Bản án số 96/2026/DS-PT ngày 16/04/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 96/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 96/2026/DS-PT ngày 16/04/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 96/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: anh T đã có đơn khởi kiện đối với bà Đinh Thị T1 về việc yêu cầu phân chia tài sản chung của hộ gia đình và phân chia di sản thừa kế của bố anh để lại;đề nghị Toà án tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Đinh Thị T1 và anh Ngô Quang H1 là vô hiệu, đồng thời yêu cầu Huỷ GCNQSDĐ số DM 032328 cấp ngày 13/7/2023 đứng tên anh H1 đối với thửa đất nói trên.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 96/2026/DS - PT
Ngày 16/4/2026
“V/v Tranh chấp yêu cầu tuyên bố
Hợp đồng tặng cho tài sản vô hiệu,
chia tài sản chung của hộ gia đình
và yêu cầu chia di sản thừa kế
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Nguyễn Xuân Trọng;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền và ông Nguyễn Duy Sơn;
- Thư phiên t: Nguyễn Th- Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Lê Thị Huệ - Kiểm
sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2026, tại trụ sToà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét
xử phúc thẩm ng khai vụ án dân sự phúc thẩm thsố: 308/2025/TLPT- DS
ngày 18/12/2025 về việc “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho tài
sản vô hiệu, chia tài sản chung của hộ gia đình và yêu cầu chia di sản thừa kế.
Do bản án Dân sự thẩm số 67/2025/DS-ST ngày 10 tháng 11 năm 2025 của
Toà án nhân dân khu vực 10 - Phú Thọ kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử phúc thẩm số 73/2026/QĐ-PT ngày 03 tháng 3 năm 2025 giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Ngô Văn T, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn D, T,
tỉnh Phú Thọ, “Có mặt”.
Người đại diện theo uỷ quyền của anh T: Ông Nguyễn Khánh H, sinh năm
1983; địa chỉ: Số nhà B, Đường K, xã V, tỉnh Phú Thọ, “Có mặt”.
- Bị đơn: Đinh Thị T1 sinh năm 1947; địa chỉ: Thôn D, T, tỉnh Phú
Thọ, “Có mặt”.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phùng Thị Thanh N, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn D, xã T, tỉnh Phú
2
Thọ, “Có mặt”.
2. Anh Ngô Quang H1, sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn D, T, tỉnh Phú
Thọ, “Có mặt”.
3. Chị Ngô Thị T2, sinh năm 2006; địa chỉ: Thôn D, T, tỉnh Phú Thọ,
“Có mặt”.
4. Chị Ngô Thị K1, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn C, T, tỉnh Phú Thọ,
“Vắng mặt”.
5. Anh Tuấn K, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn C, xã T, tỉnh Phú Thọ,
“Vắng mặt”.
- Người kháng cáo: Đinh Thị T1, Phùng Thị Thanh N, anh Ngô
Quang H1, chị Ngô Thị T2 và anh Vũ Tuấn K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 12 năm 2024 những lời khai
tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo uỷ
quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Khánh H trình bày:
Anh Ngô Văn T cháu nội của Đinh Thị T1, gia đình anh NVăn T
01 thửa đất thổ số 554, tờ bản đồ số 11 diện tích 192m
2
địa chỉ: Tổ dân
phố V, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay là thôn D, xã T, tỉnh Phú Thọ),
đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ) số M
055193, vào sổ cấp giấy số 0589 do UBND huyện V cấp ngày 20/05/2000, đứng
tên chủ sử dụng hộ Đinh Thị T1. Tại thời điểm ngày 20/05/2000 gia đình
T1 có 05 thành viên là bà Đinh Thị T1, ông Ngô Quang T3, bà Phùng Thị T4,
Ngô Thị Kim K1 và anh Ngô Văn T. Thửa đất trên được đo đạc lại theo Trích
lục bản đồ địa chính do Văn phòng Đ1 chi nhánh huyện V cấp ngày 05/02/2021,
thửa đất số 816, tờ bản đồ số 9, diện tích 199,4 m
2
(Trong đó đất ONT = 192
m
2
và đất CLN = 7,4m
2
).
Xác định đây là tài sản chung của gia đình anh T, do các thành viên trong
gia đình đóng góp, cùng nhau tạo lập nên. Do vậy các thành viên quyền
ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Hiện nay bố
anh T ông Ngô Quang T3 đã chết năm 2009, sau khi bố anh T chết, anh T đã
nhiều lần trao đổi với bà Đinh Thị T1 về việc thực hiện thủ tục phân chia di sản
thừa kế do bố anh để lại, và chia tài sản chung của hộ gia đình quyền sử dụng
đất thông tin nêu trên, nhưng T1 không đồng ý. T1 cho rằng thửa đất
này là tài sản riêng của bà, các thành viên khác không có bất cứ sự đóng góp nào
vào việc tạo lập khối tài sản đó.
3
vậy anh T đã đơn khởi kiện đối với bà Đinh Thị T1 về việc yêu cầu
phân chia tài sản chung của hộ gia đình phân chia di sản thừa kế của bố anh
để lại. Anh T xin được chia bằng hiện vật để lấy nơi ăn ở, hiện nay anh đang
phải nhờ nmđẻ Phùng Thị T4, mặt khác anh T là cháu trai trưởng
trong gia đình, nên anh xin sử dụng một phần đất để sau này m nơi thờ cúng
bố gia đình tổ tiên. Anh sẽ thanh toán giá trị bằng tiền cho các đồng thừa kế
khác. Đối với tài sản trên đất anh T nhất trí thanh toán giá trị tài sản trả cho mẹ
con bà N.
Tại phiên toà ngày 09/10/2025 người đại diện theo uỷ quyền của Đinh
Thị T1 đã nộp GCNQSDĐ số DM 032328 cấp ngày 13/7/2023, đứng tên anh
Ngô Quang H1 đối với thửa đất số 816, tbản đsố 9 diện tích 199,4m
2
thôn
D, V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay xã T, tỉnh Phú Thọ), nguồn gốc do
nhận tặng cho quyền sử dụng đất của Đinh Thị T1. Việc tặng cho quyền sử
dụng đất trong khi chưa sự đồng ý của chK1 anh T nên nguyên đơn yêu
cầu bổ sung đơn khởi kiện, đề nghị Toà án tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất giữa Đinh Thị T1 anh Ngô Quang H1 hiệu, đồng thời
yêu cầu Huỷ GCNQSDĐ sDM 032328 cấp ngày 13/7/2023 đứng tên anh H1
đối với thửa đất nói trên.
Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn bà Trần Thị N1 trình bày: Đinh Thị
T1 có thửa đất thổ cư số 554, tờ bản đồ số 11, diện tích 192m
2
khu hành chính
số D, V (cũ) nay T, tỉnh Phú Thọ. Nguồn gốc thửa đất này do bà T1
đổi thửa đất của ông cha để lại cho riêng bà T1 (thửa đất do mẹ bà để lại từ năm
1990), sau đó đã đổi cho ông Nguyễn Văn V, khi đổi đất thì hai bên chỉ tho
thuận miệng với nhau, không có văn bản giấy tờ gì, bà T1 phải trả thêm cho ông
V số tiền 13.500.000 đồng. Năm 2000 Đinh Thị T1 đã được cấp GCNQSDĐ
đối với thửa đất nêu trên. Mặc dù GCNQSDĐ đứng tên hộ bà T1 nhưng đó là tài
sản nhân của T1, không liên quan đến các thành viên khác trong hộ gia
đình.
Mặt khác, năm 2001 khi vchồng ông T3 T4 ly hôn tđã giải
quyết về công sức cho bà T4, năm 2009 thì ông T3 chết, bản thân ông T3 ở cùng
T1 từ năm 1996 (khi đổi đất) cho đến năm 2001 ông T3 ly hôn vợ
Phùng Thị T4, năm 2002 ông T3 kết hôn với Phùng Thị Thanh N. Từ năm
2002 vợ chồng ông Trung N2 cùng T1, ông T3 N2 02 con
chung anh Ngô Quang H1 sinh năm 2003 chị Ngô Thị T2 sinh năm 2006.
Ba mcon N2 đang cùng T1 nhưng quyền sử dụng đất của riêng
T1 không có liên quan gì đến mẹ con bà N2. Khi ông T3 và bà T4 ly hôn thì anh
Ngô Quang T5 được giao cho mẹ Phùng Thị T4 nuôi dưỡng, còn chị Ngô
Thị K1 với T1 ông T3, sau khi ông T3 chết thì chị K1 cùng T1
4
đến nay chị K1 đã kết hôn và ở riêng.
Nay quan điểm của T1 cho rằng, đó đất của riêng T1, anh T5
không quyền yêu cầu chia đất của nên T1 không đồng ý với yêu cầu
khởi kiện của anh T5. Về văn bản giấy giao quyền sử dụng nhà đất ngày
08/5/1997 của ông Nguyễn Văn V do anh T5 cung cấp cho Toà án là không
đúng sự thật, mà do các bên tự lập văn bản khống nên không nhất trí với n
bản đó, do đổi đất từ tháng 3/1996 không phải là năm 1997. Tại phiên
toà ngày 09/10/2025 Đinh Thị T1 đã nộp GCNQSDĐ số DM 032328 cấp
ngày 13/7/2023 đứng tên anh Ngô Quang H1 đối với thửa đất số 816, tờ bản đồ
số 9 diện ch 199,4m
2
thôn D, V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay T,
tỉnh Phú Thọ), nguồn gốc do nhận tặng cho quyền sử dụng đất của Đinh
Thị T1. Do thửa đất là tài sản riêng của bà T1 nên bà T1 quyền tặng cho ai
quyền của bà T1, hiện nay thửa đất đứng tên anh H1 nên không quyền
nghĩa vụ đối với tài sản nói trên nữa. T1 không đồng ý với các yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp Toà án xem xét giải quyết đối với yêu
cầu chia di sản thừa kế công sức của ông T3, thì T1 tặng cho toàn bộ kỷ
phần thừa kế được hưởng cho anh H1. Tài sản trên đất hiện nay bao gồm nhà
xây ba tầng và gian quán bán hàng của mẹ con N2, không phải tài sản của
bà. Đối với gian quán bán hàng hiện nay anh H1 đã Hợp đồng cho thuê thời
hạn 10 năm với anh Tuấn K và gia đình anh K đang sử dụng tài sản thuê.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Ch Ngô Thị T2 vắng mặt tại phiên toà, nhưng tại bản tự khai ngày
22/5/2025 chị T2 trình bày: Chị con gái của ông Ngô Quang T3 và Phùng
Thị Thanh N, bố mẹ chị sinh được hai anh em Ngô Quang H1 chị Ngô
Thị T2. Hiện nay ba mcon chị đang cùng với nội Đinh Thị T1, trên
thửa đất hiện nay anh T5 đang đi khởi kiện đối với nội chị. Khoảng năm
2024 gia đình chị xây nhà trên đất, toàn bộ tài sản trên đất của mẹ con
chị nội làm nên, quyền sử dụng đất là của riêng nội chị, mẹ con chị
không liên quan gì, sau này nội cho ai quyền của bà, chị không ý
kiến gì. Về yêu cầu khởi kiện của anh T5 thì chị không đồng ý, đó đất của
nội chị, chị không yêu cầu đề nghị gì. Hiện nay chị đang học tại Trường
Cao Đẳng S nên không có thời gian để đến Toà án tham gia giải quyết vụ án, chị
xin được giải quyết vắng mặt, ý kiến của chị cũng như ý kiến của mẹ chị
nội chị đã trình bày. Chị uỷ quyền toàn bộ cho mẹ nội chị làm việc với
Toà án.
- ChNgô Thị K1 trình bày: Chị con gái của ông Ngô Quang T3
Phùng Thị T4, Đinh Thị T1 nội chị. Bố mẹ chị sinh được hai chị em
chị và em trai là Ngô Văn T. Năm 2001 sau khi bố mẹ ly hôn thì chị ở với bố và
5
nội còn em trai Ngô Văn T cùng mẹ. Sau khi ly hôn thì bố chị kết hôn với
Phùng Thị N sinh được 02 người con chung là Ngô Quang H1 sinh năm
2003 Ngô Thị T2 sinh năm 2006. Khi bố còn sống thì cùng với nội
Đinh Thị T1 trên thửa đất thổ số 554, tờ bản đồ số 11 diện tích 192m
2
đứng
tên nội đại diện hộ gia đình. Hiện nay thửa đất trên được đo đạc lại theo
Trích lục bản đồ địa chính do Văn phòng Đ1 chi nhánh huyện V cấp ngày
05/02/2021 thửa đất số 816, Tờ bản đồ số 9, diện tích 199,4 m
2
tổ dân phố
V, T, tỉnh Phú Thọ. Đây là tài sản chung của gia đình chị, do các thành viên
trong gia đình đóng góp, cùng nhau tạo lập nên.
Bố chị ông Ngô Quang T3 chết năm 2009, khi bố chết không để lại di
chúc gì. Sau khi bố chị chết thì chị vẫn cùng nội cho đến năm 2011 thì chị
kết hôn riêng. Nay em trai chị đơn khởi kiện nội chị đề nghị Toà án
giải quyết việc phân chia tài sản chung của hộ gia đình là Quyền sử dụng đất nói
trên yêu cầu chia di sản thừa kế phần tài sản của bố chị đlại, thì quan điểm
chị cũng nhất trí đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật, phần tài sản
chị được chia và di sản thừa kế mà chị được hưởng thì chị tự nguyện cho em trai
Ngô Văn T toàn quyền sử dụng thay cho chị và chị không yêu cầu em trai chị
phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho chị. Tại phiên toà chị nhất trí với
toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của em trai chị đnghị Toà án giải quyết theo
quy định pháp luật.
- Phùng Thị Thanh N trình bày: Về nguồn gốc đất tài sản trên đất
theo như T1 đã trình bày đúng, kết hôn cùng ông T3 về chung sống
cùng gia đình T1 và ông T3 từ năm 2002, quá trình chung sống bà và ông T3
sinh được 02 người con chung Ngô Thị T2 Ngô Quang H1, đến năm 2009
ông T3 chết, trước khi chết không để lại di chúc gì. Sau khi ông T3 chết, mẹ con
đã phải đứng ra trả các khoản nợ của ông T3 khi còn sống đã vay tiền
vàng để chăn nuôi rắn bao gồm: Ông Đinh Duy H2 20 triệu đồng, Đinh Văn L
20 triệu đồng, Đinh Văn T6 15 triệu đồng, Đinh Văn Q 05 triệu đồng, Phùng Thị
L1 1,6 cây vàng, ông Phùng Việt Đ 03 cây vàng, ông Nguyễn Đức H3 30 triệu
đồng, chị Vũ Thị L2 18 triệu đồng.
Trường hợp anh T không đơn khởi kiện thì không yêu cầu Toà án
giải quyết số nợ trên, nhưng nếu anh T yêu cầu chia di sản thừa kế của ông T3
để lại, thì bà cũng yêu cầu giải quyết các khoản nợ của ông T3 để lại. Đối với tài
sản trên đất là do mẹ con bà làm, cụ thể nhà xây 3 tâng làm hết hơn 1 tỷ đồng và
01 gian quán đang cho thuê trị giá 200 triệu đồng. Nay quan điểm không
đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên toà N đề nghị
tặng cho anh H1 toàn bộ quyền sử dụng đất của tài sản trên đất cho anh
H1.
6
- Anh Ngô Quang H1 trình bày: Anh nhất trí theo như Phùng Thị
Thanh N là mẹ đã trình bàytrên, anh không trình bày bổ sung gì thêm và quan
điểm đề nghị Toà án giải quyết theo như N và T1 đã trình bày. Đối với tài
sản anh đang cho thuê theo hợp đồng với anh Tuấn K đúng, anh K đã trả
đủ tiền thuê mặt bằng trong thời gian 05 năm và anh đã nhận đủ số tiền 125 triệu
đồng, do vậy anh đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Nay anh xác định tòan bộ quyền sử dụng đất tài sản trên đất là của anh, đã
được bà nội và mẹ anh tặng cho.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 30/10/2025 anh Tuấn K trình bày:
Ngày 10/02/2025 anh Hợp đồng thuê mặt bằng với anh Ngô Quang H1
sinh năm 2003 (là cháu nội của Đinh Thị T1). Theo nội dung Hợp đồng thì
hai bên đã thoả thuận anh thuê toàn bộ phần diện tích khoảng 50m
2
, trên đất
01 nhà xây lợp mái tôn cách nhiệt, mục đích thuê để làm quán bàn háng các
loại bánh. Thời hạn thuê là 10 năm kể từ ngày 10/02/2025 đến ngày 10/02/2035,
giá thuê 05 năm đầu 25 triệu đồng/năm, 05 năm tiếp theo hai bên sẽ thoả
thuận lại về giá thuê anh đã trả đủ số tiền thuê trong 05 năm 125 triệu
đồng. Khi đến thuê mặt bằng anh có sửa chữa và làm vách ngăn hết tổng chi phí
10 triệu đồng. Nay việc tranh chấp đất giữa anh T với cụ T1 anh đề nghị
Toà án giải quyết theo quy định pháp luật. Trường hợp mặt bằng được giao cho
người khác anh không được thuê lại, tức do anh H1 pvỡ hợp đồng thì
anh H1 phải bồi thường trả anh số tiền đã sửa chữa 10 triệu đồng và thiệt hại
do phá vỡ hợp đồng 500.000.000đồng (đã quy định tại Điều 3 của Hợp đồng
thuê mặt bằng đã lập giữa anh với anh H1). Do điều kiện công việc nên anh đề
nghị Toà án xét xử vắng mặt anh.
- Xác minh tại UBND T ngày 13/6/2025 được biết: Gia đình Đinh
Thị T1 có thửa đất thổ cư số 554, tờ bản đồ số 11, diện tích 192 m
2
địa chỉ Tổ
dân phố V, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Nay T, tỉnh Phú Thọ).
Nguồn gốc đất do gia đình T1 nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn
V. Căn cứ theo bản đồ đo đạc năm 1993 sổ đo đạc năm 1993 thể hiện thửa
đất số 554, tờ bản đồ số 11, diện tích 259m
2
chủ sử dụng là Nguyễn Văn V. Căn
cứ vào sổ mục lập năm 2000 (theo đo đạc năm 1993) thể hiện: Thửa đất số
554, tờ bản đồ số 11, diện tích 192m
2
chủ sử dụng Nguyễn Văn V. Căn cứ
theo sổ cấp GCNQSDĐ thể hiện: Tại trang số 32, số thứ tự cấp giấy 0589, tên
chủ sử dụng Đinh Thị T1, diện tích 192m
2
.
do diện tích cấp giấy chứng nhận theo sổ mục kê thể hiện 192m
2
vì thửa đất của gia đình ông V đã được tách thửa làm 2 phần, 1 phần cho con trai
ông V 1 phần diện tích 192m
2
ông V chuyển nhượng cho gia đình T1.
Hiện nay thửa đất do gia đình T1 đang quản sử dụng. Về hiện trạng thửa
7
đất hiện nay trên đất có 2 công trình xây dựng cụ thể: 01 nhà ba tầng hiện nay
T1 cùng mcon chị N đang quản sdụng, 01 nhà cấp bốn (gian quán bán
hàng) hiện đang cho thuê. Căn cứ vào bản đồ VN 2000 thể hiện thửa đất số 816,
tờ bản đồ số 09, diện tích 199,4m
2
tên chủ sử dụng hộ bà Đinh Thị T1.
Về quan hệ gia đình của T1: Ông Ngô Quang T3 con trai của
Đinh Thị T1, ông T3 chết năm 2009, vợ Phùng Thị T4 (đã ly hôn năm
2001) và 02 con chung với T4 anh Ngô Văn T và chị Ngô Thị K1. Sau khi
ly hôn với T4, ông T3 kết hôn với Phùng Thị Thanh N 02 con
chung với chị Nghĩa là Ngô Thị T2, sinh năm 2006 Ngô Quang H1 sinh năm
2003. Hiện nay T1, chị N, cháu T2 cháu H1 đang cùng nhau. Tại thời
điểm năm 2000 thì hộ khẩu của gia đình bà T1 bao gồm các thành viên sau:
Đinh Thị T1, ông Ngô Quang T3, bà Phùng Thị T4, chị Ngô Thị K1 và anh Ngô
Văn T. Năm 2001 ông Ngô Quang T3 Phùng Thị T4 đã được TAND
huyện Vĩnh Tường giải quyết ly hôn. Sau khi ly hôn anh T cùng T4, còn
chị K1 ở cùng ông T3 và bà nội là bà Đinh Thị T1.
Nay anh T đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung hộ gia đình
chia di sản thừa kế của ông Ngô Quang T3 để lại thì quan điểm địa phương đ
nghị Tòa án nhân xem xét, giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Với các nội dung như trên, tại bản án dân sự thẩm số 67/2025/DS-ST
ngày 10 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Phú Thọ đã
quyết định: Căn cứ vào các Điều 116, 117, 122, 123, 212, 357, 457, 459, 468,
609, 612, 613, 649, 650, 651 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ vào
Điều 166 188 của Luật Đất đai năm 2013; Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39,
147, 227 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức
thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh
Ngô Văn T về việc Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu, yêu
cầu chia tài sản chung và chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất của ông Ngô
Quang T3 để lại.
1. Tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 20/6/2023
giữa cụ Đinh Thị T1 và anh Ngô Quang H1 đối với thửa đất số 816, tờ bản đồ số
9, diện tích theo bản đồ VN 199,4 m
2
đứng tên hộ bà Đinh Thị T1 là vô hiệu.
2. Về chia tài sản chung hộ gia đình: Xác nhận thửa đất số 554, tbản đồ
số 11, diện tích theo GCNQSDĐ được cấp 192 m
2
(Theo bản đồ VN 200
thửa số 816, tờ bản đồ số 09, diện tích 199,4 m
2
), diện tích đất thực tế đo đạc
193m
2
đã được cấp GCNQSDĐ đứng tên hộ Đinh Thị T1 ở tại thôn D, T,
8
tỉnh Phú Thọ tài sản chung của Đinh Thị T1 ông Ngô Quang T3, trong
đó phần công sức đóng góp của ông T3 được chia 76,3m
2
đất nằm trong tổng
diện tích đất nói trên. Diện tích đất còn lại của thửa đất do cụ Đinh Thị T1 tặng
cho anh Ngô Quang H1 nên anh H1 được quyền quản lý, sử dụng.
3. Về việc chia thừa kế:
Chia cho anh Ngô Văn T được quyền sdụng diện tích đất 76,3m
2
trong
thửa đất số 554, tờ bản đồ số 11 đứng tên hộ Đinh Thị T1 (Nay là thửa đất số
816, tờ bản đồ số 9 đứng tên anh Ngô Quang H1) được xác định bởi các chỉ giới
3, 4, 5, 6, 7, 3 (Có đồ chi tiết kèm theo) cùng toàn bộ tài sản gắn liền với
quyền sử dụng đất nói trên;
Anh Ngô Văn T có nghĩa vụ thanh toán kỷ phần thừa kế bằng tiền cho anh
Ngô Quang H1 571.500.000đồng và chị T2 190.500.000đồng.
Xác nhận anh Ngô Văn T tự nguyện thanh toán tiền tài sản trên đất được
giao cho anh H1 200.000.000đồng. Tổng cộng anh T phải có nghĩa vụ thanh
toán trả anh H1 và chT2 là 962.000.000đồng.
Giao cho anh Ngô Quang H1 được quyền sử dụng phần diện tích đất còn
lại của thửa đất số 554, tờ bản đồ số 11 đứng tên hộ bà Đinh Thị T1 (Nay là thửa
đất số 816, tbản đồ số 9 đứng tên anh Ngô Quang H1) được xác định bởi các
chỉ giới 1,2,3,7,8,9,1 (Có đồ chi tiết kèm theo) cùng toàn bộ tài sản gắn liền
với quyền sử dụng đất nói trên.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm quyền kháng cáo
của các đương sự.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 19/11 ngày 24/11/2025 Phùng Thị
Thanh N, anh Tuấn K, Đinh Thị T1, chị Ngô Thị T2 anh NQuang
H1 đơn kháng cáo, đều đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm. Tại phiên
tòa phúc thẩmT1, bà N và anh H1 giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự: Đình chỉ xét xử
phúc thẩm đối với kháng cáo của anh Vũ Tuấn K.
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận kháng
cáo của Bà Đinh Thị T1, bà Phùng Thị Thanh N, anh Ngô Quang H1 và chị Ngô
Thị T2, sửa Bản án dân sự thẩm số 67/2025/DS-ST ngày 10 tháng 11 năm
2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Phú Thọ. Về án phí: Đề nghị giải quyết
theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
9
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án, được thẩm tra tại
phiên toà căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xnhận
định:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà T1, N, anh H1, chị T2 và anh K
làm trong hạn luật định, đơn hợp lệ được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc
thẩm. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp thẩm đã xác định đúng quan hệ
pháp luật tranh chấp, thẩm quyền xác định đúng cách của nhng người
tham gia tố tụng.
[1.1]. Đối với anh K, chị K1 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng
vắng mặt không do, căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự,
Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của anh K xét
xử vắng mặt đối với chị K1.
[2]. Về nội dung vụ án, đối với yêu cầu chia tài sản chung: Ngày
20/5/2000, hộ Đinh Thị T1 được UBND huyện V cấp GCNQSDĐ số M
055193, số vào sổ cấp giấy 0589, đối với thửa đất số 554, tờ bản đồ s11, diện
tích 192m
2
(thông tin thửa đất theo bản đồ hệ tọa độ VN 2000 là thửa đất số 816,
tờ bản đồ số 9, diện tích 199,4m
2
) địa chỉ tại: Thôn D, T, tỉnh Phú Thọ. Đối
với thửa đất trên, căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/6/2025, thì
thửa đất nêu trên có diện tích thực tế 193m
2
. Tại phiên toà sơ thẩm các đương
sự đều nhất trí với diện tích đất theo kết quả đo đạc thực tế, do đó Hội đồng xét
xử thẩm căn cứ diện tích đất, theo kết quả đo đạc thực tế để giải quyết
căn cứ, đúng quy định.
[3]. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận, hộ T1 các thành viên gồm:
Ðinh Thị T7, ông Ngô Quang T3, Phùng Thị T4, chị Ngô Thị K1 anh
Ngô Văn T. Mặc dù thửa đất nêu trên được cấp cho hộ gia đình bà T7, tuy nhiên
xem xét về nguồn gốc, quá trình hình thành thửa đất, công sức đóng góp của các
thành viên trong hộ gia đình thấy rằng:
[3.1]. Về nguồn gốc: Thửa đất trên do T7 đổi thửa đất được
hưởng thừa kế của bố mẹ cho người khác, để lấy thửa đất như hiện nay. Về công
sức đóng góp của các thành viên trong hộ gia đình: Đối với chị Ngô Thị K1
anh Ngô Văn T trong quá trình sử dụng đất, đổi đất tại thời điểm cấp
GCNQSDĐ thì chị K1, anh T đều còn nhỏ, sống phụ thuộc vào gia đình, nên
không công sức đóng góp cho việc hình thành thửa đất. Đối với bà Phùng
Thị T4 thì quá trình sử dụng đất, đổi đất T4 đóng góp một phần công sức
vào việc hình thành thửa đất. Tại bản án số 20/LHST ngày 28/6/2001 của Tòa án
nhân dân huyện Vĩnh Tường (cũ) Bản án số 31/LHPT ngày 20/9/2001 của
Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (cũ), giải quyết vụ án tranh chấp hôn nhân và
10
gia đình giữa ông Ngô Quang T3 Phùng Thị T4, đã xem xétnh công sức
cho T4 trong việc hình thành khối tài sản chung của hộ gia đình buộc ông
T3, T7 phải thanh toán công sức cho T4 số tiền 7.500.000đ. Do vậy, thửa
đất nêu trên không còn liên quan đến bà T4 nữa.
[3.2]. Đối với ông Ngô Quang T3: Mặc dù thửa đất nêu trên có nguồn gốc
chính từ việc T7 đổi đất, tuy nhiên thực tế quá trình quản sử dụng các
đương sự đều thừa nhận, ông T3 có thời gian rất dài chung sống cùng bà T7, ông
T3 sinh sống cùng T7 từ bé, cho đến khi chết là năm 2009. Ông T3 công
sức duy trì, tôn tạo tài sản cùng với T7 thanh toán công sức cho bà T4 số
tiền 7.500.000đ (khi ông T3 bà T4 ly hôn). Do đó, cấp thẩm xác định ông
T3 có công sức trong việc hình thành khối tài sản chung, quyền sử dụng thửa
đất số thửa đất số 816, tờ bản đồ số 9 một phần quyền sử dụng đất trong
tổng diện tích đất đứng tên T7. Cấp thẩm sau khi xem xét công sức đóng
góp của ông T3 T7 trong việc tạo lập, hình thành khối tài sản chung của
hộ gia đình là thửa đất số 816 nêu trên phân chia ông T3 được hưởng 76,3m
2
đất ở, T7 được hưởng 116,7m
2
(trong đó 01m
2
đất vườn) về bản đảm
bảo, phù hợp.
[4]. Xem xét Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 20/6/2023
giữa Đinh Thị T1 anh Ngô Quang H1 nhận thấy: Thửa đất số 816, tờ bản
đồ số 9, diện tích theo bản đồ VN là 199,4m
2
tuy nguồn gốc của T1,
nhưng công sức đóng góp của ông Ngô Quang T3 thành viên hộ gia đình
T1. Năm 2009 ông T3 chết không để lại di chúc gì, gia đình T1 chưa
việc phân chia di sản thừa kế phần tài sản của ông T3, do vậy việc T1 một
mình ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, đối với toàn bộ diện tích thửa đất
nêu trên cho anh H1, không sự đồng ý của chị K1 anh T (là các con
của ông T3) là chưa đảm bảo; bà T1 định đoạt vượt quá phần quyền của mình
xâm phạm đến quyền lợi của anh T chị K1. Do vậy căn cứ vào Điều 117,
Điều 130 của Bộ luật n sự năm 2015 Hợp đồng tặng quyền sử dụng đất lập
ngày 20/6/2023 giữa bà T1anh H1 bị vô hiệu một phần (đối với phần 76,3m
2
T8 tự định đoạt, vượt quá phần quyền của mình).
[5]. Về chia thừa kế:
[5.1]. Hàng thừa kế thứ nhất của ông T3 gồm: Đinh Thị T1, Phùng
Thị Thanh N (vợ ông T3), anh Ngô Quang H1, chị Ngô Thị T2, chị Ngô Thị K1
anh Ngô Văn T (là các con của ông T3). Do ông Ngô Quang T3 chết năm
2009 không để lại di chúc, nên quyền sử dụng 76,3m
2
đất ở, thuộc một phần
Thửa đất s816, tờ bản đồ số 9 của ông T3 được chia thừa kế theo pháp luật.
Trong đó kỷ phần mỗi người được hưởng là 12,7m
2
(76,3 : 6), trị giá là
190.500.000đ (15.000.000đ/m
2
x 12,7m
2
).
11
[5.2]. Do chị K1 tự nguyện tặng cho kỷ phần chị được hưởng cho anh
T, nên anh T được chia tổng 25,4m
2
đất trị giá 381.000.000đ. Đối với chị T2 tại
cấp thẩm đề nghị giải quyết theo quy định, tuy nhiên tại đơn kháng cáo chị
trình bày, nếu được xác định có kỷ phần thừa kế, chị tự nguyện tặng cho anh H1
toàn bộ (anh H1 đồng ý nhận và chịu án phí thay chị T2); Bà T1, bà N tự nguyện
tặng cho anh H1 kỷ phần thừa kế được chia, nên anh H1 được hưởng 04 kỷ phần
thừa kế, tương đương với 50,8m
2
đất trị giá 762.000.000đ.
[6]. Quá trình giải quyết vụ án cả anh H1 anh T đều xin được nhận
bằng hiện vật, Hội đồng xét thấy: Mặc nguyện vọng xin được chia bằng hiện
vật của anh T và anh H1 đều là chính đáng, tuy nhiên trong trường hợp này tổng
diện tích đất di sản chia thừa kế chỉ 76,3m
2
, trong đó anh H1 được hưởng
50,8m
2
,
anh
T
được hưởng 25,4m
2
. Theo Quyết định 116/2025/QĐ-UBND của
Ủy ban nhân dân tỉnh P (có hiệu lực từ ngày 15/12/2025), quy định về diện tích
tối thiểu để tách thửa đất ở tại khu vực nông thôn là 80m
2
.
[6.1]. Đối với anh T việc giao toàn bộ diện tích 76,3m
2
cho anh T, s
không đảm bảo đủ diện tích để tách thửa và cấp giấy chứng nhận theo quy định,
hơn nữa trong vụ án này anh T chỉ được hưởng 02 suất (2/6), do đó việc giao
cho anh T không đảm bảo đúng quy định. Trong khi đó anh H1 được hưởng
50,8m
2
(4/6), bản thân anh H1 được T1 tặng cho toàn bộ diện tích 116,7m
2
cùng thửa đất, trên đất nhà kiên cố; hơn nữa trên diện tích đất đang tranh
chấp còn có công trình nhà mái bằng của anh H1, hiện đang cho anh Tuấn K
thuê từ năm 2025 làm quán bán hàng, hợp đồng thuê thời hạn 10 năm, anh K
đã thanh toán tiền 05 năm, sau khi thuê anh K đã đầu sửa chữa vào ngôi nhà,
anh K ý kiến trong trường hợp thửa đất được giao cho anh H1 và anh tiếp tục
thuê thì anh sẽ không có ý kiến gì.
[6.2]. Xem xét một cách tổng thể về kỷ phần được chia, điều kiện tách
thửa để được cấp giấy chứng nhận, cũng như phát sinh tranh chấp đối với bên
thứ 3 (anh K người thuê nhà) thấy rằng, cần thiết giao toàn bộ diện tích
76,3m
2
đất đang tranh chấp cho anh H1 quản lý, sử dụng anh H1 trách
nhiệm thanh toán giá trị 25,4m
2
bằng tiền cho anh T (gồm kỷ phần anh T
được hưởng, cùng kỷ phần chị K1 tặng cho anh T). Cụ thể anh H1 phải thanh
toán cho anh T số tiền 381.000.000đ (15.000.000đ/m
2
x 25,4m
2
).
[7]. Đối với tài sản trên đất tranh chấp, tại cấp thẩm do gia đình T1
không đồng ý cho định giá, nên cấp thẩm không định giá được. Tại phiên toà
thẩm T1, bà N anh H1 đều xác định tài sản trên đất gian quán đang
cho thuê trị giá 200.000.000đ và đây là tài sản của anh H1. Anh T nhất trí thanh
toán giá trị tài sản trên cho anh H1, xét thấy việc anh T nhất trí thanh toán
hoàn toàn tự nguyện, nên cấp thẩm chấp nhận buộc anh T thanh toán cho
12
anh H1 là phù hợp. Tuy nhiên, như phân tích ở trên, Hội đồng xét xử sẽ giao cho
anh H1 quản sử dụng toàn bộ phần diện tích đất tranh chấp, do đó anh T sẽ
không phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với giá trị tài sản gian quán
đang cho thuê.
[8]. Đối với yêu cầu của N và anh H1, yêu cầu giải quyết các khoản nợ
ông T3 đã vay để chăn nuôi rắn trước khi chết để lại, theo danh sách xác
nhận của những người cho vay nợ. Xét thấy các khoản vay đó chỉ xác nhận
của người cho vay mà không cung cấp được giấy tờ vay nợ chữ của ông
T3 nên cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu của N anh H1. Hơn nữa
N anh H1 trình bày, nếu được chia bằng hiện vật, anh không đề nghị đối
với các nội dung này, tại cấp phúc thẩm Hội đồng chia cho anh H1 được hưởng
bằng hiện vật, bà N anh H1 không có ý kiến gì nên không xem xét.
[9]. Đối với Hợp đồng cho thuê mặt bằng giữa anh Ngô Quang H1 và anh
Tuấn K lập ngày 10/02/2025 (Sau khi Toà án đã thụ vụ án). Do diện tích
đất được giao cho anh H1 sử dụng, tại phiên toà anh H1 nhất trí tiếp tục thực
hiện Hợp đồng cho thuê mặt bằng với anh K; anh K cũng nhất trí tiếp tục thực
hiện hợp đồng, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, sau này nếu các bên
tranh chấp và có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ án khác theo quy định.
[10]. Trong vụ án này, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày
20/6/2023, giữa Đinh Thị T1 anh Ngô Quang H1 bị hiệu một phần, do
T1 tặng cho định đoạt vượt quá. Đối với phần diện tích 76,3m
2
, Hội đồng xét
xử giao toàn bộ 76,3m
2
đất trên cho anh H1 quản lý, sdụng anh H1 phải
thanh toán giá trị cho anh T phần anh T được hưởng. Bị đơn T1 vẫn giữ
nguyên việc tặng cho anh H1 đối với phần diện tích 116,7m
2
đất của bà. Như
vậy anh H1 được toàn quyền quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích 193m
2
(trong đó
có 116,7m
2
T1
tặng cho
76,3m
2
được chia thừa kế), cùng tài sản trên đất.
[10.1]. Hiện anh H1 đang trực tiếp quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích
193m
2
đất và các tài sản trên đất, diện tích đất này đã được cấp giấy chứng nhận
đứng tên anh H1. Do đó, để tránh phát sinh các thủ tục hành chính không cần
thiết, mất thời gian đi lại, ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân, Hội đồng xét
xử sẽ không tuyên hiệu một phần đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất lập ngày 20/6/2023, giữa bà Đinh Thị T1 anh Ngô Quang H1, mà sẽ công
nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho anh H1 đối với toàn bộ diện ch 193m
2
đất. Do diện tích đất thực tế được công nhận (193m
2
) giấy chứng nhận đứng
tên anh H1 đối với thửa đất số 816, tờ bản đồ số 9 sự chênh lệch (giấy chứng
nhận diện tích 199,4 m
2
), do đó anh H1 quyền nghĩa vụ liên hệ với quan
Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh đăng ký biến động và cấp lại giấy chứng
nhận cho phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
13
[10.2]. Tuy nhiên để đảm bảo quyền lợi của anh T, anh H1 phải trách
nhiệm thực hiện nghĩa vthanh toán đầy đcho anh T, trước khi thực hiện các
quyền đối với phần diện tích đất được chia.
[11]. Tại phiên tòa phúc thẩm anh H1 trình bày ngoài số tiền
381.000.000đ thanh toán theo quy định, anh tự nguyên thanh toán hỗ trợ thêm
cho anh T số tiền 127.000.000đ. Xét thấy việc anh H1 thanh toán, hỗ trợ thêm
cho anh T số tiền 127.000.000đ là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên
Hội đồng xét xử ghi nhận nội dung này. Như vậy, tổng cộng anh H1 phải thanh
toán cho anh T số tiền 508.000.000đ.
[12]. Từ những phân ch trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận
kháng cáo của Đinh Thị T1, Phùng Thị Thanh N, anh Ngô Quang H1
chị Ngô Thị T2 sửa bản sơ thẩm theo hướng phân tích trên (việc sửa bản án một
phần do stự nguyện thanh toán thêm của đương sự). Ý kiến của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa là có căn cứ cần chấp nhận.
[13]. Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh T đã
nộp tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ định giá tài sản số tiền
6.000.000đ. Do anh T đã nộp đủ và chi phí xong, anh T không yêu cầu bị đơn và
các đương sự khác phải chịu khoản chi phí đó, nên cấp sơ thẩm không xem xét.
[14]. Về án phí:
[14.1]. Các đương sự phải chịu án phí đối với phần di sản được chia. Tuy
nhiên do T1 là người cao tuổi, đơn nên được miễn nộp tiền án phí dân sự
thẩm. N phải chịu án phí dân sự thẩm giá ngạch là 9.525.000đ
(15.000.000đ/m
2
x 12,7m
2
= 190.500.000đ x 5%); anh T tự nguyện chịu án phí
thay cho chị K1, anh H1 tự nguyện chịu án phí thay cho chị T2, nên anh T
anh H1 mỗi người phải chịu 19.050.000đ (15.000.000đ/m
2
x 25,4m
2
=
381.000.000đ x 5%).
[14.2]. Án phí phúc thẩm: Đinh Thị T1, Phùng Thị Thanh N, anh
Ngô Quang H1, chị Ngô Thị T2 không phải chịu án phí phúc thẩm; N, anh
H1 chị T2 được hoàn trả lại số tiền tạm ứng đã nộp. Anh K phải chịu
300.000đ án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Đình chỉ xét xử
phúc thẩm đối với kháng cáo của anh Vũ Tuấn K.
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng
cáo của bà Đinh Thị T1, bà Phùng Thị Thanh N, anh Ngô Quang H1 chị Ngô
14
Thị T2, sửa bản án dân sự thẩm số 67/2025/DS-ST ngày 10 tháng 11 năm
2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Phú Thọ.
Áp dụng các Điều 116, 117, 122, 123, 212, 357, 457, 459, 468, 609, 612,
613, 649, 650, 651 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166 Điều 188
của Luật Đất đai năm 2013; các Điều 26, 35, 39, 147, 227 và 228 của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Ngô Văn T
về việc chia tài sản chung chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất của ông
Ngô Quang T3 để lại.
1. Về chia tài sản chung: Quyền sử dụng diện ch 193m
2
đất, trong đó
192m
2
đất 01 m
2
đất trồng cây lâu năm, thửa đất số 816, tờ bản đồ số 9 tại
địa chỉ thôn D, T, tỉnh Phú Thọ (hiện đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đứng tên anh Ngô Quang H1) tài sản chung của Đinh Thị T1
ông Ngô Quang T3; chia cho ông T3 quyền sử dụng 76,3m
2
đất ở, chia cho
T1 quyền sử dụng 115,7m
2
đất ở và 01m
2
đất trồng cây lâu năm. Bà Đinh Thị T1
đã tặng cho anh Ngô Quang H1, nên anh H1 được quyền quản lý, sử dụng đối
với diện tích 115,7m
2
đất ở và 01m
2
đất trồng cây lâu năm.
2. Về việc chia thừa kế: Chia di sản thừa kế của ông Ngô Quang T3 để lại
quyền sử dụng 76,3m
2
đất theo pháp luật, cụ thể: Chia cho anh Ngô Quang
H1 được quyền quản , sử dụng diện tích 76,3m
2
đất ở, thửa đất số 816, tờ bản
đồ số 9, giấy chứng nhận đứng tên anh Ngô Quang H1 cùng toàn bộ tài sản gắn
liền với quyền sử dụng đất nói trên. Anh Ngô Quang H1 được quyền quản lý, sử
dụng đối với toàn bộ diện tích 192m
2
đất 01 m
2
đất trồng cây lâu năm
(trong đó 76,3m
2
đất được chia thừa kế; 115,7m
2
đất 01m
2
đất trồng
cây lâu năm được bà Đinh Thị T1 tặng cho), thửa đất số 816, tờ bản đồ số 9 ở tại
thôn D, T, tỉnh Phú Thọ đứng tên anh Ngô Quang H1, giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số DM 032328 vào sổ cấp Giấy chứng nhận 01534, do Chi
nhánh Văn phòng Đăng đất đai huyện Đ1 (cũ) cấp ngày 13/7/2023 các tài
sản trên đất, (có sơ đồ kèm theo).
3. Anh Ngô Quang H1 nghĩa vụ thanh toán cho anh Ngô Văn T kỷ
phần thừa kế giá trị bằng tiền 381.000.000đ (trong đó phần của anh T
được chia kỷ phần chK1 tặng cho anh T). Ghi nhận sự tự nguyện của anh
Ngô Quang H1 thanh toán hỗ trợ thêm cho anh T số tiền 127.000.000đ. Tổng
cộng anh H1 phải thanh toán cho anh T số tiền 508.000.000đ.
Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án số
15
tiền nêu trên, người phải thi hành án không trả được thì hàng tháng còn phải trả
tiền lãi đối với số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
của Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Anh NQuang H1 quyền, nghĩa vụ liên hvới quan Nhà nước
thẩm quyền để điều chỉnh, đăng biến động quyền sử dụng đất theo quy định
của pháp luật.
4. V án phí:
4.1. Án phí dân s thm: Miễn án phí dân sự thẩm cho Đinh Thị
T1; Phùng Thị Thanh N phải chịu 9.525.000đ, anh Ngô Quang H1 phải chịu
19.050.000đ án phí dân sự thẩm giá ngạch. Anh Ngô Văn T phải chịu
19.050.000đ án pdân sự thẩm, được trừ vào số tiền tạm ng án phí đã nộp
là 12.000.000đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005328 ngày
24/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường (Nay là Phòng
Thi hành án Dân sự Khu vực 10 - Phú Thọ); anh Ngô Văn T phải nộp tiếp số
tiền án phí dân sự sơ thẩm là 7.050.000đồng.
4.2. Án phí dân s phúc thm: Đinh Thị T1, Phùng Thị Thanh N,
anh Ngô Quang H1 và chị Ngô Thị T2 không phải chịu; bà N, anh H1 chị T2
mỗi người được hoàn trả lại số tiền 300.00tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp,
theo các biên lai thu s0006254, 0006252, 0006255 cùng ngày 02/12/2025 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường (nay là Phòng thi hành án dân sự
khu vực 10 Phú Thọ). Anh Tuấn K phải chịu 300.000đ án phí phúc thẩm,
được trừ vào số tiền 300.000 đ tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp, theo biên lai
thu số 0006253 cùng ngày 02/12/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
nh Tường (nay là Phòng thi hành án Dân sự khu vực 10 Phú Thọ). Xác nhận
anh K đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành
án hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT X
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
16
Nguyễn Duy Sơn
Nguyn Th Thu Hin
Nguyn Xuân Trng
Tải về
Bản án số 96/2026/DS-PT Bản án số 96/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 96/2026/DS-PT Bản án số 96/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất