Bản án số 95/2026/DS-PT ngày 21/01/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 95/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 95/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 95/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 95/2026/DS-PT ngày 21/01/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Tây Ninh |
| Số hiệu: | 95/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 21/01/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Võ Thị S “Tranh chấp quyền sử dụng đất” Đặng Hoàng P1 |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 95/2026/DS-PT
Ngày: 21-01-2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Các Thẩm phán: bà Huỳnh Thị Hồng Vân
bà Trịnh Thị Phúc
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mỹ Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Đặng
Thị Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 764/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 11 năm 2025
về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 12-Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1028/2025/QĐ-PT ngày 18 tháng 12
năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Võ Thị S, sinh năm 1948; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh
Tây Ninh (nay là khu phố T, phường G, tỉnh Tây Ninh).
Người đại diện theo ủy quyền của bà S (theo văn bản ủy quyền 23/7/2024):
1. Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1972; địa chỉ cư trú: ấp X, xã P, huyện G,
tỉnh Tây Ninh (ấp X, xã P, tỉnh Tây Ninh).
2. Ông Nguyễn Minh P, sinh năm 1992, địa chỉ: C, ấp L, xã T, thị xã H, tỉnh Tây
Ninh (nay là C, khu phố L, phường L, tỉnh Tây Ninh).
- Bị đơn: ông Đặng Hoàng P1; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh (nay
là Khu phố T, phường G, tỉnh Tây Ninh).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
2
1. Ông Nguyễn Thiện B, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp T, xã S, huyện D, tỉnh Tây
Ninh (nay là xã D, tỉnh Tây Ninh).
2. Bà Dương Thị P2, sinh năm 1982; địa chỉ: khu phố H, phường H, thị xã H,
tỉnh Tây Ninh (nay là khu phố H, phường T, tỉnh Tây Ninh).
- Người kháng cáo: nguyên đơn, bà Võ Thị S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các đơn khởi kiện ghi ngày 09/7/2024, 16/5/2025 và trong quá trình giải
quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn bà Võ Thị S và người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Mỹ H trình bày:
Cha mẹ của bà Võ Thị S là cụ bà Mai Thị H1 (chết 2003) và cụ ông Võ Văn H2
(chết 1950) được ông bà ngoại cho phần đất diện tích 30 cao đất thổ cư vào năm
1960. Phần đất có tứ cận như sau: Đông giáp: bà M; Tây giáp: 10 Ánh; Nam giáp:
đường đất (bà R) dài 39,45m; Bắc giáp: Phương dài 5m, bà Đ dài 10m, H3 5m và bà
B1 dài 20m.
Trong chiến tranh, chính quyền chế độ cũ sử dụng làm ấp chiến lược để quản lý.
Phần đất của gia đình bà S bị bờ đê ấp chiến lược cắt ngang 01 phần (nằm trong ấp
chiến lược) và 01 phần đất trống (nằm ngoài ấp chiến lược) độ dài 19m. Sau chiến
tranh 1975, đất ai trả về nấy, gia đình bà S có đăng ký kê khai quyền sử dụng đất và
sử dụng trồng tràm bông vàng, tầm vong, trúc. Bà S sống chung với cha mẹ đến năm
2003 mẹ bà chết, bà S tiếp tục sử dụng, sau này nhà nước làm đường sỏi, sau đó làm
đường nhựa, Nhà nước có đền bù cây trồng cặp lề đường cho bà S nhưng không có
giấy tờ. Năm 1995 gia đình bà S chỉ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
thửa 3672 tờ bản đồ số 04 tương ứng thửa 81 tờ bản đồ 17, đất tọa lạc tại ấp T, xã T,
huyện G, tỉnh Tây Ninh, hiện gia đình bà S đang sử dụng. Phần đất còn lại ngoài ấp
chiến lược như phần trình bày ở trên ngang 39,45m, dài 19m. Trong đó: đường lộ
nhựa chiếm khoảng 6m. Phần còn lại ông Đặng Hoàng P1 lấn chiếm ngang 5m, dài
13m thuộc thửa 764, tờ bản đồ 17, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, nay bà S yêu cầu ông Đặng Hoàng P1
phải trả phần đất diện tích 77,1m
2
thuộc 01 phần thửa 764 và một phần thửa 765, tờ
bản đồ 17, tọa lạc tại ấp T, phường G, tỉnh Tây Ninh (nay là khu phố T, phường G,
tỉnh Tây Ninh).
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Đặng Hoàng P1 trình bày:
Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà S. Phần đất bà S tranh chấp
thửa 765 trước đây ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu và sau
đó được cấp đổi lần hai ngày 18/5/2022, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
vào sổ CS 13365 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp, tại thửa đất số 40 tờ
bản đồ số 17. Nguồn gốc phần đất này do ông bà để lại cho cha mẹ của ông và cha
mẹ của ông để lại cho ông. Gia đình ông quản lý, sử dụng từ sau khi giải phóng đến
nay. Phần đất bà S tranh chấp với ông, theo kết quả đo đạc của Tòa án thể hiện tại
3
thửa 765 thì ông đã chuyển nhượng, sang tên cho ông B, bà P2 vào ngày 08/8/2022
và ông đã giao đất cho ông B, bà P2. Phần đất còn lại tại thửa 764 hiện do ông đang
quản lý sử dụng. Do ông B, bà P2 chưa có nhu cầu sử dụng nên nhà thường đóng cửa,
bà S cho rằng phần đất là của ông nên khởi kiện ông là không đúng. Ông đã sử dụng
đất ổn định lâu dài, đã đăng ký được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo
quy định nên bà S tranh chấp là hoàn toàn vô căn cứ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Thiện B và bà Dương Thị
P2 cùng trình bày: vào ngày 30/8/2022, ông bà nhận chuyển nhượng của ông Đặng
Hoàng P1 phần đất diện tích 209,5m
2
, thửa 765, tờ bản đồ số 17, tại ấp T, xã T, huyện
G, tỉnh Tây Ninh. Ông bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đang
quản lý sử dụng. Ông B, bà P2 không đồng ý với yêu cầu của bà Võ Thị S.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 12 - Tây Ninh đã xử (tóm tắt):
“1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị S tranh chấp quyền sử
dụng đất đối với ông Đặng Hoàng P1 đối với phần đất diện tích 77,1 m2 thuộc 1
phần thửa 764 và 1 phần thửa 765, tờ bản đồ 17, tọa lạc tại ấp T, phường G, tỉnh Tây
Ninh (nay là khu phố T, phường G, tỉnh Tây Ninh).
2. Chi phí tố tụng: Bà Võ Thị S phải chịu 5.000.000 (năm triệu) đồng. Ghi nhận
đã nộp xong.
3. Án phí: bà Võ Thị S được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.”.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền và thời hạn kháng cáo theo quy
định của pháp luật.
Ngày 04/8/2025, nguyên đơn, bà Võ Thị S kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ
thẩm, yêu cầu hủy bản án sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, việc thu
thập tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ và quyết định của bản án không phù hợp với
những tình tiết khách quan của vụ án, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của
bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bà Nguyễn Thị Mỹ H đại diện nguyên đơn vắng mặt và có văn bản ghi ngày
07/01/2026 trình bày: tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn có yêu cầu hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bị đơn, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa cơ
quan có thẩm quyền tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan; nguyên đơn đã có đơn yêu cầu thu thập hồ sơ giải quyết hoặc xác minh những
người có phần đất bị bờ đê ấp chiến lược cắt ngang qua như phần đất của nguyên
đơn, những người biết rõ ranh đất của nguyên đơn như bà Nguyễn Thị Đ1, bà Ngô
Hồng T, bà Mai Thị Đ2; cũng như thu thập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử đụng
đất cho ông Đặng Hoàng P1 để xác định việc cấp giấy khi nào, nguồn gốc đất do đâu
mà có... nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không thực hiện. Bản án sơ thẩm đã kết luận
không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án về nguồn gốc và quá trình
sử dụng đất. Do đó, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại.
4
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm và các đương sự chấp hành đúng quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của nguyên đơn, bà Võ Thị S đủ điều kiện để xem
xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: bà S vẫn ở trên phần đất tại thửa 3672 đối diện phần đất tranh chấp
cho đến nay, nhưng chỉ đăng ký và được cấp giấy thửa 3672 mà không đăng ký phần
đất tranh chấp. Bà S cho rằng bà có sử dụng phần đất tranh chấp với hình thức trồng
cây trúc, tầm vong nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Ngoài ra, bà S
cũng không cung cấp được một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất
đai 2013 để chứng minh phần đất tranh chấp thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà S.
Thực tế, ông P1 ở cùng gia đình sử dụng phần đất tranh chấp từ sau 1975 đến nay,
ông P1 sử dụng đất ổn định, xây dựng nhà trên đất và đăng ký kê khai, được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện phần đất tranh chấp đã chuyển nhượng sang tên
cho ông B, bà P2 vào ngày 30/8/2022. Do đó cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của bà S là có căn cứ theo quy định tại Điều 100, 166 của Luật Đất đai
và Điều 166 Bộ luật Dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của
bà S, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của nguyên đơn, bà Võ Thị S thực hiện đúng theo quy định tại
Điều 271, Điều 272, Điều 273 và Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà S giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận
được về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Việc xét xử vắng mặt các đương sự: tất cả các đương sự vắng mặt, đã được
triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai và có đơn xin vắng mặt, thuộc trường hợp quy định tại
Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Tòa án vẫn xét xử phúc thẩm vụ án.
Xét kháng cáo của bà S yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất
[3] Căn cứ Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất (bút lục số 26) do Văn phòng đăng ký
đất đai tỉnh T-Chi nhánh G thực hiện ngày 06/02/2025, bà S tranh chấp quyền sử
dụng đất diện tích 77,1m
2
, trong đó có 75,1m
2
thuộc 1 phần thửa 764 và 2m
2
thuộc 1
phần thửa 765, cùng tờ bản đồ 17, tọa lạc tại ấp T, phường G, tỉnh Tây Ninh (nay là
khu phố T, phường G, tỉnh Tây Ninh).
[4] Về nguồn gốc đất: bà S cho rằng, phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc do
cha mẹ bà S được ông bà ngoại cho cha mẹ bà S từ năm 1960, diện tích khoảng 30
cao đất thổ cư, sau đó bị chính quyền chế độ cũ sử dụng làm ấp chiến lược và bị cắt
thành hai phần. Tuy nhiên, bà S không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh
diện tích đất còn lại của gia đình sau khi lập ấp chiến lược là bao nhiêu, vị trí cụ thể ở
đâu và ranh giới như thế nào. Trong khi đó, ông P1 trình bày, nguồn gốc đất do ông
bà để lại cho cha mẹ và cha mẹ để lại cho ông. Theo đơn xin cấp lại, cấp đổi giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ghi ngày 30/8/2006 của ông Đặng Hoàng P1 thể hiện,
nguồn gốc đất thửa 251 (hiện nay là thửa 764, 765) do nhận thừa kế của mẹ ruột là bà
5
Võ Thị B2 năm 2006, đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành
C731654, số vào sổ 01275/QSDĐ 149 do Ủy ban nhân dân huyện G cấp ngày
16/12/1994.
[5] Về quá trình quản lý, sử dụng đất: bà S cho rằng có sử dụng đất tranh chấp
thông qua việc trồng tràm bông vàng, trúc, tầm vong, nhưng không cung cấp được
chứng cứ chứng minh việc sử dụng đất ổn định, liên tục, công khai theo quy định của
pháp luật đất đai; bà S còn trình bày khi Nhà nước làm đường bê tông có bồi thường
cây trồng cặp mí lộ nhưng không xuất trình được chứng cứ chứng minh. Bà S yêu cầu
Tòa án thu thập chứng cứ là xác minh những người biết rõ ranh đất của nguyên đơn
như bà Nguyễn Thị Đ1, bà Ngô Hồng T, bà Mai Thị Đ2, nhưng kèm theo yêu cầu, bà
S cũng không cung cấp được giấy tờ, tài liệu gì để chứng minh trình bày của những
người này là đúng sự thật khách quan. Trong khi đó, theo bản mô tả ranh giới, mốc
giới thửa đất và sơ họa thửa đất, biên bản thẩm định, xác định ranh giới mốc giới thửa
đất ngày 18/11/2021, thì tất cả những người sử dụng đất liền kề với phần đất mà bà S
đang có tranh chấp với ông P1, đều thống nhất xác định ranh giới đất do ông P1 thực
tế sử dụng.
[6] Về việc kê khai, đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan
đến phần đất tranh chấp:
[6.1] Ngày 23/11/2006, ông Đặng Hoàng P1 được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số vào sổ H 01310/277/2006/QĐ-CT(CN-HL), số phát hành AH 383852
đối với thửa 251 tờ bản đồ số 18, diện tích 638m
2
; địa chỉ thửa đất: ấp T, xã T, huyện
G, tỉnh Tây Ninh. Do đo đạc lại theo hệ thống bản đồ chính quy, ngày 04/5/2021,
thửa 251 tờ bản đồ số 18 đổi thành thửa 40 tờ bản đồ số 17, diện tích 638,2m
2
. Do
thay đổi địa giới hành chính và xác định ranh giới thực tế sử dụng đất với các thửa
đất liền kề, đến ngày 18/5/2022, ông Đặng Hoàng P1 được cấp đổi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, thửa 40 tờ bản đồ số 17 đổi thành thửa 761 tờ bản đồ số 17, diện
tích 651,6m
2
; địa chỉ thửa đất thay đổi thành: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Ngày 29/6/2022, thửa 761 tách thành thửa 764 diện tích 209,5m
2
và thửa 765 diện
tích 442,1m
2
. Ngày 07/7/2022, ông P1 chuyển nhượng thửa 764 cho ông Nguyễn
Thiện B và bà Dương Thị P2. Ngày 08/8/2022, ông P1 đã được chỉnh lý biến động
giảm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn lại thửa 765 diện tích 442,1m
2
.
[6.2] Đối với phần đất tranh chấp diện tích 77,1m
2
, bà Võ Thị S không có giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời, không cung cấp được tài liệu, chứng cứ
chứng minh đã có kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất.
[7] Ông Đặng Hoàng P1 và gia đình đã quản lý, sử dụng thực tế phần đất tranh
chấp ổn định từ sau năm 1975, đã thực hiện việc kê khai, đăng ký và được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua các thời kỳ theo
đúng trình tự, thủ tục pháp luật. Đối với phần diện tích đất thửa 764 đã chuyển
nhượng cho ông Nguyễn Thiện B và bà Dương Thị P2, thì giao dịch chuyển nhượng
đã hoàn tất, người nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất và đang trực tiếp quản lý, sử dụng. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của bà S, là có căn cứ. Bà S kháng cáo nhưng không cung cấp được bất kỳ
6
chứng cứ nào mới để chứng minh, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận
kháng cáo của bà S.
[8] Đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, được chấp nhận.
[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận, lẽ ra bà S
phải chịu án phí phúc thẩm, nhưng do bà S là người cao tuổi và có yêu cầu xét miễn
nộp tạm ứng án phí và án phí, nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định
tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà S đã được miễn nộp tạm ứng án
phí phúc thẩm nên không tuyên hoàn trả.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12,
Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
2. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, bà Võ Thị S.
3. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2025/DS-ST ngày 25 tháng 7 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12-Tây Ninh.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: bà Võ Thị S được miễn án phí.
5. Về hướng dẫn thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo
quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải
thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
6. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 12-Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 12-Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
7
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 03/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 30/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 28/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 27/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 26/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 26/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 26/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 22/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 20/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 20/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 19/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm