Bản án số Số/2024/DS-PT ngày 13/06/2024 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số Số/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số Số/2024/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án Số/2024/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số Số/2024/DS-PT ngày 13/06/2024 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm... |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Quảng Ngãi |
| Số hiệu: | Số/2024/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 13/06/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Sửa bản án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 33/2024/DS-PT
Ngày: 13-6-2024
V/v Tranh chấp đòi lại tài
sản là quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Huỳnh Thị Hồng Hoa
Ông Lê Quang Toại
Bà Trần Thị Túc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Như – Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Bà Nguyễn Thị Kim
Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh
Quảng Ngãi xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 22/2024/TLPT-DS
ngày 15 tháng 3 năm 2024, về việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng
đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2023
của Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 58/2024/QĐ-PT ngày
19/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2024/DS-PT ngày 03/5/2024 và Thông
báo về việc chuyển ngày xét xử số 296/TB-TA ngày 20/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Bà Lử Thị H - sinh năm 1945; cư trú tại hẻm S đường Q, tổ F, phường C,
thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
2. Ông Lữ Phương T - sinh năm 1964; cư trú tại số nhà E quốc lộ B, thôn P,
xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
3. Ông Lữ Thành D - sinh năm 1964 cư trú tại số A đường L, tổ dân phố số B,
thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
2
4. Ông Lữ Đình K - sinh năm 1970; cư trú tại xóm B, thôn M, xã T, huyện S,
tỉnh Quảng Ngãi.
5. Bà Lữ Thị T1 - sinh năm 1973; cư trú tại xóm D, thôn M, xã T, huyện S,
tỉnh Quảng Ngãi.
* Người đại diện theo ủy quyền của bà Lử Thị H, ông Lữ Phương T, ông Lữ
Thành D, ông Lữ Đình K, bà Lữ Thị T1: Ông Lữ Thắng B - sinh năm 1956; cư trú
tại tổ F, phường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, (theo văn bản ủy quyền các ngày
15/4/2024 và 22/4/2024).(
- Bị đơn: Ông Lê Anh X - sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị L - sinh năm
1958; cùng cư trú tại xóm B, thôn M, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
* Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông Lê Anh X: Ông Trần Việt N -
Trợ giúp viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
1. Ông Lữ Hòa S - sinh năm 1950; cư trú tại xóm F, thôn T, xã T, huyện S,
tỉnh Quảng Ngãi.
* Người đại diện theo ủy quyền của ông Lữ Hòa S: Ông Lữ Thắng B - sinh
năm 1956; cư trú tại tổ F, phường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, (theo văn bản
ủy quyền ngày 15/4/2024).
2. Ông Lữ Thắng B - sinh năm 1956; cư trú tại tổ F, phường Q, thành phố Q,
tỉnh Quảng Ngãi.
* Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông Lữ Thắng B: Ông Trịnh Văn
H1, Trợ giúp viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q.
3. Chị Lê Thị Anh V - sinh năm 1982;
4. Chị Lê Thị Ánh D1 - sinh năm 1984;
5. Anh Lê Quốc B1 - sinh năm 1987;
6. Anh Lê Quốc L1 - sinh năm 1989;
7. Chị Lê Thị Minh T2 - sinh năm 1994;
Cùng cư trú tại xóm B, thôn M, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
8. Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; địa chỉ: Thôn M, xã T,
huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
* Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị Mỹ H2 – Chức vụ: Chủ tịch Ủy
ban nhân dân xã T.
9. Hợp tác xã D2; địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
* Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Văn N1 – Chức vụ: Giám đốc.
- Người kháng cáo: Bị đơn là bà ông Lê Anh X và bà Nguyễn Thị L.
Ông Lữ Thắng B2, ông Trịnh Văn H1, ông Lê Anh X, bà Nguyễn Thị L, ông Trần
Việt N có mặt; các đương sự còn lại vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/5/2020, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và
tại phiên tòa nguyên đơn là bà Lử Thị H, ông Lữ Phương T, ông Lữ Thành D, ông
Lữ Đình K và bà Lữ Thị T1 do ông Lữ T3 B2 là người đại diện theo ủy quyền trình
bày:
Nguyên thửa đất số 293, tờ bản đồ số 8, diện tích 1.200m
2
, xã T (viết tắt là
thửa 293), nay là thửa 396, diện tích 1.066m
2
, tờ bản đồ số 12, xã T (viết tắt là thửa
396) là của ông, bà để lại cho ông Lữ Đình Q. Ông Lữ Đình Q sử dụng và làm nhà
ở trên thửa đất này từ năm 1975.
Ông Lữ Đình Q đã đăng ký kê khai theo Chỉ thị 299/TTg; theo sổ Mục kê
ruộng đất lập ngày 13/01/1986 đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện S (viết tắt
là UBND huyện S) phê duyệt ngày 30/4/1986 tại trang 108, dòng thứ 18, thửa đất
số 293, tờ bản đồ số 8, diện tích 1.200m
2
, loại đất T, xã T do ông Lữ Đình Q đứng
tên sử dụng (bị gạch ghi lại ông Lê Anh X đứng tên sử dụng 200m
2
, loại đất T, cột
ghi chú ghi: Diện tích 200m
2
theo đơn ĐKQSDĐ huyện ký ngày 26/8/1992). Theo
sổ Đăng ký ruộng đất (mẫu 5b) lập ngày 13/01/1986, được UBND huyện phê duyệt
(không ghi ngày tháng năm) thì thửa 293 do ông Lữ Đình Q đứng tên quyền sử
dụng đất (bị gạch ghi lại ông Lê Anh X đứng tên sử dụng 200m
2
, loại đất T, cột ghi
chú ghi: Diện tích 200m
2
theo đơn ĐKQSDĐ huyện ký ngày 26/8/1992 do Phó Chủ
tịch Nguyễn Đức Lê k) tại trang 85, dòng thứ 05.
Cũng trong năm 1986 trong khi gia đình ông Q đang quản lý, sử dụng thửa
đất thì Hợp tác xã N2 (viết tắt là HTX N2) và Ủy ban nhân dân xã T (viết tắt là
UBND xã T) ký đơn xác nhận đồng ý cấp cho ông Lê Anh X 500m
2
, trên thửa đất
số 293, tờ bản đồ số 8,
xã T để ông X làm nhà. Ông Lữ Đình Q thấy việc làm của
HTX N2 và UBND xã T trái pháp luật nên đã khiếu nại từ năm 1986, đã qua nhiều
cấp của chính quyền giải quyết nhưng chưa giải quyết dứt điểm và kéo dài đến nay.
Để che giấu việc giao đất cho ông X không hợp pháp thì cán bộ đã sửa chữa
trong sổ mục kê ruộng đất và sửa chữa trong sổ đăng ký ruộng đất (mẫu 5b).
Trong thời gian giải quyết tranh chấp ông X có làm chuồng bò, chuồng heo,
tường rào, cổng ngõ, nhà chứa lúa, mái hiên, giếng nước, bi chứa nước và có trồng
cây trên đất.
Như vậy, thửa 293 nay là thửa 396 do ông Lữ Đình Q đứng tên trong sổ
Đăng ký ruộng đất (mẫu 5b) lập ngày 13/01/1986. Nay chúng tôi đồng nguyên đơn
là con đẻ của ông Lữ Đình Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chúng tôi như
sau: Buộc ông Lê Anh X và gia đình ông X gồm bà Nguyễn Thị L (vợ ông X) và
chị Lê Thị Anh V, chị Lê Thị Ánh D1, anh Lê Quốc B1, anh Lê Quốc L1, chị Lê
Thị Minh T2 là các con của ông X phải tháo dỡ dọn chuồng bò, chuồng heo, tường
rào, cổng ngõ, nhà chứa lúa, mái hiên, giếng nước, bi chứa nước, thu hoạch hoa
màu, cây trồng trên đất để trả lại thửa 293 nay là thửa 396 cho chúng tôi. Diện tích
đo đạc thực tế là 1.116,1m
2
.
4
Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn ông Lê Anh X và bà
Nguyễn Thị L trình bày:
Năm 1986, sau trận lũ lịch sử nhà của gia đình ông, bà bị lũ cuốn trôi nên ông
X đã làm đơn xin đất làm nhà ở, được UBND xã T và HTX N2 xét cấp cho gia đình
ông 500m
2
đất ở tại xóm B, thôn M, xã T, mảnh vườn trước đó được HTX giao cho
đội 4 làm nhà họp của đội nhưng bị lũ cuốn trôi, không nhà cửa thuộc thửa 293 nay
là thửa 396, đất này trước đây là đất vườn thừa của ông Lữ Đình Q người cùng
xóm. Thực hiện Chỉ thị 299/TTg đã được HTX thu hồi và quản lý. Sau khi được
cấp đất ông đã làm nhà ở và đất còn lại ông nhận đất rau màu được HTX giao
khoán, đến năm 1992 ông phá nhà cũ xây dựng lại nhà kiên cố hơn thì bị gia đình
ông Lữ Đình Q ra can ngăn và không cho xây dựng, đã được UBND xã T, UBND
huyện S giải quyết rất nhiều lần và gia đình ông tạm thời dựng lại nhà cũ để ở. Nay
nhà bị sập ông thu dọn và chất vào một nơi. Hiện nay trên mảnh đất nói trên ông
đang canh tác làm rau màu, có chuồng bò, chuồng heo, nhà chứa lúa, mái hiên,
giếng nước, tường rào, cổng ngõ và một số cây trồng. Năm 2003, thực hiện Nghị
định 64/CP ông làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất được UBND huyện S cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) trong đó 200m
2
đất ở,
500m
2
đất vườn và từ đó đến nay vẫn bị gia đình ông Q nay đã qua đời giao lại cho
ông Lữ T3 B2 đứng đơn kiện đã được Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh và Tòa án
nhân dân tỉnh Quảng Ngãi giải quyết, bản án ngày 25/01/2019 đã có hiệu lực pháp
luật. Đến giờ ông vẫn bị gia đình ông Lữ Thắng B khởi kiện buộc ông giao đất và
tháo dỡ tài sản trên đất để giao lại đất cho gia đình ông B.
Nay ông, bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lữ Thắng B và các
anh, chị em của ông B, ông không đồng ý trả lại thửa 396 cho các con của ông Q và
yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử công minh để giữ đúng kỷ cương pháp luật của
nhà nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Theo đơn yêu cầu độc lập, biên bản hòa giải và tại phiên tòa người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lữ Hòa S và ông Lữ Thắng B, do ông Lữ Thắng B đại
diện trình bày: Ông thống nhất như yêu cầu khởi kiện của các đồng nguyên đơn yêu
cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Anh X và gia đình ông X gồm bà Nguyễn Thị L
(vợ ông X), chị Lê Thị Anh V, chị Lê Thị Ánh D1, anh Lê Quốc B1, anh Lê Quốc
L1, chị Lê Thị Minh T2 là các con của ông X phải tháo dỡ dọn chuồng bò, chuồng
heo, tường rào, cổng ngõ, nhà chứa lúa, mái hiên, giếng nước, bi chứa nước, thu
hoạch hoa màu trồng trên đất và trả lại thửa đất số 293 nay là thửa 396 cho gia đình
ông. Diện tích đo đạc thực tế là 1.116,1m
2
.
Tại bản tự khai đề ngày 04/8/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là
chị Lê Thị Anh V, chị Lê Thị Ánh D1, anh Lê Quốc B1, anh Lê Quốc L1, chị Lê Thị
Minh T2 trình bày: Các anh, chị là con của ông Lê Anh X và bà Nguyễn Thị L. Đối
với yêu cầu của bà Lử Thị H cùng các em của bà đã ghi trong đơn yêu cầu buộc hộ
gia đình ông Lê Anh X, bà Nguyễn Thị L phải dỡ dọn chuồng bò, nhà ở tạm và hoa
màu trên đất để trả lại thửa đất 293 thì các anh, chị không đồng ý, vì nếu trả lại đất
5
cha mẹ cùng gia đình anh, chị biết sống vào đâu và nay cha mẹ anh, chị tuổi cao sức
yếu dựa vào đâu để ở trong lúc tuổi đã xế chiều, mảnh đất này gia đình anh, chị đã ở
37 năm qua và ông Lữ Đình Q, bà Phạm Thị T4 đã chết. Hiện nay các con của ông
Q, bà T4 đang sống tại thửa đất số 117 (nhưng không đăng ký quyền sử dụng đất
mà lại yêu cầu trả lại thửa đất 293 đã được Nhà nước thu hồi).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã T vắng mặt tại
phiên tòa và không có văn bản trình bày ý kiến.
* Tại bản trình bày đề ngày 01/8/2023 và biên bản làm việc ngày 08/9/2023,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là HTX D2 do người đại diện theo pháp luật
trình bày: Theo tài liệu lưu trữ tại HTX thì không có tài liệu nào liên quan đến thửa
293 nên không có cơ sở để xác định thửa 293 có được đưa vào HTX hay không và
không có tài liệu nào thể hiện HTX giao diện tích đất còn lại của thửa 293 cho ông
Lê Anh X sản xuất hoa màu.
* Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Lê Anh
X, bà Nguyễn Thị L:
Nguồn gốc thửa 396 (trước đây là thửa 293) là đất vườn thừa của ông Lữ
Đình Q sử dụng từ năm 1975, đến tháng 5/1985 thì HTX N2 và UBND xã T đã thu
hồi và sử dụng làm trại họp đội. Tháng 12/1986, ông X làm đơn xin đất vườn để
làm nhà ở, được UBND xã T và HTX N2 xét cấp cho vợ chồng ông X, bà L 500m
2
.
Sau khi được cấp đất vào năm 1986 thì gia đình ông X làm nhà ở, xây dựng chuồng
bò, chuồng heo, đào giếng và sản xuất trên diện tích đất đã xin. Theo hồ sơ địa
chính thực hiện Nghị định 64/CP của Chính phủ thửa đất tranh chấp do ông Lê Anh
X đứng tên.
Ngày 29/12/2003, UBND huyện S cấp GCNQSDD số
02555/QSDĐ/1096/QĐ-UB cho hộ ông Lê Anh X đối với thửa đất 396 diện tích
700m
2
. Ngày 19/11/2014, UBND huyện S đã ban hành Quyết định thu hồi
GCNQSDĐ nêu trên với lý do cấp không đúng diện tích.
Như vậy, từ tháng 12/1986 hộ ông Lê Anh X đã quản lý, sử dụng diện tích
đất được giao để làm nhà ở, xây dựng làm chuồng heo, giếng đóng và canh tác
trồng hoa màu trên diện tích đất được giao, kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và
thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật đất đai năm 1993, khoản 2 Điều 10
Luật đất đai năm 2003, khoản 5 Điều 26 Luật đất đai năm 2013 và tại điểm a Tiểu
mục 2.4 Mục 2 Phần 2 Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bác toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan là ông Lữ Thắng B:
6
Nguồn gốc thửa đất 293 nay là thửa 396 là của ông Lữ Đình Q (cha đẻ ông
Lữ Thắng B). Gia đình ông Q đã làm nhà ở trên thửa đất 293 từ năm 1975 đến
tháng 5/1985.
Ông Lữ Đình Q có tên trong sổ Mục kê ruộng đất và trong sổ Đăng ký ruộng
đất lập ngày 13/01/1986, được UBND huyện S phê duyệt (không ghi ngày tháng
năm).
Năm 1986, ông Lê Anh X có đơn xin đất để làm nhà ở, được HTX N2 và
UBND xã T ký xác nhận, đồng ý cấp 500m
2
đất thuộc thửa 293. Sau khi được HTX
N2 và UBND xã T giao đất, ông X tiến hành làm nhà thì gia đình ông Q không
đồng ý và ngăn cản không cho làm.
Sau đó ông Lữ Đình Q không đồng ý và khiếu nại HTX N2 và UBND xã T.
Vụ việc tranh chấp kéo dài, qua nhiều cơ quan giải quyết cho đến nay vẫn chưa giải
quyết xong.
Căn cứ theo Điều 26 Luật đất đai 1993; Điều 50 Luật đất đai 2003; Điều 100
Luật đất đai 2013; Điều 166 Bộ luật dân sự 2015 thì thửa 293 (nay là thửa 396) là
của ông Lữ Đình Q, người đứng tên đăng ký ruộng đất (mẫu 5b) lập ngày
13/01/1986. Do đó, yêu cầu khởi kiện độc lập của ông Lữ Thắng B và yêu cầu khởi
kiện của những người đứng về phía ông B buộc ông Lê Anh X, bà Nguyễn Thị L và
các con của ông X phải tháo dỡ, dọn chuồng bò và các tài sản trên đất, thu hoạch
hoa màu trồng trên đất trả lại quyền sử dụng đất thửa 293, nay là thửa 396 cho bà
Lử Thị H, ông Lữ Hòa S, ông Lữ Thắng B, ông Lữ Phương T, ông Lữ Thành D,
ông Lữ Đình K, bà Lữ Thị T1 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
* Bản án số 07/2023/DS-ST ngày 06/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn
Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi đã xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lử Thị H, ông Lữ Phương T, ông Lữ Đình K,
ông Lữ Thành D, bà Lữ Thị T1, ông Lữ Hòa S và ông Lữ Thắng B.
- Buộc bị đơn ông Lê Anh X, bà Nguyễn Thị L cùng người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan phía bị đơn chị Lê Thị Anh V, chị Lê Thị Ánh D1, anh Lê Quốc
B1, anh Lê Quốc L1, chị Lê Thị Minh T2 là các con của ông X có trách nhiệm tháo
dỡ chuồng bò khung bê tông, mái lợp tôn, nền bê tông, diện tích xây dựng 15,84m
2
;
chuồng heo nền bê tông, tường xây gạch, mái lợp tôn diện tích xây dựng 15m
2
; nhà
tạm chứa lúa khung gỗ, móng đá, tường xây gạch, mái lợp tôn, tường không trát,
nền bê tông, diện tích xây dựng 11m
2
; tường rào cột bê tông cốt thép lắp ghép,
tường lưới B40, diện tích 30m
2
và 02 cổng ngõ; mái hiên lợp tôn, cột bê tông xà gồ
gỗ, diện tích 8,16m
2
; 01 giếng đóng; 01 bể nước bằng bê tông, có cốt thép trên đất
để trả cho bà Lử Thị H, ông Lữ Phương T, ông Lữ Đình K, ông Lữ Thành D, bà Lữ
Thị T1, ông Lữ Hòa S và ông Lữ Thắng B thửa đất số 293, diện tích 1.200 m
2
, tờ
bản đồ số 8, xã T, theo hồ sơ địa chính thực hiện Nghị định 64/CP của Chính Phủ là
7
thửa 396, diện tích 1.066m
2
, tờ bản đồ số 12 tọa lạc tại xã T, huyện S, tỉnh Quảng
Ngãi. Diện tích đo đạc thực tế là 1116,1 m
2
.
Có giới cận phía Đông giáp thửa đất 595, phía Tây giáp đường bê tông, phía
Nam giáp các thửa đất 407, 408, 409, phía Bắc giáp thửa đất 397.
- Bà Lử Thị H, ông Lữ Phương T, ông Lữ Đình K, ông Lữ Thành D, bà Lữ
Thị T1, ông Lữ Hòa S và ông Lữ Thắng B được trọn quyền sở hữu đối với số cây
trồng trên đất gồm: 68 cây chuối, trong đó chuối có buồng 05 cây, chuối chưa cho
buồng 63 cây; 08 cây mít; 49 cây cau, trong đó 04 cây cau cho quả và 45 cây cau
chưa cho quả, 02 cây thầu đâu (sầu đông), 02 cây dừa và diện tích trồng cỏ voi là
300m
2
được trồng trên thửa đất 396, diện tích 1.066m
2
, tờ bản đồ số , xã T, huyện S,
tỉnh Quảng Ngãi, diện tích đo đạc thực tế là 1.116,1 m
2
.
- Bà Lử Thị H, ông Lữ Phương T, ông Lữ Đình K, ông Lữ Thành D, bà Lữ
Thị T1, ông Lữ Hòa S và ông Lữ Thắng B có trách nhiệm thanh toán lại giá trị tiền
cây trồng trên đất cho Lê Anh X, bà Nguyễn Thị L, chị Lê Thị Anh V, chị Lê Thị
Ánh D1, anh Lê Quốc B1, anh Lê Quốc L1, chị Lê Thị Minh T2 số tiền là
13.674.000 đồng (mười ba triệu sáu trăm bảy mươi bốn nghìn).
(có sơ đồ bản vẽ kèm theo là một bộ phận không tách rời của bản án).
Bà Lử Thị H, ông Lữ Phương T, ông Lữ Đình K, ông Lữ Thành D, bà Lữ Thị
T1, ông Lữ Hòa S và ông Lữ Thắng B có nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền để thực hiện việc đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ chậm
thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
* Ngày 19/12/2023 và ngày 04/01/2024, ông Lê Anh X và bà Nguyễn Thị L có đơn
kháng cáo, kháng cáo bổ sung với nội dung: Sửa bản án dân sự sơ thẩm số
07/2023/DS-ST ngày 06/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng
Ngãi; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là các ông, bà Lử Thị H,
Lữ Phương T, Lữ Thành D, Lữ Đình K, Lữ Thị T1 và yêu cầu độc lập của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lữ Hòa S và ông Lữ Thắng B về việc đòi lại tài
sản là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 293, tờ bản đồ số 08, diện tích 1.200m
2
(nay là thửa đất số 396, tờ bản đồ số 12, diện tích 1.066m
2
) xã T, huyện S, tỉnh
Quảng Ngãi.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu ý
kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ
án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn; người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan là ông Lữ Thắng B, ông Lữ Sỹ H3 đã thực hiện đúng, đầy đủ
quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73, 76 của Bộ luật
8
tố tụng dân sự. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lê Thị
Anh V, chị Lê Thị Ánh D1, anh Lê Quốc B1, anh Lê Quốc L1, anh Lê Minh T2,
UBND xã T và HTX D2 không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại
Điều 70, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Lê Anh X và bà Nguyễn Thị L làm
trong thời hạn luật định là hợp lệ theo quy định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật tố
tụng dân sự.
Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và
diễn biến công khai tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, tuyên
không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Anh X và bà Nguyễn Thị L; sửa bản án dân
sự sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 06/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn
Tịnh theo hướng:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, yêu cầu độc lập của ông
Lữ Hòa S và ông Lữ Thắng B.
- Giao cho các nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lữ Hòa S,
Lữ Thắng B được trọn quyền quản lý, sử dụng đối với toàn bộ thửa đất số 396, diện
tích 1.066m
2
, tờ bản đồ số 12, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; diện tích đo đạc thực
tế là 1.116,1m
2
và được quyền sở hữu toàn bộ các vật kiến trúc xây dựng trên đất,
cây trồng trên đất.
- Ghi nhận sự tự nguyện của các nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Lữ Hòa S, Lữ Thắng B về việc thanh toán lại giá trị vật kiến trúc xây dựng
trên đất, cây trồng trên đất cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị
Lê Thị Anh V, chị Lê Thị Ánh D1, anh Lê Quốc B1, anh Lê Quốc L1, anh Lê Minh
T2 theo kết quả định giá tài sản ngày 04/8/2023.
- Tuyên sửa một phần án phí dân sự sơ thẩm, giải quyết án phí dân sự phúc
thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra xem xét và kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát
biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Ngày 06/12/2023, Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh tuyên án vụ án nêu
trên. Ngày 19/12/2023 và ngày 04/01/2024, ông Lê Anh X và bà Nguyễn Thị L có
đơn kháng cáo, kháng cáo bổ sung. Về hình thức, nội dung và thời hạn kháng cáo
phù hợp quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự, nên được chấp nhận.
[1.2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lê Thị Anh
V, chị Lê Thị Ánh D1, anh Lê Quốc B1, anh Lê Quốc L1, anh Lê Minh T2, đại diện
9
HTX D2 và đại diện UBND xã T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn
vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội
đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của ông Lê Anh X và bà Nguyễn Thị L, Hội
đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Các bên đương sự đều thừa nhận nguồn gốc thửa đất số 293, tờ bản đồ số 8,
diện tích 1.200m
2
, xã T (nay là thửa 396, diện tích 1.066m
2
, tờ bản đồ số 12 xã T) là
của ông, bà để lại cho ông Lữ Đình Q quản lý, sử dụng từ trước năm 1975.
Ông Lữ Đình Q là người đăng ký kê khai theo Chỉ thị 299/TTg; theo sổ Mục
kê ruộng đất lập ngày 13/01/1986 đã được Chủ tịch UBND huyện S phê duyệt ngày
30/4/1986 tại trang 108, dòng thứ 18, thửa đất số 293, tờ bản đồ số 8, diện tích
1.200m
2
, loại đất T xã Tịnh Minh do ông Lữ Đình Q đứng tên sử dụng. Theo sổ
Đăng ký ruộng đất (mẫu 5b) lập ngày 13/01/1986, được UBND huyện phê duyệt
(không ghi ngày tháng năm) thì thửa số 293, diện tích 1.200m
2
, tờ bản đồ số 8, xã T
do ông Lữ Đình Q đứng tên quyền sử dụng đất. Như vậy, ông Lữ Đình Q là người
có tên trong sổ đăng ký ruộng đất là một trong các loại giấy tờ được quy định tại
điểm b khoản 1 Điều 50 của Luật đất đai năm 2003 và tại điểm b khoản 1 Điều 100
của Luật đất đai năm 2013 để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[2.2]. Năm 1986, ông Lê Anh X có đơn xin đất để làm nhà ở được HTX N2
(nay là HTX D2) và UBND xã T ký đơn xác nhận, đồng ý cấp cho ông Lê Anh X
500m
2
(trong diện tích 1.200m
2
thuộc thửa 293). Ông X tiến hành làm nhà thì gia
đình ông Lữ Đình Q không đồng ý và có đơn khiếu nại nhưng không được giải
quyết dứt điểm. Từ năm 1992, Chủ tịch UBND huyện S đã thụ lý nhưng không ban
hành quyết định giải quyết khiếu nại mà ban hành quyết định chỉnh lý biến động và
công nhận việc cấp cho ông Lê Anh X 200m
2
đất để xây dựng nhà ở, diện tích còn
lại giao cho Hợp tác xã N2 quản lý, sử dụng nhưng không có quyết định thu hồi
thửa 293 của ông Lữ Đình Q là không phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 12
Luật đất đai năm 1987 và Điều 21 của Luật đất đai năm 1993 “Việc quyết định giao
đất đang có người sử dụng đất cho người khác chỉ được tiến hành sau khi có quyết
định thu hồi đất đó của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” cho nên việc HTX N2,
UBND xã T và UBND huyện S lấy thửa đất 293 cấp cho ông Lê Anh X là không
phù hợp với quy định của pháp luật.
Trong khi UBND huyện S chưa giải quyết xong tranh chấp đất đai giữa ông
Lữ Đình Q và ông Lê Anh X thì vào ngày 15/8/2002 ông Lê Anh X làm đơn xin
đăng ký quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 396, tờ bản đồ số 12, diện tích 700m
2
và được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ số vào sổ 02555/QSDĐ/1096/QĐ-UB
ngày 29/12/2003 cho hộ ông Lê Anh X đối với thửa 396.
[2.3] Theo Công văn số 49/UBND ngày 28/3/2023 (bút lục 390) của UBND
xã T thể hiện: “Qua sao lục, kiểm tra hồ sơ địa chính theo Chỉ thị 299/TTg được
lưu tại xã T thì thấy ông Lữ Đình Q có kê khai 01 (một) thửa đất ở (T), đó là thửa
10
293, diện tích 1.200m
2
, loại đất T, tờ bản đồ số 8 do ông Lữ Đình Q đứng tên kê
khai tại sổ đăng ký ruộng đất mẫu 5b” như vậy tại thời điểm thực hiện Chỉ thị
299/TTg ông Q chỉ đăng ký thửa 293 là phù hợp với quy định tại Quyết định số
201-CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ quy định về đăng ký, thống kê đất
và phù hợp với quy định tại Chỉ thị số 54/CTUB ngày 18/10/1998 của UBND tỉnh
N về cụ thể hóa một số chính sách HTX nông nghiệp.
Theo sổ Mục kê ruộng đất lập ngày 13/01/1986 đã được Chủ tịch UBND
huyện S phê duyệt ngày 30/4/1986: Thửa đất số 293, diện tích 1.200m
2
, loại đất T,
tờ bản đồ số 08, xã T do ông Lữ Đình Q đứng tên sử dụng (bị gạch ghi lại Lê Anh
X đứng tên sử dụng 200m
2
, loại đất T, cột ghi chú ghi: diện tích 200m
2
theo đơn
đăng ký quyền sử dụng đất huyện ký ngày 26/8/1992 do Phó Chủ tịch Nguyễn Đức
Lê k) tại trang 108, dòng thứ 18.
Theo sổ Đăng ký ruộng đất (mẫu 5b) lập ngày 13/01/1986, được UBND
huyện S phê duyệt (không ghi ngày, tháng, năm) thể hiện: Thửa đất số 293, diện
tích 1.200m
2
, loại đất T, tờ bản đồ số 08, xã T do ông Lữ Đình Q đứng tên sử dụng
(bị gạch ghi lại Lê Anh X đứng tên sử dụng 200m
2
, loại đất T, cột ghi chú ghi: diện
tích 200m
2
theo đơn đăng ký quyền sử dụng đất huyện ký ngày 26/8/1992 do Phó
Chủ tịch Nguyễn Đức Lê k) tại trang 85, dòng thứ 05.
Việc gạch tên ông Lữ Đình Q trong sổ Mục kê lập ngày 13/01/1986 và trong
sổ đăng ký ruộng đất mẫu 5b lập ngày 13/01/1986 để ghi lại ông Lê Anh X đứng
tên sử dụng diện tích đất 200m
2
, loại đất T, thuộc thửa đất số 293, tờ bản đồ số 8, xã
T (cột ghi chú ghi: Diện tích 200m
2
theo đơn ĐKQSDĐ huyện ký ngày 26/8/1992)
là không phù hợp.
[2.4] Ông Lê Anh X, bà Nguyễn Thị L cho rằng năm 1986, ông làm đơn xin
đất làm nhà ở và được UBND xã T, HTX N2, xã T cấp cho gia đình ông 500m
2
đất
ở thuộc một phần thửa 293. Thửa đất này trước đây là đất vườn thừa của ông Lữ
Đình Q, tuy nhiên khi thực hiện Chỉ thị 299/TTg HTX N2 đã thu hồi và quản lý.
Khi ông có đơn xin đất làm nhà thì HTX N2 và UBND xã T xem xét cấp cho ông
mảnh đất này để làm nhà ở. Phần diện tích đất còn lại của thửa 293 ông được HTX
giao khoán, ông sử dụng trồng hoa màu.
Tuy nhiên, tại Biên bản làm việc ngày 08/9/2023 (bút lục 476), đại diện HTX
D2 cung cấp: …không có tài liệu liên quan đến thửa đất 293, tờ bản đồ số 8, xã T
vào Hợp tác xã nên không có cơ sở xác định thửa 293 có được đưa vào Hợp tác xã
hay không; không có tài liệu nào tại Hợp tác xã thể hiện Hợp tác xã có giao diện
tích đất còn lại của thửa 293 cho ông Lê Anh X sản xuất hoa màu và tại Công văn
số 49/UBND ngày 28/3/2023 (bút lục 390) của UBND xã T cũng thể hiện: … Qua
sao lục, kiểm tra hồ sơ địa chính theo Chỉ thị 299/TTg được lưu tại xã T thì cho đến
tại thời điểm này không tìm thấy văn bản nào thể hiện một phần thửa đất số 293, tờ
bản đồ số 8, xã T được Hợp tác xã N2 giao cho ông Lê Anh X nên lời trình bày trên
của ông X, bà L là không có cơ sở chấp nhận.
11
[2.5] Ngày 23/3/2017, UBND huyện S đã ban hành Quyết định số 827/QĐ-
UBND về việc thu hồi GCNQSDĐ số 02555/QSDĐ/1096/QĐ-UB ngày 29/12/2003
đã cấp cho hộ ông Lê Anh X tại thửa đất 396, diện tích 700m
2
, tờ bản đồ số 12, xã
T với lý do thu hồi là không đủ điều kiện được cấp, không đồng ý với quyết định
này, ông Lê Anh X đã khởi kiện hành chính yêu cầu hủy Quyết định số 827/QĐ-
UBND ngày 23/3/2017 của Ủy ban nhân dân huyện S. Tại bản án hành chính sơ
thẩm số 01/2019/HC-ST ngày 25/01/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã
tuyên bác yêu cầu khởi kiện của ông X về việc hủy Quyết định số 827/QĐ-UBND
ngày 23/3/2017 của UBND huyện S. Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án trên không bị
kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên bản án đang có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, chính ông X và vợ con ông cũng đồng ý với việc hủy Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đã cấp cho ông vào năm 2003 đối với thửa đất tranh chấp số 396.
[2.6] Tại biên bản làm việc ngày 17/8/2023 (bút lục 484 - 487) UBND huyện
S cung cấp: Thực hiện chủ trương đo đạc, chỉnh lý bản đồ năm 2018 thì đơn vị tiến
hành đo đạc. Khi đó ông Lê Anh X cung cấp bản photo GCNQSDĐ cũ
(GCNQSDĐ số 02555/QSDĐ/1096/QĐ-UB ngày 29/12/2003 đã cấp cho hộ ông Lê
Anh X thửa đất 396, diện tích 700m
2
, tờ bản đồ số 12, xã T đã bị thu hồi) và ông X
trực tiếp chỉ dẫn ranh giới đất ông sử dụng thuộc một phần của thửa 396, phần diện
tích đất còn lại ông X cho rằng thuộc UBND xã T quản lý. Từ những lý do như trên
đơn vị đo đạc đo tách thành 02 thửa gồm: thửa đất số 588, diện tích 500m
2
(viết tắt
là thửa 588) và thửa đất số 591, diện tích 618,5m
2
(viết tắt là thửa 591) cùng tờ bản
đồ số 11, xã T, huyện S mặc dù không có ranh mốc giới. Qua làm việc với UBND
xã T và UBND huyện S đều xác định hộ ông Lê Anh X chưa kê khai, đăng ký và
chưa đủ điều kiện xét duyệt đối với thửa 588. Việc UBND xã T kê khai, đăng ký
đối với thửa 591 là chưa đúng theo Chỉ thị 09/CT-UBND ngày 19/4/2018 của Chủ
tịch UBND tỉnh Q, UBND xã T sẽ chịu trách nhiệm điều chỉnh thửa đấ 591 đã đăng
ký ra khỏi hệ thống hồ sơ Chỉ thị 09. Khi Tòa án giải quyết thửa 591, 588 thuộc
quyền quản lý, sử dụng của đương sự nào thì cơ quan quản lý đất đai sẽ căn cứ vào
bản án để thực hiện. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn cũng xác định hiện nay vẫn
chưa được cơ quan có thẩm quyền nào giao quyền quản lý, sử dụng đối với diện
tích 500m
2
mà bị đơn chỉ dẫn đơn vị đo đạc vào năm 2018.
Nhận thấy, từ năm 1986 đến nay gia đình ông Lữ Đình Q không từ bỏ quyền
sử dụng đối với thửa 293, nay là thửa 396. Từ những phân tích và nhận định trên
HĐXX phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là ông Lê Anh X và bà
Nguyễn Thị L.
[3] Đối với các tài sản, cây trồng trên đất gồm:
[3.1] Đối với tài sản trên đất gồm:
Chuồng bò: khung bê tông, mái lợp tôn, nền bê tông, diện tích xây dựng
15,84m
2
; chuồng heo: nền bê tông, tường xây gạch, mái lợp tôn diện tích xây dựng
15m
2
; tường rào: cột bê tông cốt thép lắp ghép, tường lưới B40, diện tích 30m
2
; mái
hiên: cột bê tông, xà gồ gỗ, mái lợp tôn diện tích 8,16m
2
;
nhà tạm chứa lúa: khung
12
gỗ, móng đá, tường xây gạch, mái lợp tôn, tường không trát, nền bê tông, diện tích
xây dựng 11m
2
; 01 giếng đóng; 01 bể nước bằng bê tông, có cốt thép; 02 cổng ngõ.
Tổng giá trị tài sản trên đất là 38.672.800 đồng.
[3.2] Đối với cây trồng trên đất gồm: 68 cây chuối, trong đó chuối có buồng
05 cây, chuối chưa cho buồng 63 cây; 08 cây mít; 49 cây cau, trong đó 04 cây cau
cho quả và 45 cây cau chưa cho quả; 02 cây thầu đâu (sầu đông); 02 cây dừa; cỏ voi
trồng trên diện tích 300m
2
. Tổng giá trị cây trồng trên đất là 13.674.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Lữ T3 B là người đại diện theo ủy quyền của
các nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lữ Hòa S đồng ý
nhận các tài sản có trên thửa 396 và tự nguyện thanh toán lại toàn bộ giá trị tài sản,
vật kiến trúc và cây trồng trên thửa đất cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đứng về phía bị đơn. Xét thấy, việc tự nguyện thanh toán lại giá trị các loại
tài sản trên là không trái pháp luật, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của
các nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lữ Hòa S và ông
Lữ Thắng B thanh toán toàn bộ giá trị tài sản, cây trồng trên đất cho bị đơn là ông
Lê Anh X và bà Nguyễn Thị L cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê
Thị Anh V, chị Lê Thị Ánh D1, anh Lê Quốc B1, anh Lê Quốc L1, chị Lê Thị Minh
T2 tổng số tiền 52.346.800 đồng theo giá của Hội đồng định giá tài sản ngày
04/8/2023. Bị đơn là ông Lê Anh X và bà Nguyễn Thị L trình bày không đồng ý với
kết quả định giá tài sản theo biên bản định giá tài sản ngày 04/8/2023. Xét thấy, tại
biên bản định giá tài sản ngày 04/8/2023 (bút lục 434 đến bút lục 443) của Hội đồng
định giá tài sản có sự chứng kiến của ông Lê Anh X và bà Nguyễn Thị L. Tại cấp sơ
thẩm, ông X và bà L không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả định giá tài sản của
Hội đồng định giá và tại phiên tòa phúc thẩm ông X, bà L cũng không yêu cầu định
giá lại đối với các tài sản trên.
[4] Về án phí:
[4.1] Án phí dân sự sơ thẩm: Bản án dân sự sơ thẩm tuyên buộc các nguyên
đơn và có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lữ Hòa S, Lữ Thắng B phải chịu án phí dân
sự sơ thẩm với số tiền là 683.700 đồng là không đúng quy định tại Điều 26 Nghị
quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
do đó sửa phần án phí sơ thẩm cho phù hợp với quy định của pháp luật.
- Ông Lê Anh X, bà Nguyễn Thị L là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí
nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Lử Thị H, ông Lữ Phương T, ông Lữ Đình K, ông Lữ Thành D, bà Lữ
Thị T1, ông Lữ Hòa S, ông Lữ Thắng B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả lại cho bà Lử Thị H, ông Lữ Phương T, ông Lữ Đình K, ông Lữ
Thành D, bà Lữ Thị T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tiền tạm ứng
án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số AA/2018/0006152 ngày 03/11/2020
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Tịnh.
13
- Chị Lê Thị Anh V, chị Lê Thị Ánh D1, anh Lê Quốc B1, anh Lê Quốc L1,
chị Lê Thị Minh T2 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[4.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo của ông
Lê Anh X và bà Nguyễn Thị L nên ông X, bà L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí
dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, ông X, bà L là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí.
Căn cứ Điều 12, 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử chấp nhận miễn án phí dân sự phúc
thẩm cho ông X, bà L.
[5] Về chi phí tố tụng khác: Ông Lê Anh X, bà Nguyễn Thị L, chị Lê Thị Anh
V, chị Lê Thị Ánh D1, anh Lê Quốc B1, anh Lê Quốc L1, chị Lê Thị Minh T2 phải
chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản tổng số tiền là
11.000.000 đồng.
[6] Đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lữ Thắng B
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[7] Đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lê Anh X
không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên không được chấp nhận.
[8] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi là có căn cứ,
phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Anh X và bà Nguyễn Thị L; sửa bản
án dân sự sơ thẩm số 07/2023/DS-ST ngày 06/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện
Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
Căn cứ các Điều 147, 148, 157, 158, 165, 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
khoản 2 Điều 105, các Điều 163, 164, 166, 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều
12 Luật đất đai năm 1987; Điều 21 Luật đất đai năm 1993; các Điều 15 và 50 Luật
đất đai năm 2003; các Điều 12, 95, 100, 166 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Lử Thị H, ông Lữ Phương
T, ông Lữ Đình K, ông Lữ Thành D, bà Lữ Thị Tuyết .
Chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông
Lữ Hòa S và ông Lữ Thắng B.
14
1. Buộc bị đơn ông Lê Anh X, bà Nguyễn Thị L và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là chị Lê Thị Anh V, chị Lê Thị Ánh D1, anh Lê Quốc B1, anh Lê
Quốc L1, chị Lê Thị Minh T2 phải trả cho bà Lử Thị H, ông Lữ Phương T, ông Lữ
Đình K, ông Lữ Thành D, bà Lữ Thị T1, ông Lữ Hòa S và ông Lữ T3 Bình quyền sử
dụng đối với thửa đất số 293, diện tích 1.200 m
2
, tờ bản đồ số 8 xã T (nay là thửa số
396, diện tích 1.066m
2
, tờ bản đồ số 12 tọa lạc tại xã T), huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
Diện tích đo đạc thực tế là 1.116,1 m
2
.
Có giới cận: phía Đông giáp thửa đất số 595; phía Tây giáp đường bê tông;
phía Nam giáp các thửa đất số 407, 408, 409; phía Bắc giáp thửa đất số 397 (cùng tờ
bản đồ số 12, xã T, huyện S).
Bà Lử Thị H, ông Lữ Phương T, ông Lữ Đình K, ông Lữ Thành D, bà Lữ Thị
T1, ông Lữ Hòa S và ông Lữ Thắng B có quyền, nghĩa vụ liên hệ với các cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất theo
quy định của pháp luật.
2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lử Thị H, ông Lữ Phương T, ông Lữ Đình
K, ông Lữ Thành D, bà Lữ Thị T1, ông Lữ Hòa S, ông Lữ Thắng B thanh toán lại
toàn bộ giá trị tài sản và cây trồng trên đất cho ông Lê Anh X, bà Nguyễn Thị L, chị
Lê Thị Anh V, chị Lê Thị Ánh D1, anh Lê Quốc B1, anh Lê Quốc L1, chị Lê Thị
Minh T2 số tiền là 52.346.800 đồng (Năm mươi hai triệu, ba trăm bốn mươi sáu
nghìn, tám trăm đồng).
Bà Lử Thị H, ông Lữ Phương T, ông Lữ Đình K, ông Lữ Thành D, bà Lữ Thị
T1, ông Lữ Hòa S và ông Lữ Thắng B được quyền sở hữu đối với các tài sản trên
đất gồm chuồng bò khung bê tông, mái lợp tôn, nền bê tông, diện tích xây dựng
15,84m
2
; chuồng heo nền bê tông, tường xây gạch, mái lợp tôn diện tích xây dựng
15m
2
; tường rào cột bê tông cốt thép lắp ghép, tường lưới B40, diện tích 30m
2
và 02
cổng ngõ; mái hiên mái lợp tôn, cột bê tông xà gồ gỗ, diện tích 08,16m
2
;
nhà tạm
chứa lúa khung gỗ, móng đá, tường xây gạch, mái lợp tôn, tường không trát, nền bê
tông, diện tích xây dựng 11m
2
; 01 giếng đóng; 01 bể nước bằng bê tông, có cốt thép
và các cây trồng trên đất gồm: 68 cây chuối, trong đó chuối có buồng 05 cây, chuối
chưa cho buồng 63 cây; 08 cây mít; 49 cây cau, trong đó 04 cây cau cho quả và 45
cây cau chưa cho quả, 02 cây thầu đâu (sầu đông), 02 cây dừa và diện tích trồng cỏ
voi là 300m
2
được trồng trên thửa đất số 396, diện tích 1.066m
2
, tờ bản đồ số 12 xã
T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Diện tích đo đạc thực tế là 1116,1 m
2
.
(Có sơ đồ, bản vẽ kèm theo là một bộ phận không tách rời của bản án).
3. Về chi phí tố tụng: Ông Lê Anh X, bà Nguyễn Thị L, chị Lê Thị Anh V,
chị Lê Thị Ánh D1, anh Lê Quốc B1, anh Lê Quốc L1, chị Lê Thị Minh T2 phải
chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản tổng số tiền là
11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng).
Bà Lử Thị H, ông Lữ Đình K, ông Lữ Phương T, ông Lữ Thành D, bà Lữ Thị
T1 đã tạm nộp và chi phí xong nên ông Lê Anh X, bà Nguyễn Thị L, chị Lê Thị Anh
15
V, chị Lê Thị Ánh D1, anh Lê Quốc B1, anh Lê Quốc L1, chị Lê Thị Minh T2 có
nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Bà Lử Thị H, ông Lữ Đình K, ông Lữ Phương T, ông
Lữ Thành D, bà Lữ Thị T1 số tiền là 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng).
4. Về án phí:
4.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Lê Anh X, bà Nguyễn Thị L được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Lử Thị H, ông Lữ Đình K, ông Lữ Phương T, ông Lữ Thành D, bà Lữ
Thị T1, ông Lữ Hòa S và ông Lữ Thắng B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho bà Lử Thị H, ông Lữ Phương T, ông Lữ Đình K, ông Lữ
Thành D, bà Lữ Thị T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tiền tạm ứng
án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số AA/2018/0006152 ngày 03/11/2020
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Tịnh.
- Chị Lê Thị Anh V, chị Lê Thị Ánh D1, anh Lê Quốc B1, anh Lê Quốc L1,
chị Lê Thị Minh T2 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Anh X và bà Nguyễn Thị L được
miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi
hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự
năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- TAND huyện Sơn Tịnh;
- Chi cục THADS huyện Sơn Tịnh;
- Đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Huỳnh Thị Hồng Hoa
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng