Bản án số 94/2022/HNGĐ-ST ngày 28/07/2022 của TAND huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 94/2022/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 94/2022/HNGĐ-ST ngày 28/07/2022 của TAND huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Xuân Trường (TAND tỉnh Nam Định)
Số hiệu: 94/2022/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/07/2022
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN TRUỜNG
TỈNH NAM ĐỊNH
Bản án số: 94/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28-7-2022
V/v: Ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản
khi ly hôn giữa chị V và anh T.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Minh Huệ;
Ông Lê Văn Hùng.
- Thư phiên toà: Ông Trần Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định
tham gia phiên tòa: Bà Khổng Thị Tươi-Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Xuân Trường
xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ số 68/2022/TLST-
HNGĐ ngày 03/6/2022 về việc Ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản khi ly
hôntheo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày
21/7/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị V, sinh năm 1978; địa chỉ: Xóm 13, xã X,
huyện X, tỉnh Nam Định; có mặt;
- Bị đơn: Anh Phan Văn T , sinh năm 1972; địa chỉ: Xóm 13, xã X, huyện
X, tỉnh Nam Định; có mặt
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1 Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện X.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H - Giám đốc Phòng giao dịch
Hành Thiện Agribank, Chi nhánh ngân hàng nông nghiệp phát triển nông huyện
Xuân Trường; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Ông Phan Văn B, sinh năm 1954; bà Phan Thị K, sinh năm 1956 đều
địa chỉ: Xóm 13, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; ông B vắng mặt và đã ủy
2
quyền cho bà Phan Thị K, bà K có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai quá trình giải quyết tại phiên tòa nguyên
đơn chị Phan Thị V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chvà anh Phan Văn T tự nguyện tìm hiểu đi đến
hôn nhân đã được Ủy ban nhân dân X, huyện X, tỉnh Nam Định đăng kết
hôn vào ngày 26/01/1999. Trong quá trình chung sống vợ chồng hay xảy ra mâu
thuẫn, nguyên nhân do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm, vợ
chồng không sự chia sẻ trong cuộc sống. Ngoài ra anh T còn rượu chè chửi
bới xúc phạm chị, đánh đập chị nhiều lần. Khi mâu thuẫn vợ chồng xảy ra gia
đình đã động viên khuyên giải để nhằm hàn gắn hạnh phúc vợ chồng xong
không kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng. Nay chị xác định
vợ chồng không còn tình cảm, hạnh phúc tan vỡ nên nguyện vọng của chị
được xin ly hôn anh Phan Văn T
Về con chung: Vợ chồng 02 con chung tên Phan Thị Tuyết M, sinh
ngày 01/01/2000; hiện cháu M đã trưởng thành và tlập không yêu cầu giải
quyết, Phan Tùng Anh, sinh ngày 17/01/2007. Khi ly hôn chị xin nhận nuôi con
Phan Tùng A không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con, hiện chị đang
bán hàng tạp hóa mức thu nhập bình quân khoảng 8 triệu đồng.
Vtài sản: Vợ chồng 300.000.000đ gửi tiết kiệm tại Chi nhánh ngân
hàng nông nghiệp phát triển nông thôn huyện X - Phòng giao dịch H, sổ tiết
kiệm mang tên anh Phan Văn T. Vợ chồng 01 chiếc xe máy Dream trị giá
10.000.000đ mang tên anh Phan Văn T, anh T đang quản lý; Tiền quần áo còn
lại cụ thể: Số quần áo phật pháp 220 bộ, bình quân mỗi bộ 113.000đ/1 bộ,
giá trị còn lại 25.000.000đ; 11 pho tượng +02 bức tranh diện 01 tủ đông lạnh
tổng giá trị 15.000.000đ. Khi ly đối với số tiền 300 triệu đồng chia đôi. Chiếc
xe máy chị để lại cho anh T sử dụng anh T thanh toán lại cho chị số tiền
5.000.000đ đồng, chị sdụng chiếc xe đạp điện không tính giá trị; chị nhận sử
dụng 220 bộ quần áo phật phát và 11 pho tượng, 02 bức tranh điện và 01 tủ lạnh
các bên có trách nhiệm thanh toán chênh lệch tài sàn sau khi đối trừ. Đối với s
tiền anh T trình bày là đã rút 300 triệu đồng Phòng giao dịch H Agribank, Chi
nhánh ngân hàng nông nghiệp phát triển nông huyện Xuân Trường về dùng chi
tiêu nhân thì anh Tiếm phải chịu trách nhiệm. Đối với stiền lãi tính từ ngày
giửi 23/8/2021 đến 23/8/2022 16.500.000đ, do anh T đã rút trước số tiền gốc
nên đã mt lãi anh T phải chịu trách nhiệm, số tiền lãi còn lại 10.520.548đ. Chị
xác định công sức đóng góp vào khối tài sản ngang nhau. Ngoài ra vợ chồng
còn có một số tài sản khác chị không yêu cầu xem xét.
Về khoản nợ: Vợ chồng vay của ông Phan Văn B Phan Thị K số
tiền là 50.000.000đ để mcửa hàng làm ăn, chị là người trực tiếp hỏi vay nhưng
anh T đều biết, sau đó chị đã trả cho bố mẹ chị được 13.000.000đ, hiện còn nợ
số tiền là 37.000.000đ. Khi ly hôn chị yêu cầu anh T cùng có trách nhiệm trả nợ
nhưng chị trực tiếp nhận trách nhiệm trả nợ cho ông B, bà K.
3
Theo biên bản lấy lời quá trình giải quyết vụ án bđơn anh Phan Văn
T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị V trình bày về việc kết hôn cũng như mâu thuẫn
vợ chồng đúng; Trong cuộc sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn cãi nhau,
mặt khác do tính cách của hai người không hợp nhau, khi mâu thuẫn vợ chồng
xảy ra gia đình đã động viên khuyên giải để nhằm hàn gắn hạnh phúc vchồng
xong không có kết quả, anh xác định vợ chồng vẫn còn tình cảm mong muốn chị
V suy nghĩ lại rút đơn để vchồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dậy con i nên anh
không nhất trí ly hôn nhưng tại phiên tòa anh nhất trí ly hôn.
Về con chung; Vợ chồng 2 con chung như ch V trình bày đúng:
Trong đó 1 con đã trưởng thành anh không đ nghị Tòa án xem xét. Nay ly
hôn anh nhất trí để cho chị Vui tiếp tục nuôi con Phan Tùng A, sinh ngày
17/01/2007; anh không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Ngày 23/8/2021 anh gửi tiết kiệm số tiền 300.000.000đ tại
Phòng giao dịch H Agribank Chi nhánh ngân hàng nông nghiệp phát triển
nông thôn huyện Xuân Trường, sổ tiết kiệm mang tên anh với thời hạn gửi là 12
tháng, lãi suất 5,5% tháng. Cách đây khoản 2 tháng anh đã rút số tiền này đề
tiêu dùng cho nhân không chi cho sinh hoạt gia đình, sau đó anh thế chấp
lại sổ tiết kiệm này để vay lại tránh mất lãi do anh rút khi chưa đến kỳ hạn.
Đối với chiếc xe máy Dream BKS: 18F4 - 0985 xe mang tên anh, giá trị
chiếc xe còn lại 10.000.000đ, khi ly hôn anh nhận sử dụng thanh toán cho V
số tiền 5.000.000đ và chị V được nhận 1 xe đạp điện.
Số quần áo phật pháp 220 bộ, bình quân mỗi blà 113.000đ/1 bộ, giá
trị còn lại 25.000.000đ; 11 pho tượng phật + 02 bức tranh diện 01 tủ đông
lạnh tổng giá trị là 15.000.000đ, khi ly hôn anh để lại cho chị sử dụng chị
Vui thanh toán cho anh giá trị chênh lệnh. Anh xác định công sức đóng góp vào
khối tài sản là ngang nhau.
Về công nợ: Về khoản nợ của ông Phan Văn B và Phan Thị K; anh nhất
trí với lời trình bày của chị Vui, anh nhất trí để chị Vui trả khoản nợ chung của
vợ chồng:
Đối với khoản ncủa ngân hàng: Do anh rút số tiền gốc 300.000.000đ
khi chưa đến kỳ hạn đtránh mất lãi nên anh vay lại số tiền này bằng cách thế
chấp sổ tiết kiệm đó, khi đến ngày được lấy lãi thì ngân hàng sẽ cân đối số tiền
lãi được hưởng của khoản gửi 300.000.00khoản thế chấp sổ tiết kiệm, đối
trừ khoản vay và khoản lãi được hưởng t còn được nhận số tiền lãi là
10.520.548đ của ngân hàng, không phải trả số tiền gốc.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Phan Thị K trình bày: Năm 2017, vợ chồng chị V, anh Thỏi vay
tiền của vợ chồng bà, chị Vui người gọi điện trực tiếp hỏi vay, thời điểm đó
vợ chồng đang làm bãi sắt Quang Ninh, khi chị Vhỏi vay tiền thì vợ chồng
đã nhất trí cho vay, vchồng cho vợ chồng chị Vui, anh Tiếm vay số tiên
50.000.000đ, vợ chồng chị V anh T vay số tiền này đmở cửa hàng bán quần
4
áo, khi vợ chồng cho vợ chồng anh T, chị V vay tiền không viết giấy biên
nhận vì là con cái trong nhà, vay không có lãi, vay không có thời hạn trả, chỉ nói
miệng với nhau khi nào bố mẹ cần thì vợ chồng các con phải trả. Tháng 6
năm 2021, chị V đã trả cho vợ chồng bà số tiền là 13 triệu đồng, thời điểm đó vợ
chồng bà đòi để lấy tiền điều trị bệnh, khi chị V trả số tiền này bố con trong
gia đình không viết giấy tờ; hiện vợ chồng anh T, chị V còn nợ vợ chồng bà số
tiền 37.000.000đ. Số tiền còn n anh T đều biết. Nay chị V xin ly hôn anh
Phan n T yêu cầu anh T chị V cùng phải tch nhiệm trả nợ cho vợ
chồng bà, để thuận lợi cho việc trả nợ thì chị Vucó trách nhiệm trả khoản nợ gốc
này, vợ chồng bà không yêu cầu lãi.
Đại diện ủy quyền của Chi nhánh ngân hàng nông nghiệp phát triển
nông thôn huyện Xuân Trường bà Nguyễn Thị H trình bày:
Ngày 23/8/2021 anh Phan Văn T đến gửi tiết kiệm số tiền 300.000đ tại
Agribank chi nhánh huyện X.
Ngày mở số 23/8/2021 ngày đến hạn 23/08/2022.
Kỳ hạn 12 tháng; lãi suất là 5,5%/năm. Lãi dự tính đến ngày 23/8/2022
16.500.000đ.
Ngày 18/5/2022 anh Phan Văn T đã xuống rút số tiền này, chi nhánh ngân
hàng đã trả khoản tiền này nhưng để tránh cho khách hàng bị thiệt thòi về khoản
tiền lãi nên anh T vay số tiền 300.000.000đ bằng cách thế chấp bảo đảm tiền vay
là sổ tiết kiệm AC0002838949, kỳ hạn 12 tháng, số trên số 300.000.000đ, lãi
suất trên sổ 5,5%/năm, ngày phát hành 23/8/2021 ngày đến hạn 23/8/2022. Hai
bên đã lập hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố giấy tcó giá, thẻ tiết kiệm
số 3205-LAV -202201799 cụ thể bên cho vay (A) AGRIBANK chi nhánh
huyện X Nam Định - Phòng giao dịch H; bên vay (Bên B) ông Phan Văn T, sinh
năm 1972; địa chỉ: xóm 13 , (xóm 30 cũ), xã X, huyện X, tỉnh Nam Định .
Số tiền cho vay 300.000.000đ;
Thời hạn vay 97 ngày, kể từ ngày đến hết ngày 23/8/2022; mức lãi suất
là 7,5%/năm .
Lãi suất tiền vay đến ngày 23/8/2022 là 5.979.452đ.
Lãi tiền gửi ngày 23/8/2022 là 16.500.000đ.
Đối trừ lãi tiền gửi tiền lãi tiền vay, số tiền anh Phan Văn T còn được
nhận về là 10.520.548đ. Số tiền gốc không phải thanh toán cho ngân hàng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên tòa
phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án
của Thẩm phán và Hội đồng xét xử , các đương sự tham gia tố tụng trong quá
trình giải quyết vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án đảm bảo đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành theo quy định
của pháp luật.
Nội dung: n cứ vào khoản Điều 55, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83
5
Luật Hôn nhân và gia đình: Đề nghị Hội đồng xét x, xcông nhận thuận tình
ly hôn giữa chị Phan Thị V và anh Phan Văn T.
Về con chung: Công nhận chị Phan Thị V tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con Phan Tùng A, sinh ngày 17/01/2007. Anh Phan Văn T
không phải cấp dưỡng nuôi con và quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau
khi ly hôn mà không ai được cản trở.
Về tài sản: Giao cho anh Tiếm được shữu, sử dụng số tiền 300.000.000đ
được nhận số tiền lãi 10.520.54 Ngân hàng nông nghiệp phát triển
nông thôn Việt Nam-Chi nhánh ngân hàng nông nghiệp phát triển nông huyện
Xuân Trường - Phòng giao dịch H; 01 xe máy Dream BKS: 18F4 - 0985 mang
tên Phan Văn T trị giá 10.000.000đ.
Buộc anh Phan Văn T trách nhiệm thanh toán chênh lệch tài sản cho chị
Phan Thị V số tiền 162.675.000đ.
Giao cho chị Phan Thị V được sở hữu, sử dụng 220 bộ quần áo phật pháp
giá trị 25.000.000đ; 11 pho tượng phật + 02 bức tranh diện 01 tủ đông lạnh
tổng giá trị là 15.000.000đ; 01 chiếc xe đạp điện không tính giá trị.
Chị Phan Thị V được nhận ở anh Tiếm số tiền 162.675.000đ.
+ Vcông nợ: Giao chPhan Thị V trách nhiệm trả nợ cho ông Phan
Văn Bạn, bà Phan Thị Kệ số tiền là 37.000.000đ.
+ Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam- Chi nhánh
ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn huyện X - Phòng giao dịch H
trách nhiệm thanh toán cho anh Phan Văn T số tiền lãi 10.520.548đ khi đến hạn.
Về án phí: Nguyên đơn chị Phan Thị V phải nộp án ly hôn và án phí tài sản
theo quy định của pháp luật.
Anh Phan Văn T phải nộp án phí tài sản theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ ván đã được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng: Các đương sự đã chấp hành theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị V anh Phan Văn T kết hôn hợp
pháp. Sau khi lấy nhau vợ chồng chung sống không hạnh phúc hay xảy ra mâu
thuẫn, nguyên nhân do tính tình lối sống không hòa hợp, bất đồng quan điểm, vợ
chồng không có sự chia sẻ trong cuộc sống. Nay chị V xin ly hôn anh T nhất trí.
Xét thấy, mẫu thuẫn giữa chị V anh T trầm trọng, mục đích hôn nhân
không đạt được, đời sống chung không th kéo dài, chị V xin ly hôn anh T nhất
nên HĐXX công nhận thuận tình ly hôn giữa chị V và anh T là phù hợp với thực
tế pháp luật theo quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về việc nuôi con chung: Chị V anh T 02 con chung tên Phan Thị
Tuyết M, sinh ngày 01/01/2000; hiện cháu M đã trưởng thành tự lập không
6
yêu cầu giải quyết, Phan Tùng A, sinh ngày 17/01/2007. Khi ly hôn chị V xin
nhận nuôi con và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng, anh T nhất trí. Xét thấy,
chị V anh T thống nhất thỏa thuận việc nuôi con khi ly hôn nên HĐXX s
công nhận chị V tiếp nuôi con Phan Tùng A ghi nhận chị V không u cầu
anh T phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với thực tế quy định của pháp luật
tại Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản: Chị V anh T tài sản số tiền 300.000.000đ: Ngày
23/8/2021 anh Phan Văn T gửi tiết kiệm số tiền 300.000đ tại Agribank chi
nhánh huyện X. Ngày msố 23/8/2021 ngày đến hạn 23/08/2022. Kỳ hạn 12
tháng; lãi suất 5,5%/năm. Lãi dự tính đến ngày 23/8/2022 16.500.000đ.
Ngày 18/5/2022 anh Phan Văn T đã rút số tiền này. Sau đó anh T thế chấp lại sổ
tiết kiệm này để tránh mất lãi. Như đại diện y quyền của chi nhánh ngân hàng
nông nghiệp phát triển nông thôn huyện Xuân Trương cung cấp sau khi cân đối
khoản vay lãi tính đến ngày 23/8/2022 phía ngân hàng còn phải trả i cho
anh T số tiền lãi là 10.520.548đ; không phải trả tiền gốc. Xét thấy, số tiền gốc và
lãi là tài sản chung của vợ chồng, khi anh Tiếm gửi số tiền này chưa đến hạn anh
T đã rút số tiền gốc 300.000.000đ về để chi tiêu nhân không dùng vào việc
chi tiêu cho gia đình nên anh T phải chịu trách nhiệm về khoản tiền này. Anh T
rút số tiền này khi chưa đến kỳ hạn đương nhiên sẽ bmất lãi. Theo như số liệu
phía ngân hàng cung cấp ngày 23/8/2022 anh Tiếm mới đến hạn rút thì số tiền
lãi 16.500.000đ. Do anh T rút trước hạn để tránh mất lãi bằng cách anh Tiếm
thế chấp lại sổ tiết kiệm này anh T phải trả cho ngân hàng số tiền lãi
5.979.452 đồng. vậy, anh T phải chịu trách nhiệm khoản trả lãi này cho ngân
hàng và khỏan này ngân hàng trừ trực tiếp sau khi cân đối lãi ngân hàng phải trả
cho anh T số tiền gửi đến hạn được rút, anh T không phải thanh toán tiền gốc
cho ngân hàng ngân hàng trách nhiệm thanh toán cho anh T số tiền lãi
10.520.548đ. Như vậy HĐXX đánh giá số tiền lãi 16.500.000đ anh T trách
nhiệm phải toán cho chị V1/2 số tiền lãi là 8.250.000đ.
Chị Vui anh T thống nhất: Chị V sử dụng 220 bộ quần áo phật pháp trị
giá giá trị 25.000.000đ; 11 pho tượng phật + 02 bức tranh diện 01 tủ đông
lạnh tổng giá trị 15.000.000đ; 01 chiếc xe đạp điện không tính giá trị. Anh T
nhận sử dụng 01 chiếc xe máy Dream BKS: 18F4 - 0985 gtrị 10.000.000đ xe
mang tên anh Phan Văn T. Xét thấy, chị V anh T thống nhất thỏa thuận được
những tài sản này phù hợp.
Về công nợ; Chị V anh T thống nhất vợ chồng còn nợ của ông Phan
Văn B, Phan Thị Ksố tiền gốc 37.000.000đ. Xét thấy, chV nhận trách
nhiệm trả nợ chung của vợ chồng cho ông Ba, bà K phù hợp.
Đối với khoản nợ của ngân hàng: Anh Ti được nhận số tiền lãi của khoản
tiền 300.000.000đ sau khi đã đối trừ khoản vay phải trả lãi ngân hàng còn được
nhận là 10.520.548đ.
Chị V và anh T xác định công sức đóng góp vào khối tài sản là ngang nhau
là phù hợp.
7
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn án phí tài sản theo quy
định của pháp luật.
Anh Phan Văn T phải chịu án phí tài sản mà mình được hưởng theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 55, Điều 59, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân gia đình;
Điều 468 của Bộ luật dân sự; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a
khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản về
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: X công nhn thun lyn giữa chị Phan Thị V
anh Phan n T.
2. Về nuôi con chung: Công nhận chị Phan Thị V tiếp tục trực tiếp chăm
c, nuôi ỡng, giáo dục con Phan Tùng A, sinh ngày 17/01/2007. Anh Phan
Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con và quyền, nghĩa vụ thăm nom chung
sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản: Giao cho anh T được sở hữu, sử dụng số tiền 300.000.00
được nhận số tiền i 10.520.54 Ngân hàng nông nghiệp phát triển
nông thôn Việt Nam-Chi nhánh ngân hàng nông nghiệp phát triển nông huyện X
- Phòng giao dịch Hà; 01 xe máy Dream trị giá 10.000.000đ; BKS: 18F4 - 0985
mang tên Phan Văn T.
Buộc anh Phan Văn T trách nhiệm thanh toán chênh lệch tài sản cho chị
Phan Thị Vui số tiền 162.675.000đ.
Giao cho chị Phan Thị V được sở hữu, sử dụng 220 bộ quần áo phật pháp
trị giá 25.000.000đ; 11 pho tượng phật + 02 bức tranh diện 01 tủ đông lạnh
tổng trị giá là 15.000.000đ; 01 chiếc xe đạp điện không tính giá trị.
Chị Phan Thị Vui được nhận ở anh Phan Văn T số tiền 162.675.000đ.
+ Vcông nợ: Giao chị Phan Thị V trách nhiệm trả nợ chung cho ông
Phan Văn Bạn, bà Phan Thị K số tiền gốc là 37.000.000đ.
+ Ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam- Chi nhánh
ngân hàng nông nghiệp phát triển nông huyện X - Phòng giao dịch H trách
nhiệm thanh toán cho anh Phan Văn T số tiền lãi 10.520.548đ khi đến hạn.
Kể từ khi người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án, số tiền
người phải thi hành án chậm thi hành án phải chịu lãi suất hàng tháng theo mức
lãi suất quy định tại điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tài sản và công nợ của chị Phan Thị V 202.675.000đ.
Tài sản của anh Phan Văn T: 157.845.548đ.
8
4. Về án phí: Chị Phan Thị V phải nộp án phí ly hôn 300.000đ và
10.133.000đ án phí tài sản được trừ vào số tiền tạm ứng án p10.500.000 đã
nộp theo biên lai thu số 0002995 ngày 03/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định; chị V được hoàn lại số tiền 67. 000đ.
Anh Phan Văn T phải nộp án phí tài sản là 7.892.000đ.
5.Về quyền kháng cáo: Các đương sự quyền kháng cáo trong hạn 15
ngày, kể từ ngày tuyên án;
Nơi nhận:
- TAND tỉnh: 01 bản;
- VKSND tỉnh + huyện: 02 bản;
- Chi cục THADS huyện: 01 bản;
- UBND xã X: 01 bản;
- Các đương sự : 02 bản;
- Lưu hồ sơ: 02 bản;
- Lưu văn phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Phạm Ngọc Long
9
10
11
12
13
14
15
16
17
Tải về
Bản án số 94/2022/HNGĐ-ST Bản án số 94/2022/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất