Bản án số 01/2021/DS-ST ngày 13/01/2021 của TAND huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2021/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 01/2021/DS-ST ngày 13/01/2021 của TAND huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Bắc Bình (TAND tỉnh Bình Thuận)
Số hiệu: 01/2021/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/01/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Thông Thị L-Nguyễn Thị H tranh chấp"quyền sử dụng đất và đòi lại tài sản"
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN BẮC BÌNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 01/2020/DSST
Ngày: 13-01-2021
V/vTranh chấp quyền sử dụng đất”
và “Đòi lại tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH-TỈNH BÌNH THUẬN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo – Thẩm phán
- Các Hội thẩm nhân dân:1/.Bà Trần Thị Nguyệt Bình
2/.Ông Tạ Văn Việt
- Thư phiên tòa: Mai Thị Chiêm Vân Thư Tòa án nhân dân
huyện Bắc Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Bà
Đặng Thị Thu Vân- Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình,
xét xthẩm công khai đối với ván thụ số 120/2019/TLSTDS ngày 10
tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đấtvà đòi lại tài sản
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2020/QĐXX–DSST ngày 04/12/2020
và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2020/QĐST-DS ngày 23 tháng 12 năm 2020
giữa các bên đương sự:
-Nguyên đơn: Chị Thông Thị L, sinh năm 1984(có mặt)
Nơi cư trú: Thôn HT, xã HN, huyện BB, tnh Bình Thuận.
-Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1949(vắng mặt).
Địa ch: Thôn TH, xã PT, huyện BB, tnh Bình Thuận
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện cũng như quá trình tố tụng nguyên đơn chị Thông Thị
L trình bày: Chị Thông Thị L con chung giữa Nguyễn Thị H với ông Lê
N.Trước đây giữa ông Lê N và bà Nguyễn Thị H có khai phá diện tích đất chung
khoảng 11.000m
2
nhưng năm 2002 ông N đã chuyển nhượng toàn bộ phần
diện tích đất chung cho mẹ là Nguyễn Thị H nhưng ch giao giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất giao đất, không làm thtục sang tên cho bà Nguyễn Thị
H. Năm 2014, giữa ông N Nguyễn Thị H thỏa thuận: Phần đất ông
N chuyển nhượng cho H, ông N sẽ làm thủ tục chuyển nhượng cho
H trong đó thỏa thuận 3 thửa đất lúa gồm thửa 142 diện tích 2618,3m
2
, thửa
107 diện tích 868,8m
2
(thuộc tờ bản đsố 37), thửa số 3 diện tích 1957,0 m
2
(thuộc tờ bản đồ số 50) H cho chị Thông Thị L nên ông Lê N không làm thủ
2
tục chuyển nhượng cho bà H làm hợp đồng tặng cho con Thông Thị L
được sự đồng ý của Nguyễn Thị H.Sau khi được cha mẹ tặng cho diện tích
đất trên chị L chung với mNguyễn Thị H nên đất sổ đỏ vẫn để m
giữ và canh tác còn chị L làm công nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh.Chồng chị
L ở chung nhà với bà H, mẹ con làm ăn chung.Sau này giữa bà H và chồng chị L
mâu thuẫn nên mcon không n sống chung mẹ chị riêng nhưng vẫn
giữ 3 thửa ruộng canh tác không giao lại đất sổ đỏ cho chị quản lý, s
dụng theo hợp đồng đã tặng cho ngày 17 tháng 10 năm 2014.
Nay chị Thông Thị L yêu cầu bà Nguyễn Thị H phải giao lại 3 thửa ruộng
thửa 142,107 thửa s3 cùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để chị
thực hiện quyền sử dụng đất của mình.
Bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày trong quá trình tố tụng: 03(Ba) thửa đất
Thông Thị L yêu cầu giao nguồn gốc của nhận chuyển nhượng tnăm
2002 của ông N cha của chị Thông Thị L nhưng khi nhận chuyển nhượng
bà đã được giao đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.Đến năm 2014 bà
nhu cầu vay vốn nên yêu cầu ông N làm thủ tục chuyển nhượng cho
giữa ông N thỏa thuận trong diện tích 1.1ha ông N chuyển
nhượng , cho con gái Thông Thị L 03 thửa khoảng 05 sào thửa 94,95
101 thuộc tờ bản đồ số 01 nay là thửa 3,142 và 107 tờ bản đồ số 50tờ bản đồ
37 như hiện nay chị L yêu cầu đã được Tòa án thẩm định ngày 25/8/2020 nên bà
đề nghị ông N làm hợp đồng tặng cho trực tiếp qua tên Thông Thị L,
Thông Thị L con chung giữa với ông N, mục đích để d vay vốn
Ngân hàng cho thuận tiện lúc đó đã lớn tuổi.Sau khi cho con gái Thông
Thị L ruộng, chị L không làm đi Thành phố làm công nhân. ruộng vẫn
canh tác nhập thửa 143 vào thửa 142 đã cho Thông Thị L.Sau khi Thông Thị
L không còn làm công nhân trong thành phố Hồ Chí Minh về nhà, tiếp tục
cho ủi đất trồng cây thanh long nhưng không cho luôn đất hiện nay Thông Thị
L giành lấy phần đất thanh long cho Thông Văn Chính kiện Thông Văn
Chính tại Tòa án tnh Bình Thuận chưa giải quyết xong nên bà không đồng ý
giao 03 thửa ruộng này cho Thông Thị L cũng như giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất 3 thửa 107;3;142 cho Thông Thị L.
Tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc Nguyễn
Thị H phải giao 3 thửa ruộng 3 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 3 thửa
142; 3 107 thuộc tờ bản đồ số 50 37 cho chị Thông Thị L cho rằng đất
này chđược cha mẹ N Nguyễn Thị H đã cho chị tnăm 2014 nhưng
chưa điều kiện canh tác do mẹ con sống chung nhà nên thời gian chị đi
Thành phố làm, giao đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mẹ canh tác
và quản giữ giúp.Nay về địa phương nên cần lấy đất canh tác giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đthực hiện quyền của người sdụng đất.ChL không
chấp nhận ý kiến của bà Nguyễn Thị H.
Bị đơn bà Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa không đưa ra ý kiến khác
và tại Bút lục số 22-23 không đồng ý vì cho rằng đợi Tòa án tnh Bình Thuận
xử xong vụ Tranh chấp đất 5 sào giữa Thông Văn Chính với Thông Thị L,
Thông Thị L trả lại 5 sào đất cho Thông Văn Chính bà mới giao 5 sào đất ruộng
và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Thông Thị L.
3
Ý kiến đại diện Viện kiểm sát: + Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán
đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự quy định về thụ đúng
thẩm quyền, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách tham gia tố tụng, thời hạn giải
quyết, trình tự thủ tục hòa giải thời hạn chuyển giao hồ sang Viện kiểm
sát.
+Về tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét
xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
+Về chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chấp hành, đúng
theo quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành quy định tại Điều 70 Bộ
luật tố tụng dân sự.
+Về nội dung vụ án: Áp dụng khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35;
điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 168; Điều 722; Điều 724; Điều 726 Bộ
luật dân snăm 2005; Điều 274; Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166;
Điều 203 Luật đất đai 2013 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn chị Thông Thị L.Buộc bà Nguyễn Thị H giao các thửa đất
cho Thông Thị L tại tọa lạc đồng Giây, HN, huyện BB như sau: Thửa số
142, diện tích 2618,3m
2
, thuộc tờ bản đồ 37 tứ cận: hướng Bắc giáp bờ đất,
hướng Nam giáp thửa số 3, hướng Đông đất ông N thửa 107, hướng Tây
giáp thửa 143; Thửa 107, diện tích 868,8m
2
, thuộc tờ bản đồ 37, tứ cận:
hướng Bắc giáp đất ông N, hướng Nam giáp đất Nguyễn Thị H, hướng Đông
giáp đất ông N, hướng Tây giáp thửa 142 thửa số 3; Thửa số 3, diện tích
1967m
2
, thuộc tờ bản đồ số 50, tứ cận: hướng Bắc giáp thửa 142 thửa
143, hướng Nam giáp đất Nguyễn Thị H, hướng Đông giáp đất thửa 107 đất
Nguyễn Thị H, hướng Tây giáp đất Nguyễn Lộc và giao lại cho chị Thông Thị L
03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 697338, BS 697337, BS 697339
do Ủy ban nhân dân huyện BB công nhận quyền sử dụng đất cho Thông Thị L
ngày 11/12/2014.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu trong hồ vụ kiện đã được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử Tòa án
nhân dân huyện Bắc Bình nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: Chị Thông Thị L khởi kiện tranh chấp quyền sử
dụng đất và đòi lại tài sản là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với Nguyễn Thị
H, đất tọa lạc tại đồng Giây, HN, huyện BB đã được UBND HN hoà
giải về tranh chấp đất đai hợp lệ.Căn cứ vào khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1
Điều 35 điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự m 2015.Tòa án
nhân dân huyện Bắc Bình thụ đúng thẩm quyền.Tại phiên tòa hôm nay
Nguyễn Thị H vắng mặt hai lần đã được tống đạt niêm yết hợp lệ nên Hội
đồng xét xử vẫn xvắng mặt bà Nguyễn Thị H đúng quy định tại khoản
điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Xét về nguồn gốc đất:
4
Qua lời trình bày của Nguyễn Thị H chị Thông Thị L và tài liệu
chứng cứ Tòa án thu thập tại văn phòng đăng đất đai: 3(Ba) thửa ruộng
142,107, 3 thuộc tờ bản đồ số 50 và 37 trước đây có nguồn gốc là của ông N,
ông Lê N chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị H vào ngày 20 tháng 02 năm 2002
theo giấy chuyển nhượng viết tay nhưng khi chuyển nhượng c bên thoả thuận
ông N giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giao đất cho H.Bà H
giao đủ tiền cho ông N được quyền quản sử dụng đất.vậy, 03 thửa
đất trên Nguyễn Thị H người quyền sử dụng đất.Đến ngày 17/10/2014,
Nguyễn Thị H yêu cầu ông N làm thủ tục giúp chuyển quyền s
dụng đất của gồm các thửa đất 94,95 101 thuộc tờ bản đồ 01 nay thửa
142,107 và 3 thuộc tờ bản đồ số 50 và 37 tặng cho con chung giữa bà H với ông
N quyền sử dụng đất, mục đích bà trình bày để dể vay vốn Ngân hàng và chị
Thông Thị L đã đăng quyền sở hữu, sử dụng đất tại Chi nhánh văn phòng
đăng ký đất đai BB ngày 03/12/2014. Như vậy, căn cứ vào Điều 168 , Điều 722;
Điều 724 và Điều 726 Bộ luật dân sự năm 2005 thì hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất đã hoàn thành tại thời điểm chuyển quyền sở hữu, sử dụng đối với bất
động sản hiệu lực k từ thời điểm đăng quyền sở hữu, sử dụng.
Nguyễn Thị H không cung cấp, chứng minh thỏa thuận khác tặng cho 3 thửa
đất cho Thông Thị L nhờ đứng tên để dể vay vốn ngân hàng.vậy, Hội
đồng xét xử xác định thửa đất số 142,107 3 thuộc tờ bản đồ số 50 37 hiện
nay bà Nguyễn Thị H đang canh tác và giữ sổ thuộc quyền sử dụng và sở hữu
của Thông Thị L.Vì Nguyễn Thị H mẹ của chị L nên Thông Thị L sau khi
đi thành phố làm ăn xa, đất đã được Nguyễn Thị H tặng cho, qua nhờ ông
N làm hợp đồng tặng cho mặc chưa được giao quản , canh tác nhưng đã
được quyền sử dụng đất nên giữa mẹ và con có thỏa thuận bà H tiếp tục canh tác
giữ giúp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 03 thửa trên là có căn cứ.
[2.2]Xét về yêu cầu giao trả đất: Căn cứ hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng ngày đất ngày 17/10/2014 đã được chị Thông Thị L đăng Quyền sử
dụng đất ngày 03/12 /2014 nên được UBND huyện BB công nhận quyền sử
dụng đất cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Thông Thị L 3 thửa 142
diện tích 2618,3m
2
; thửa,107 diện tích 868,8m
2
thửa 3 diện tích 1967m
2
theo
các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 697338, BS 697337, BS 697339
có căn cứ đúng quy định tại Điều 168 Bộ luật dân sự năm 2005 cho nên chị L
đã có quyền của người sử dụng đất được quy định tại Điều 166 Luật đất đai năm
2013.Như vậy, Nguyễn ThH không đồng ý giao 03 thửa đất 142,107, 3 cho
chị Thông Thị L mà cho rằng đợi kết quả giải quyết của vụ án khác giữa Thông
Văn Chính với Thông Thị L không căn cứ bởi lẽ 03 thửa đất chị L đang
tranh chấp với Nguyễn Thị H không phải là đối tượng trong vụ kiện giữa
Thông Văn Chính với Thông Thị L và không có liên quan trong vụ kiện này, đất
này Nguyễn Thị H đã đồng ý cho Thông Thị L thông qua nhờ ông N làm
hợp đồng tặng cho nên Hội đồng xét xử xét thấy Thông Thị L yêu cầu
Nguyễn Thị H giao lại 3 thửa đất số 142, diện tích 2618,3m
2
, thuộc tờ bản đồ 37
tứ cận: hướng Bắc giáp bờ đất, hướng Nam giáp thửa số 3, hướng Đông đất
ông N thửa 107, hướng Tây giáp thửa 143; Thửa 107, diện tích 868,8m
2
,
thuộc tờ bản đồ 37, có tứ cận: hướng Bắc giáp đất ông N, hướng Nam giáp
5
đất Nguyễn Thị H, hướng Đông giáp đất ông N, hướng Tây giáp thửa 142 và
thửa số 3; Thửa số 3, diện tích 1967m
2
, thuộc tờ bản đồ số 50, có tứ cận: hướng
Bắc giáp thửa 142 thửa 143, hướng Nam giáp đất Nguyễn Thị H, hướng
Đông giáp đất thửa 107 và đất Nguyễn Thị H, hướng Tây giáp đất Nguyễn
Lộc.Tổng diện tích 5454,1m
2
giá trị 152.714.800 đ (Một trăm năm mươi hai
triệu bảy trăm mười bốn nghìn tám trăm) đồng là hoàn toàn có căn cứ đúng pháp
luật.
[2.3] Đối với yêu cầu giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đât: Do 3 thửa
đất ruộng 142,107 và thửa số 3 chị Thông Thị L đã được UBND huyện BB công
nhận quyền sử dụng đất thông qua hợp đồng tặng cho nên bà Nguyễn Thị H phải
nghĩa vụ giao trả đất cho Thông Thị L theo đó phải chuyển giao giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số BS 697338, BS 697337,BS 697339 cho Thông Thị L
của các thửa 142, 107 thửa số 3 tên người sử dụng đất Thông Thị L được
quy định tại Điều 688 và Điều 274 Bộ luật dân sự 2015.
[3]Về l phí thẩm định định giá tài sản:Nguyên đơn Thông Thị L
không thỏa thuận không cung cấp được về giá hiện trạng đất tranh chấp
nên đề nghị Tòa án thẩm định định giá tài sản, đã nộp lệ phí tạm ứng
14.000.000đ lệ phí chi phí thẩm định định giá.Do yêu cầu của chị Thông Thị
L được Tòa án chấp nhận nên Nguyễn Thị H phải chịu nộp theo quy định tại
Điều 157, Điều 158, Điều 165 Điều 166 Bộ luật tố tụng dân snăm 2015
nhưng chị Thông Thị L tự nguyện chịu nộp toàn bộ tiền lệ phí chi phí thẩm định
định giá tài sản nên Nguyễn Thị H không phải hoàn lại tiền chi phí thẩm
định và định giá cho chị Thông Thị L.
[4]Về án p: Do yêu cầu của chị Thông Thị L được chấp nhận toàn b
nên hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho Thông Thị L.Bà Nguyễn Thị H phải chịu
toàn bộ án phí dân sự thẩm theo quy định Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và
Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016.Tuy
nhiên, theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi thì Nguyễn Thị H
người trên 60 tuổi nên n cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Điều 14 Nghị Quyết
326 của UBTVQH 14 bà H được xét miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng
Nguyễn Thị H không đồng ý làm đơn xin miễn nộp tiền án phí nên
Nguyễn Thị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: - Khoản 9 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm c, khoản
1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 165 và Điều 166; điểm b khoản
2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
-Điều 168; Điều 722; Điều 724 và Điều 726 Bộ luật Dân sự năm 2005.
-Điều 274; Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015.
-Điều 166 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013.
-Điều 12, Điều 14, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 quy định
về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30
tháng 12 năm 2016.
6
Xử:-Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thông Thị L.
-Buộc bà Nguyễn Thị H phải giao cho chị Thông Thị L các thửa đất tại
tọa lạc tại đồng Giây, HN, huyện BB như sau:+ Thửa số 142, diện tích
2618,3m
2
, thuộc tờ bản đồ 37 tứ cận: hướng Bắc giáp bờ đất, hướng Nam
giáp thửa s3, hướng Đông đất ông N thửa 107, hướng Tây giáp thửa
143;
+Thửa 107, diện tích 868,8m
2
, thuộc tờ bản đồ 37, có tcận: hướng Bắc
giáp đất ông N, hướng Nam giáp đất Nguyễn Thị H, hướng Đông giáp đất
ông Lê N, hướng Tây giáp thửa 142 và thửa số 3;
+Thửa số 3, diện ch 1967m
2
, thuộc tờ bản đồ số 50, tcận: hướng
Bắc giáp thửa 142 thửa 143, hướng Nam giáp đất Nguyễn Thị H, hướng
Đông giáp đất thửa 107 và đất Nguyễn Thị H, hướng Tây giáp đất Nguyễn
Lộc(có kèm theo sơ đồ vị trí đo vẽ thẩm định ngày 26/8/2020 của chi nhánh văn
phòng đăng ký đất đai BB)
-Bà Nguyễn Thị H nghĩa vụ giao lại cho chị Thông Thị L 03 giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số BS 697338, BS 697337, BS 697339 do Ủy
ban nhân dân huyện BB công nhận quyền sdụng đất cho Thông Thị L ngày
11/12/2014.
-Về lệ phí thẩm định định giá tài sản: Nguyễn Thị H không phải
hoàn trả Lcho chị Thông Thị L 14.000.000đ(Mười bốn triệu) đồng tiền lphí
chi phí thẩm định và định giá tài sản.
-Về án phí: Nguyễn Thị H phải nộp 7.935.700(Bảy triệu chín trăm ba
mươi lăm nghìn bảy trăm) đồng tiền án phí dân sự thẩm.Hoàn trả lại tiền tạm
ứng án phí cho chị Thông Thị L đã nộp 4.125.000(Bốn triệu một trăm hai mươi
lăm nghìn) đồng theo biên Li thu tiền tạm ứng án phí số 0029329 ngày
04/12/2019 của Chi cục thi hánh án dân sự huyện Bắc Bình.
-Quyền kháng cáo:Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn mặt tại phiên
tòa quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn
vắng mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản
án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự Thẩm phán–Chủ tọa phiên tòa
- VKS Bắc Bình
- THA Bắc Bình
- Lưu hồ sơ VA
Lê Thị Thanh Thảo
7
Tải về
Bản án số 01/2021/DS-ST Bản án số 01/2021/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất