Bản án số 01/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 01/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 01/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 01/2025/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 01/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 5 - Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi |
Số hiệu: | 01/2025/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 10/06/2025 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | chị Tr yêu cầu ly hôn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MINH LONG
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10/6/ 2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH LONG, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Rô
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Minh
Bà Đinh Thị Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tỉnh, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân
dân huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vương, Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Minh Long
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2025/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 3
năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 16 tháng 5 năm 2025, giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Tuyết, sinh năm 1991
Địa chỉ: Thôn Làng Trê, xã Long Môn, huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi,
có mặt.
2. Bị đơn: Anh Đinh Văn Bè, sinh năm 1986
Địa chỉ: Thôn Làng Trê, xã Long Môn, huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi,
có mặt.
3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Võ Thị
Hiếu, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng
Ngãi.
2
4. Người phiên dịch: Bà Đinh Thị Sóc, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ
xã Thanh An, huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 24/02/2025, tại bản tư khai của đương sự ngày
30/3/2025, tại phiên tòa chị Đinh Thị Tuyết trình bày:
Chị Đinh Thị Tuyết và anh Đinh Văn Bè tự nguyện chung sống với nhau
như vợ chồng từ năm 2006 đến nay không đăng ký kết hôn. Từ năm 2022, chị
Tuyết và anh Bè phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau về quan điểm sống,
thường xuyên cải nhau. Chị Tuyết và anh Bè đã ly thân từ đầu năm 2022 đến nay,
phần ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Nay tình cảm giữa chị Tuyết, anh Bè
không còn, chị Tuyết yêu cầu được ly hôn với anh Bè.
Về con chung: Giữa chị Tuyết, và anh Bè có hai con chung là Đinh Thị Tô
Ky Na, sinh ngày 17/11/2007 và Đinh Thị Linh Ka, sinh ngày 05/4/2014. Sau khi
ly hôn, chị Tuyết trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục hai con chung. Chị Đinh
Thị Tuyết tạm thời chưa yêu cầu anh Đinh Văn Bè cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Đinh Thị Tuyết không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản tự khai của đương sự ngày 28/3/2025, tại phiên tòa bị đơn
anh Đinh Văn Bè trình bày:
Anh Bè công nhận, giữa anh Bè và chị Tuyết tự nguyện chung sống với
nhau như vợ chồng từ năm 2006 đến nay không đăng ký kết hôn. Từ năm năm
2022, giữa chị Tuyết và anh Bè phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu
thuẫn do chị Tuyết và anh Bè thường xuyên cãi nhau, anh Bè và chị Tuyết đã ly
thân từ đầu năm 2022 đến nay, phần ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Nay
tình cảm giữa anh Bè, và chị Tuyết không còn nên anh Bè đồng ý ly hôn với chị
Tuyết.
Về con chung: Giữa chị Tuyết và anh Bè có hai con chung là Đinh Thị Tô
Ky Na, sinh ngày 17/11/2007 và Đinh Thị Linh Ka, sinh ngày 05/4/2014. Sau khi
ly hôn, anh Đinh Văn Bè đồng ý giao con hai chung cho chị Tuyết trực tiếp chăm
sóc, nuôi dưỡng giáo dục.
Về tài sản chung: Anh Đinh Văn Bè không yêu cầu Tòa án giải quyết
*Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Theo chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày tại phiên tòa có cơ sở xác định
chị Tuyết, anh Bè đã ly thân, hiện nay tình cảm giữa chị Tuyết và anh Bè không
còn. Cuộc sống chung của chị Tuyết và anh Bè thường hay xảy ra mâu thuẫn,
thường xuyên cãi nhau. Nay chị Tuyết, anh Bè đã ly thân, phần ai nấy sống, không
3
ai lo cho ai. Anh Bè đồng ý ly hôn với chị Tuyết. Tuy nhiên, do giữa chị Tuyết và
anh Bè không có đăng ký kết hôn nên yêu cầu Hội đồng xét xử tuyên bố không
công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Tuyết và anh Bè theo quy định tại khoản 2
Điều 53 Luật hôn nhân gia đình. Về con chung, giữa chị Tuyết và anh Bè có 02
con chung. Sau khi ly hôn, chị Tuyết yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng
hai con chung. Chị Tuyết tạm thời chưa yêu cầu anh Bè cấp dưỡng nuôi con chung
là theo sự thỏa thuận của chị Tuyết với anh Bè. Về tài sản chung, các đương sự
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến của Đại diện của Viện kiểm sát:
- Ý kiến về việc trình tự thủ tục tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể
từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng
quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các khoản 1 Điều 9, các điều 14,
53, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1, 7 Điều 28, điểm a
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ
khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ
giữa chị Đinh Thị Tuyết và anh Đinh Văn Bè là vợ chồng; về con chung: Giao hai
con chung Đinh Thị Tô Ky Na, sinh ngày 17/11/2007 và Đinh Thị Linh Ka, sinh
ngày 05/4/2014, cho cho chị Đinh Thị Tuyết trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục. chị Tuyết không yêu cầu anh Bè cấp dưỡng nuôi con; về tài sản
chung,nợ chung chị Tuyết, anh Bè không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xét.
Về án phí dân sự, miễn cho chị Tuyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Tại thời điểm chị Đinh Thị Tuyết khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh
Đinh Văn Bè thì anh Bè đang cư trú tại thôn Làng Trê, xã Long Môn, huyện Minh
Long, tỉnh Quảng Ngãi. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Minh Long thụ lý vụ án
“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn chị Đinh Thị Tuyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28,
điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Trong đơn khởi kiện, nguyên đơn chị Đinh Thị Tuyết yêu cầu Tòa án
giải quyết cho anh được ly hôn với bị đơn anh Đinh Văn Bè, anh Bè đồng ý ly hôn
4
với chị Tuyết nhưng chị Tuyết và anh Bè chung sống với nhau như vợ chồng từ
năm 2006 đến nay, có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn là vi
phạm quy định tại điều 9 luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Căn cứ lời khai của nguyên đơn chị Đinh Thị Tuyết và bị đơn anh Đinh
Văn Bè và các tài liệu chứng cứ nguyên đơn, bị đơn đã cung cấp trong quá trình
giải quyết vụ án, có căn cứ xác định: Vào năm 2006, chị Tuyết và anh Bè tự
nguyện chung sống với nhau như vợ chồng. Từ năm 2022, chị Tuyết và anh Bè xảy
ra mâu thuẫn, chị Tuyết cho rằng anh Bè thường xuyên nhậu nhẹt rồi chửi mắng vợ
con, anh Bè thừa nhận không sống chung từ năm 2022 đến nay, không ai quan tâm,
không ai chăm sóc cho ai, tình cảm giữa chị Tuyết và anh Bè không còn nên chị
Tuyết yêu cầu được ly hôn với anh Bè, anh Bè cũng đồng ý ly hôn với chị Tuyết
nhưng do chị Tuyết và anh Bè chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2006 đến
nay, có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn, nên hôn nhân giữa chị
Tuyết và anh Bè không có giá trị pháp lý và không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ
giữa vợ và chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 Luật hôn
nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử không giải quyết ly hôn cho các đương
sự, mà cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Tuyết và anh Bè
là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.3] Về con chung: Chị Đinh Thị Tuyết, anh Đinh Văn Bè có hai con chung
là: Đinh Thị Tô Ky Na, sinh ngày 17/11/2007 và Đinh Thị Linh Ka, sinh ngày
05/4/2014. Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, bị đơn, ý kiến của các con chung
thì các con chung hiện nay do chị Tuyết đang trực tiếp nuôi dưỡng; chị Tuyết, anh
Bè thỏa thuận giao hai con chung cho chị Tuyết trực tiếp trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục phù hợp với nguyện vọng của các con chung, nên căn cứ
khoản 1 Điều 14, các điều 81, 82, 83,84 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao hai
con chung Đinh Thị Tô Ky Na và Đinh Thị Linh Ka cho chị Đinh Thị Tuyết trực
tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, tạm thời chị Tuyết chưa yêu cầu anh Bè cấp dưỡng
nuôi hai con chung.
[2.4] Về tài sản chung: Chị Tuyết và anh Bè tự thỏa thuận, không yêu cầu
Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về án phí: Chị Đinh Thị Tuyết được miễn án phí dân sự sơ thẩm do chị
Tuyết là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã
hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại theo quy định tại điểm đ, khoản 1, điều 12
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của bị đơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, được chấp nhận.
5
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1,7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, các điều 235, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9,
khoản 1 Điều 14, Điều 15 khoản 1 Điều 51, các điều 53, 81, 82, 83,84 của Luật
hôn nhân và gia đình.
1. Tuyên bố: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Đinh Thị Tuyết
và anh Đinh Văn Bè.
2. Về con chung: Giao hai con chung Đinh Thị Tô Ky Na, sinh ngày
17/11/2007 và Đinh Thị Linh Ka, sinh ngày 05/4/2014 cho chị Đinh Thị Tuyết trực
tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời chị Đinh Thị Tuyết
chưa yêu cầu anh Đinh Văn Bè cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không
ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản
trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom
con của người đó.
3. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ, khoản 1, điều 12, Điều 27 của Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ
phí Tòa án, chị Đinh Thị Tuyết được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
4. Chị Đinh Thị Tuyết và anh Đinh Văn Bè có quyền kháng cáo bản án này
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Dương Văn Minh Đinh Thị Bình Phạm Văn Rô
6
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện Minh Long;
- Trung tâm TGPL;
- TAND tỉnh Quảng Ngãi;
- Chi Cục THADS huyện Minh Long;
- UBND xã Long Môn;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Phạm Văn Rô
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Dương Văn Minh Đinh Thị Bình Phạm Văn Rô

7
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MINH LONG
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 01/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10/6/ 2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH LONG, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Rô
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Minh
Bà Đinh Thị Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tỉnh, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân
dân huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Long, tỉnh Quảng Ngãi
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vương, Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Minh Long
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2025/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 3
năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 16 tháng 5 năm 2025, giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị T, sinh năm 1991
Địa chỉ: Thôn Làng Tr, xã L, huyện M g, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
2. Bị đơn: Anh Đinh Văn B, sinh năm 1986
Địa chỉ: Thôn Làng Tr, xã L, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.
3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Võ Thị H,
Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Ngãi.
4. Người phiên dịch: Bà Đinh Thị S, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã
Thanh A, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
8
* Tại đơn khởi kiện ngày 24/02/2025, tại bản tư khai của đương sự ngày
30/3/2025, tại phiên tòa chị Đinh Thị T trình bày:
Chị Đinh Thị T và anh Đinh Văn B tự nguyện chung sống với nhau như vợ
chồng từ năm 2006 đến nay không đăng ký kết hôn. Từ năm 2022, chị T và anh B
phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau về quan điểm sống, thường xuyên cải
nhau. Chị T và anh B đã ly thân từ đầu năm 2022 đến nay, phần ai nấy sống, không
ai quan tâm đến ai. Nay tình cảm giữa chị T, anh B không còn, chị T yêu cầu được
ly hôn với anh B.
Về con chung: Giữa chị T, và anh B có hai con chung là Đinh Thị Tô K,
sinh ngày 17/11/2007 và Đinh Thị Linh K, sinh ngày 05/4/2014. Sau khi ly hôn,
chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục hai con chung. Chị Đinh Thị T tạm
thời chưa yêu cầu anh Đinh Văn B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Đinh Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản tự khai của đương sự ngày 28/3/2025, tại phiên tòa bị đơn
anh Đinh Văn B trình bày:
Anh Bè công nhận, giữa anh B và chị T tự nguyện chung sống với nhau như
vợ chồng từ năm 2006 đến nay không đăng ký kết hôn. Từ năm năm 2022, giữa chị
T và anh B phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do chị Tt và
anh B thường xuyên cãi nhau, anh B và chị T đã ly thân từ đầu năm 2022 đến nay,
phần ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Nay tình cảm giữa anh B, và chị T
không còn nên anh B đồng ý ly hôn với chị
Về con chung: Giữa chị Tt và anh B có hai con chung là Đinh Thị Tô Ky N,
sinh ngày 17/11/2007 và Đinh Thị Linh K, sinh ngày 05/4/2014. Sau khi ly hôn,
anh Đinh Văn B đồng ý giao con hai chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng giáo dục.
Về tài sản chung: Anh Đinh Văn Bkhông yêu cầu Tòa án giải quyết
*Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Theo chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày tại phiên tòa có cơ sở xác định
chị T, anh B đã ly thân, hiện nay tình cảm giữa chị Tvà anh B không còn. Cuộc
sống chung của chị T và anh B thường hay xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi
nhau. Nay chị Tt, anh B đã ly thân, phần ai nấy sống, không ai lo cho ai. Anh B
đồng ý ly hôn với chị T. Tuy nhiên, do giữa chị T và anh B không có đăng ký kết
hôn nên yêu cầu Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng
giữa chị T và anh B theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân gia đình. Về
con chung, giữa chị T và anh B có 02 con chung. Sau khi ly hôn, chị T yêu cầu
được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung. Chị T tạm thời chưa yêu cầu
anh B cấp dưỡng nuôi con chung là theo sự thỏa thuận của chị T với anh B. Về tài
9
sản chung, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến của Đại diện của Viện kiểm sát:
- Ý kiến về việc trình tự thủ tục tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể
từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng
quy định pháp luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các khoản 1 Điều 9, các điều 14,
53, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1, 7 Điều 28, điểm a
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ
khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ
giữa chị Đinh Thị T và anh Đinh Văn B là vợ chồng; về con chung: Giao hai con
chung Đinh Thị Tô Ky N, sinh ngày 17/11/2007 và Đinh Thị Linh K, sinh ngày
05/4/2014, cho cho chị Đinh Thị Tt trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục. chị T không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung,nợ
chung chị T, anh B không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xét. Về án phí dân sự,
miễn cho chị T theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Tại thời điểm chị Đinh Thị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Đinh
Văn B thì anh B đang cư trú tại thôn Làng Tr, xã L, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Do
đó, Tòa án nhân dân huyện Minh Long thụ lý vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn” theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đinh Thị T là đúng
thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a
khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Trong đơn khởi kiện, nguyên đơn chị Đinh Thị Tt yêu cầu Tòa án giải
quyết cho anh được ly hôn với bị đơn anh Đinh Văn B, anh Bđồng ý ly hôn với chị
Tuyết nhưng chị T và anh B chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2006 đến
nay, có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm quy định tại
điều 9 luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Căn cứ lời khai của nguyên đơn chị Đinh Thị T và bị đơn anh Đinh Văn
B và các tài liệu chứng cứ nguyên đơn, bị đơn đã cung cấp trong quá trình giải
quyết vụ án, có căn cứ xác định: Vào năm 2006, chị T và anh B tự nguyện chung
sống với nhau như vợ chồng. Từ năm 2022, chị T và anh B xảy ra mâu thuẫn, chị T
cho rằng anh B thường xuyên nhậu nhẹt rồi chửi mắng vợ con, anh B thừa nhận
10
không sống chung từ năm 2022 đến nay, không ai quan tâm, không ai chăm sóc
cho ai, tình cảm giữa chị T và anh B không còn nên chị T yêu cầu được ly hôn với
anh B, anh B cũng đồng ý ly hôn với chị T nhưng do chị T và anh B chung sống
với nhau như vợ chồng từ năm 2006 đến nay, có đủ điều kiện kết hôn nhưng không
đăng ký kết hôn, nên hôn nhân giữa chị T và anh B không có giá trị pháp lý và
không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo quy định tại khoản 1
Điều 9, khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử không
giải quyết ly hôn cho các đương sự, mà cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ
chồng giữa chị T và anh B là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2014.
[2.3] Về con chung: Chị Đinh Thị T, anh Đinh Văn B có hai con chung là:
Đinh Thị Tô Ky N, sinh ngày 17/11/2007 và Đinh Thị Linh K, sinh ngày
05/4/2014. Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, bị đơn, ý kiến của các con chung
thì các con chung hiện nay do chị T đang trực tiếp nuôi dưỡng; chị T, anh B thỏa
thuận giao hai con chung cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục phù hợp với nguyện vọng của các con chung, nên căn cứ khoản 1 Điều
14, các điều 81, 82, 83,84 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao hai con chung
Đinh Thị Tô Ky N và Đinh Thị Linh K cho chị Đinh Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng, tạm thời chị Tuyết chưa yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi hai con chung.
[2.4] Về tài sản chung: Chị T và anh B tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa
giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về án phí: Chị Đinh Thị T được miễn án phí dân sự sơ thẩm do chị T là
người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn theo quy định tại theo quy định tại điểm đ, khoản 1, điều 12 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của bị đơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1,7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39, các điều 235, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9,
khoản 1 Điều 14, Điều 15 khoản 1 Điều 51, các điều 53, 81, 82, 83,84 của Luật
hôn nhân và gia đình.
11
1. Tuyên bố: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Đinh Thị T và
anh Đinh Văn B.
2. Về con chung: Giao hai con chung Đinh Thị Tô Ky N, sinh ngày
17/11/2007 và Đinh Thị Linh K, sinh ngày 05/4/2014 cho chị Đinh Thị T trực tiếp
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời chị Đinh Thị Tu chưa yêu
cầu anh Đinh Văn B cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không
ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản
trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom
con của người đó.
3. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ, khoản 1, điều 12, Điều 27 của Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ
phí Tòa án, chị Đinh Thị T được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
4. Chị Đinh Thị T và anh Đinh Văn B có quyền kháng cáo bản án này trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện M;
- Trung tâm TGPL;
- TAND tỉnh Quảng Ngãi;
- Chi Cục THADS huyện M;
- UBND xã L;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Phạm Văn Rô
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 29/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 29/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 25/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 22/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 21/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 16/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 15/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 15/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm