Bản án số 01/2020/HNGĐ-PT ngày 20/01/2020 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp nuôi con

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 01/2020/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 01/2020/HNGĐ-PT ngày 20/01/2020 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp nuôi con
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 01/2020/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/01/2020
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Phan Thị V khởi kiện xin ly hôn với ông Nguyễn Văn D và tranh chấp về nuôi con chung.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 01/2020/HNGĐ-PT
Ngày: 20/01/2020
V/v: Tranh chấp về nuôi con
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Công Bình
Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Văn Bằng
2. Ông Trần Duy Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Vấn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Ông Ngụ Văn Minh -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 20 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ số 52/2019/TLPT-HNGĐ,
ngày 20/12/2019, về việc Tranh chấp về nuôi con”. Do Bản án n nhân gia
đình thẩm số 48/2019/HNGĐ-ST ngày 02/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện
Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2019/QĐXX-PT ngày 30/12/2019,
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị V - sinh năm 1982.
Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D - sinh năm 1973.
Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
3. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn D, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
V u cầu khi kiện theo đơn khởi kin và theo trình y của nguyên đơn bà
Phan Th V có ni dung như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Phan Thị V và ông Nguyn Văn D v chng có đăng
ký kết hôn vào ny 02/11/2009 tại U ban nhân n xã K, huyn E, tỉnh Đắk Lắk. Quá
trình chung sng vchng hnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thun, nguyên
nn là do v chng không có sự tin ng nhau, bất đồng v quan đim sống,nh tình
2
kng hp nên thưng xuyên xảy ra i , vchồng đã sng ly thân nhau từ tháng
5/2019 cho đến nay. Bà V xác định hiện nay mâu thun đã rt trm trọng, cuc sống
chung không có hạnh phúc, nh cảm vợ chng không thhàn gn được và không th tiếp
tục chung sng với nhau đưc na, nên đề ngh Tòa án gii quyết cho bà đưc ly hôn vi
ông Nguyn Văn D.
Về con chung: Quá trình chung sng gia ông D và bà V có 01 con chung là cháu
Nguyn Th T, sinh ngày 28/6/2011, hin nay con chung đang ở với bà V. Nguyn vọng
của V xin đưc nuôing, cm sóc con chung đến khi tng tnh đủ 18 tui
kng yêu cu ông D phải cp dưng nuôi con.
Vtài sn chung: Bà V không yêu cầu xem xét, giải quyết.
Quá trình tham gia tố tụng tại phiên tòa, bđơn ông Nguyễn Văn D
trình bày có nội dung như sau:
Ông Nguyn Văn D xác đnh vquan h hôn nn và con chung ca hai vợ chồng
n V trình bày là đúng. Tuy nhiên theo ông D xác đnh thì mc vchng có mâu
thun nhưng không có gì lớn c, ch yếu v vn đ v kinh tế ca gia đình nên ông
kng đng ý ly n với Phan ThV.
Vcon chung: Tng hp Tòa án gii quyết cho vợ chồng ly n thì ông D
nguyn vọng xin đưc ning con chung là cháu Nguyn Th T, sinh ngày
28/6/2011 đến khi trưng thành đủ 18 tuổi không yêu cu bà V cp dưng ni con
chung.
Vtài sn chung n chung: Ông D không yêu cu xem xét, giải quyết.
Tại Bản án Hôn nhân gia đình thẩm số: 48/2019/HNGĐ-ST ngày
02/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 144, khoản
4 Điều147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều
53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Điều 84 Luật Hôn nhân gia
đình; điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH12 ngày
30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị V.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyn Th T, sinh ny 28/6/2011 cho chị Phan
Thị V trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cho đến khi đủ tuổi
18 tuổi.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Phan Thị V anh Nguyễn Văn D
không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Anh Nguyễn Văn D có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
chung mà không ai được cản trở.
3
4. Về tài sản chung các khoản n: Chị Phan Thị V anh Nguyễn Văn D
không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ngoài ra bản án thẩm còn quyết định về án phí tuyên quyền kháng cáo
của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xthẩm, ngày 10/10/2019 b đơn ông Nguyễn Văn D đơn
kháng cáo một phần bản án thẩm, với nội dung: Kháng cáo về phần nuôi con
chung đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho ông được quyền nuôi
dưỡng, giáo dục cháu Nguyn Th T, sinh ngày 28/6/2011 đến tuổi trưởng thành,
V người chủ động xin ly hôn V không nhân cách đạo đức, nên
không thể giao con cho bà V nuôi được.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Phan Thị V vẫn giữ nguyên nội
dung yêu cầu khởi kiện; bị đơn ông Nguyễn Văn D vẫn giữ nguyên nội dung đơn
kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa trình bày ý
kiến xác định: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cũng như tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử các đương sđã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật
tố tụng dân sự; về nội dung: Giữa Phan Thị V ông Nguyễn Văn D 01 con
chung cháu Nguyn Thị T, sinh ny 28/6/2011, con chung đang còn nh con
gái nên cn sự cm sóc ca mẹ, đng thời hiện nay cháu T đang đưc bà V nuôi dưng
và phát trin nh thưng v các mt. Do đó bản án thẩm giao con chung cho
Phan Thị V nuôi ỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành là phù hợp với quy định
của pháp luật, nên kháng cáo của ông Nguyễn Văn D là không có cơ sở chấp nhận.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 308
Bộ luật tố tụng tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn D,
giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần con chung. Các quyết định khác của bản án sơ
thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn
kháng cáo, kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết
quả tranh tụng tại phiên toà, trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu,
chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét
xử nhận định như sau:
[1] Đối với yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn D, Hội đồng xét xử xét
thấy: Giữa Phan Thị V và ông Nguyễn Văn D vợ chồng, đăng ký kết n
vào ngày 02/11/2009 tại U ban nn dân xã K, huyn E, tnh Đk Lắk. Quá trình chung
sống ông D và bà V có vi nhau một con chung cu Nguyn ThT, sinh ny
28/6/2011. Bà Phan ThV và ông Nguyn Văn D đu có nguyn vng nuôi con chung,
c hai ni đu có công việc, thu nhập n định đều đđiu kin nuôi con chung. Tuy
nhiên, nguyn vng ca con chung là cháu T xin đưc vi bà V, vì bà V chăm sóc cho
cu tt hơn và k từ khi ông D và V sống ly thân (tháng 5/2019) cho đến nay, thì
cu T vi m, được V chăm sóc và nuôi dưng n đnh, đy đ về mi mt, đng
4
thời cu T là con i và hin nay đang còn nhỏ, nên cần s chăm sóc ca ni m. Do
đó, để đm bảo con chung phát triển tốt cả v thể cht lnm sinh lý, thì việc giao cháu
T cho bà Phan ThV nuôi ng, cm sóc là p hp. Vic ông D cho rng V là
ni không nn cách và đo đc nên không đủ điu kin nuôi con, nhưng ông D
kng cung cp đưc chng c chứng minh cho li tnh bày của mình. Như vậy, bản
án thẩm đã giao con chung cháu Nguyn ThT, sinh ngày 28/6/2011 cho bà
Phan Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, đã xem xét, n nhắc về đã xem
xét, cân nhắc về nguyện vọng của con chung, hoàn cảnh thực tế điều kiện kinh
tế của các bên, nhằm để đảm bảo được quyền lợi, sự phát triển về mọi mặt của con
chung phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, việc ông Nguyễn Văn D
kháng cáo yêu cầu giao con chung cho ông D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến
tuổi thành niên, không căn cứ chấp nhận, cần giữ nguyên bản án thẩm
về phần con chung là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Phan Thị V không yêu cầu cấp dưỡng
nuôi con không kháng cáo vphần này, nên Hội đồng xét xử không đề cập
giải quyết.
[3] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn
Văn D phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị,
nên Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời
hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng: Điều 81, Điều 82 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều
29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ
phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn D; giữ nguyên Bản
án thẩm số: 48/2019/HNGĐ-ST ngày 02/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện
Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk về phần nuôi con chung.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị V.
1. Về con chung: Giao con chung cháu Nguyn Thị T, sinh ngày 28/6/2011
cho Phan ThV trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến
khi con chung đủ tuổi thành niên (tròn 18 tuổi).
Ông Nguyễn Văn D quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung
mà không ai được cản trở.
2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Phan Thị V không yêu cầu nên Hội
đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
5
3. Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn D phải chịu 300.000 đồng án phí
dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ông
D đã nộp theo biên lai thu số AA/2019/0001120 ngày 10/10/2019 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
4. c quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND tối cao (Vụ II); THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND huyện Ea H’Leo;
- Chi cục THADS huyện E; (Đã ký)
- Đương sự;
- Lưu.
Trương Công Bình
Tải về
Bản án số 01/2020/HNGĐ-PT Bản án số 01/2020/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất