều
157, khoản 2 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân s; khoản 2 Điều 1 Luật số
85/2025/QH15, ngày 25/6/2025 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật tố
tụng dân sự, Luật tố tụng Hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Lut
phá sản và Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án.
Căn cứ vào Điều 29, Điều 33, Điều 59, Điều 62 Luật Hôn nhân gia đình
năm 2014;
Căn cứ đim b khoản 5 Điều 27, Điều 28, khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lphí Tòa
án, Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn anh Dương Hoàng A. Sửa bản
án hôn nhân gia đình số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 15/9/2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 1- Lai Châu:
- Xác định khối tài sản chung yêu cầu chia gồm:
+ Quyền sử dụng thửa đất số 30 (hiện nay là thửa số 98, tờ bản đồ số 163),
diện tích 110m
2
, địa chỉ phưng T, tỉnh Lai Châu.
+ Một nhà 02 tầng, diện tích 196,6m
2
được xây dựng trên thửa đất s98,
tờ bản đồ số 163 đã được cấp giấy chng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 611417, cấp ngày 24/10/2011 mang
tên ông Ngô Quang H u ThT đã được đăng biến động chuyển nhượng
cho anh Dương Hoàng A chị Trần ThT, cùng địa chphường T, tỉnh Lai Châu.
- Giao cho chị Trần Thị T được quyền sử dụng thửa đất số 30 (hiện nay
thửa số 98, tbản đồ s163), diện tích 110m
2
, địa chỉ phường T, tỉnh Lai Châu
ất đã giấy chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất số BD 611417, cấp ngày 24/10/2011 mang tên ông Ngô Quang H
và bà u Thị T được đăng ký biến động chuyển nhượng cho anh Dương Hoàng
A và chị Trần Thị T) và quyền sỡ hữu tài sản gắn liền trên đất thửa số 98, tờ bản
đồ số 163 nêu trên là một ngôi nhà 02 tầng, diện tích 196,6m
2
.
ChTrần Thị T phải trích chia giá trquyền sdụng đất tài sản ngôi nhà cho
anh Dương Hoàng A là 523.702.200 đồng (Năm trăm hai mươi ba triệu bảy trăm
linh hai nghìn hai trăm đồng).
- Anh Dương Hoàng A được sở hữu 523.702.200 đồng (Năm trăm hai mươi
ba triệu bảy trăm linh hai nghìn hai trăm đồng) do chị T trích chia.
2. Về án phí, chi phí tố tụng:
- Về án phí sơ thẩm:
+ Nguyên đơn chTrần Thị T phải nộp án phí đối với giá trị tài sản được
ởng là: 32.964.264 đồng. Đối trừ số tiền 18.000.000 đồng chị T đã nộp theo
biên lai thu tiền tạm ng án phí số 0001316, ngày 14/3/2025 tại Chi cục Thi hành
án dân sthành phnay phòng thi hành án dân skhu vực 1- Lai Châu. Chị
Trần Thị T còn phải nộp số tin 14.964.264 đồng (i bốn triệu chín trăm sáu
mươi bốn nghìn hai trăm sáu mươi bốn đồng).
+ Anh Dương Hoàng A nộp án phí đối với giá trị tài sản được chia là:
24.948.088 đồng (Hai mươi bốn triệu chín trăm bốn mươi tám nghìn không trăm
tám mươi tám đồng)
- Về án phí phúc thẩm: Bị đơn anh Dương Hoàng A không phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm. Anh Dương Hoàng A được nhận lại số tiền 300.000 đồng theo
biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án s0000172 ngày 10/10/2025 ca
Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu.
- Về chi phí tố tụng: anh Dương Hoàng A phải trả tiền cho phí tố tụng cho
chị T 7.520.139 đồng (Bảy triệu năm trăm hai mươi nghìn một trăm ba mươi
chín đồng).
3. ChTrần Thị T quyền liên hệ với quan nhà nước thẩm quyền
để đăng ký cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu
thi hành án của ngưi được thi hành đối với khoản tiền nêu trên cho đến khi thi
hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyn yêu cầu thi nh án, tự nguyn thi hành
án hoặc bị ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a Điều 9
Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND tỉnh Lai Châu;
- TAND khu vực 1- Lai Châu;
- THADS tỉnh Lai Châu;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHTỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Thu Hà
Tải về
Bản án số 01/2026/HNGĐ-PT Bản án số 01/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 01/2026/HNGĐ-PT Bản án số 01/2026/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất