Bản án số 94/2020/KDTM-ST ngày 29/09/2020 của TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 94/2020/KDTM-ST

Tên Bản án: Bản án số 94/2020/KDTM-ST ngày 29/09/2020 của TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về cung ứng dịch vụ
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Hóc Môn (TAND TP. Hồ Chí Minh)
Số hiệu: 94/2020/KDTM-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2020
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thuê tài chính
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 94/2020/KDTM-ST
Ngày: 29-9-2020
V/v tranh chấp Hợp đồng
cho thuê tài chính.
CỘNG A HỘI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, TP.HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm
2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Hiếu Hạnh Thư Tòa án nhân dân huyện
Hóc Môn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Tâm Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử thẩm công khai vụ án thụ số: 58/2019/TLST-KDTM
ngày 18 tháng 9 năm 2019 về việc “Tranh chấp Hợp đồng cho thuê tài chínhtheo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 446/2020/QĐXXST-KDTM ngày 20 tháng 8 năm
2020 Quyết định hoãn phiên tòa số: 554/2020/QĐST-KDTM ngày 10 tháng 9 năm
2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
Công ty cho thuê Tài chính TNHH MTV Quốc tế C.
Địa chỉ: Tầng 28, Cao ốc S, số 37 đường T, phường B, Quận 1, Tp.H.
- Đại diện theo pháp luật của Công ty: Ông W, chức danh: Tổng Giám đốc.
- Đại diện do Công ty ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T (có mặt)
Địa chỉ liên lạc: Tầng 28, Cao ốc S, số 37 đường T, phường B, Quận 1, Tp.H.
(Giấy ủy quyền số 74.2019/GUQ-COL ngày 16/8/2019).
2. Bị đơn: Công ty TNHH Sản xuất Thương mại H (vắng mặt)
Địa chỉ: 85C đường N, ấp 5, xã X, huyện H, Tp.H
- Đại diện theo pháp luật của ng ty: Ông Hoàng B, chức danh: Chủ tịch Hội
đồng thành viên.
Địa chỉ: 43 đường G, phường T, quận T, Tp.H.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Hoàng B, sinh năm 1982 (vắng mặt)
2
Địa chỉ: 43đường G, phường T, quận T, Tp.H.
3.2. Ông Hoàng Xuân K, sinh năm 1974 (vắng mặt)
Địa chỉ: 43đường G, phường T, quận T, Tp.H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện đề ngày 16/8/2019 các lời khai trong qtrình giải
quyết ván, cũng như tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn Công ty cho thuê Tài chính
TNHH MTV Quốc tế C có đại diện là ông Nguyễn Văn T trình bày:
Ngày 18/5/2017 Công ty TNHH Sản xuất Thương mại H Công ty cho thuê
Tài chính TNHH MTV Quốc tế C kết Hợp đồng cho thuê tài chính số B170504603
nội dung Công ty C tài trợ tài chính số tiền 1.260.000.000 đồng đCông ty H
mua phương tiện máy móc phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh 01 xe đào
bánh xích biển số 50XA-4126 01 Búa sử dụng cho máy đào hiệu PCF 400 (có bàn
xoay) từ Công ty TNHH KD TM DV K.
Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán tiền thuê của Công ty H theo Hợp đồng cho
thuê tài chính, Công ty C chấp nhận thư bảo lãnh thanh toán của cá nhân ông Hoàng B
ông Hoàng Xuân K ngày 18/5/2017. Phía Công ty H cược cho Công ty C
số tiền 180 triệu đồng.
Sau khi hai bên Hợp đồng cho thuê tài chính, ngày 30/5/2017 Công ty C
Hợp đồng mua bán số B170504603-PC để mua các tài sản thuê nói trên với Công ty
TNHH KD TM DV K, tổng giá trị mua bán các tài sản này 1,8 tđồng, trong đó
Công ty H trả trước 540 triệu đồng và Công ty C tài trợ vốn 1.260.000.000 đồng. Ngày
09/6/2017 Công ty H và Công ty TNHH KD TM DV K đã Biên bản bàn giao
nghiệm thu tài sản thuê. Tài sản thuê được cấp Giấy chứng nhận đăng ngày
14/6/2017 đứng tên chủ sở hữu là Công ty cho thuê Tài chính TNHH MTV Quốc tế C.
Hợp đồng cho thuê tài chính số B170504603 được cấp Giấy chứng nhận đăng ký
giao dịch bảo đảm ngày 12/6/2017.
Theo Hợp đồng cho thuê tài chính thỏa thuận thời hạn thuê 36 tháng, kể từ
ngày 09/6/2017 đến ngày 25/6/2020, tài sản thuê do Công ty H quản sử dụng, hàng
tháng Công ty H phải thanh toán cho Công ty C tiền thuê bao gồm một phần vốn gốc
khoản tiền lãi được tính trên nợ giảm dần cho đến khi trả đủ số tiền vốn gốc
Công ty C đã tài trợ theo Hợp đồng thuê. Trong quá trình thực hiện hợp đồng thuê, thời
gian đầu Công ty H thanh toán tiền thuê đầy đủ theo thỏa thuận, kể từ ngày 25/11/2018
Công ty H ngừng thanh toán tiền thuê cho Công ty C. Ngày 11/3/2019 Công ty C
thông báo chấm dứt Hợp đồng thuê và yêu cầu Công ty H thanh toán tổng số tiền thuê
còn nợ 781.988.428 đồng. Phía Công ty H cam kết thanh toán nhưng không thực
hiện nên ngày 16/8/2019 Công ty C khởi kiện yêu cầu Công ty H thanh toán số tiền
805.364.053 đồng, trong đó nợ gốc là 700 triệu đồng, nợ tiền lãi tính đến ngày
13/3/2019 81.988.428 đồng nợ tiền lãi quá hạn từ ngày 13/3/2019 đến ngày
16/8/2019 là 23.375.625 đồng.
3
Trong quá trình Tòa án đang thụ lý giải quyết, Công ty H có chuyển khoản thanh
toán cho Công ty C 02 đợt với tổng số tiền 100 triệu đồng, cụ thể ngày 24/3/2020
thanh toán 50 triệu đồng ngày 10/6/2020 thanh toán tiền 50 triệu đồng.
Sau khi trừ 100 triệu đồng Công ty H đã thanh toán vào nợ gốc, tính đến thời
điểm 19/6/2020 Công ty H còn nợ của Công ty C số tiền 770.344.352 đồng, trong
đó:
- N gc: 600 triu đồng
- N tin lãi nh đến ngày 13/3/2019: 81.988.428 đồng
- N tin lãi quá hn t ngày 13/3/2019 đến ngày 19/6/2020: 88.355.924 đồng.
Căn cứ Hợp đồng cho thuê tài chính do hai bên ngày 18/5/2017 thực tế
thanh toán tiền thuê giữa hai bên, Công ty C đnghị Tòa án xem xét buộc Công ty H
thanh toán tiền thuê còn nợ tính đến thời điểm 19/6/2020 770.344.352 đồng, trong
đó: nợ gốc 600 triệu đồng, tiền lãi trong hạn tiền lãi quá hạn 170.344.352
đồng.
Công ty C yêu cầu Công ty H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số
tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng kể
từ ngày 20/6/2020 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
Trong trường hợp Công ty H không thanh toán số tiền thuê còn nợ, Công ty C đề
nghị được xử phát mãi tài sản thuê gồm 01 xe đào bánh xích biển số 50XA-4126,
nhãn hiệu HITACHI EX450-5 01 Búa sử dụng cho máy đào hiệu PCF 400 (có bàn
xoay) để thu hồi nợ.
Trường hợp Công ty H không thanh toán đầy đủ số tiền thuê còn nợ, Công ty C
yêu cầu ông Hoàng B ông Hoàng Xuân K trách nhiệm liên đới thanh toán cho
Công ty C cho đến khi thanh toán hết toàn bộ số tiền còn nợ.
Đối với số tiền 180 triệu đồng do Công ty H cược bảo đảm khi hợp đồng
cho thuê tài chính, theo quy định tại Điều 13 của Hợp đồng cho thuê tài chính, tiền
cược bảo đảm sẽ hoàn lại cho Công ty H không hưởng lãi sau khi kết thúc hợp
đồng thuê, với điều kiện là Công ty H đã thực hiện tất cả các nghĩa vụ quy định tại hợp
đồng thuê. Do đó, Công ty C đồng ý hoàn trả lại số tiền 180 triệu đồng cho Công ty H
ngay sau khi Công ty H thanh toán đầy đủ các khoản nợ (gốc lãi phát sinh) cho
Công ty C.
Tại bản tự khai đề ngày 24/12/2019, đại diện bị đơn Công ty TNHH Sản xuất
Thương mại H là ông Hoàng B trình bày:
Công ty TNHH H thống nhất về quá trình ký kết thực hiện Hợp đồng cho thuê tài
chính như đại diện phía nguyên đơn Công ty cho thuê Tài chính TNHH MTV Quốc tế
C trình bày.
Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng cho thuê tài chính số
B170504603 ngày 18/5/2017 do hai bên ký kết, Công ty H có chuyển cho Công ty C số
4
tiền ký cược bảo đảm là 180 triệu đồng.
Sau khi Công ty H Công ty C ký Hợp đồng cho thuê tài chính Phụ lục đi
kèm, Công ty H thanh toán tiền thuê theo đúng thỏa thuận. Tuy nhiên, do hoạt động
kinh doanh gặp khó khăn nên từ ngày 25/11/2018 Công ty H chậm trễ ngưng chưa
thanh toán tiền thuê cho Công ty C. Tính đến thời điểm ngày 11/3/2019 Công ty C
thông báo chấm dứt Hợp đồng thuê thì số tiền thuê Công ty H còn nợ chưa thanh toán
cho Công ty C là 781.988.428 đồng, trong đó nợ gốc là 700 triệu đồng.
Tính đến thời điểm Công ty C khởi kiện, Công ty H xác nhận tổng số tiền thuê
còn nợ của Công ty C 805.364.053 đồng, trong đó ngốc 700 triệu đồng, nợ tiền
lãi tính đến ngày 13/3/2019 81.988.428 đồng, nợ tiền lãi quá hạn từ ngày 13/3/2019
đến ngày 16/8/2019 là 23.375.625 đồng.
Tuy nhiên, hiện nay Công ty H đang gặp khó khăn về tài chính, do vậy, Công ty
H chấp nhận trả nợ nhưng đề nghị được thanh toán toàn bộ tiền thuê còn lại bao gồm
dư nợ gốc và tiền lãi phát sinh thi hành nhiều lần cho đến khi hết nợ.
Ngoài ra, Công ty H đề nghị trừ số tiền ký quỹ 180 triệu đồng vào nợ gốc,
Công ty H chấp nhận thanh toán số nợ còn lạichấp nhận tiếp tục chịu khoản tiền lãi
quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận
trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
Đối với tài sản thuê gồm 01 xe đào bánh xích biển s50XA-4126, nhãn hiệu
HITACHI EX450-5 01 Búa sử dụng cho máy đào hiệu PCF 400 (có bàn xoay) hiện
nay đang do Công ty H quản sdụng. Giấy chứng nhận đăng tài sản đối với tài
sản 01 xe đào bánh xích biển số 50XA-4126, nhãn hiệu HITACHI EX450-5 do
Công ty C đứng tên đăng ký chủ sở hữu, bản chính Giấy chứng nhận đăng tài sản
do Công ty C quản lý. Công ty H đề nghị sau khi Công ty H thanh toán xong toàn bộ
tiền thuê còn lại bao gồm nợ gốc lãi phát sinh, Công ty C trách nhiệm thực
hiện thủ tục sang tên bàn giao bản chính Giấy chứng nhận đăng tài sản để Công
ty H đứng tên chủ sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật đối với tài sản thuê.
Tòa án đã tiến hành hòa gii nhưng các bên không tự thỏa thuận được với nhau về
việc giải quyết vụ án, phía bị đơn Công ty TNHH Sản xuất Thương mại H người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hoàng B và ông Hoàng Xuân K vắng mặt nên Tòa
án nhân dân huyện Hóc Môn quyết định đưa v án ra xét x để Hi đồng xét x xem
xét, quyết định.
Ý kiến của Viện Kiểm sát: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp
luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư phiên tòa những người
tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ ánphát biểu ý kiến về việc giải quyết
vụ án như sau:
- Qua quá trình nghiên cứu hồ vụ án, thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ
vụ án kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa cho thấy Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư
phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định do Bộ Luật Tố tụng dân sự quy định. Tuy
5
nhiên, về thời hạn chuẩn bị xét xử chưa đảm bảo theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố
tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án
thể hiện yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn sở nên đề nghị Hội đồng xét xử
chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được xem
xét tại phiên tòa căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn nhận
định:
[2] Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn Công ty cho thuê Tài chính TNHH MTV Quốc tế C căn cứ Hợp
đồng cho thuê tài chính số B170504603 do Công ty TNHH Sản xuất Thương mại H
Công ty cho thuê Tài chính TNHH MTV Quốc tế C ngày 18/5/2017 khởi kiện yêu
cầu ng ty TNHH Sản xuất Thương mại H trả tiền thuê áp dụng các biện pháp
theo quy định của pháp luật để bảo đảm bên cho thuê thực hiện các quyền của chủ sở
hữu đối với tài sản cho thuê nên đây là tranh chấp Hợp đồng cho thuê tài chính.
Bị đơn là Công ty TNHH Sản xuất Thương mại H trụ sở trên địa bàn huyện
Hóc Môn. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Tp.HCM thụ giải quyết theo
thủ tục thẩm đúng thủ tục tố tụng được quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b
khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[3] Công ty TNHH Sản xuất Thương mại H (là bị đơn trong vụ án) và những
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Hoàng B và ông Hoàng Xuân K đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng
hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng
dân sự 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[4] Về nội dung:
Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của phía nguyên đơn Công ty cho thuê Tài chính
TNHH MTV Quốc tế C yêu cầu phía bị đơn Công ty TNHH Sản xuất Thương mại H
trả toàn bộ tiền thuê còn lại yêu cầu áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp
luật để bảo đảm cho bên cho thuê thực hiện các quyền của chủ shữu đối với tài sản
cho thuê, cụ thể:
- Yêu cầu Công ty TNHH Sản xuất Thương mại H trả toàn bộ tiền thuê còn nợ
bao gồm nợ gốc tiền lãi tính đến thời điểm Tòa án xét xử (ngày 29/9/2020) với
tổng số tiền 793.640.873 đồng, trong đó nợ gốc 600 triệu đồng tiền lãi
193.640.873 đồng (nợ tiền lãi tính đến 13/3/2019 là 81.988.428 đồng và nợ tiền lãi quá
hạn từ ngày 13/3/2019 đến 29/9/2020 là 111.652.455 đồng). Thi hành một lần ngay sau
khi án hiệu lực pháp luật; yêu cầu Công ty H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi
quá hạn của stiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận
6
trong hợp đồng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xthẩm cho đến khi thanh toán
xong khoản nợ gốc này.
- Trong trường hợp Công ty H không thanh toán nợ gốc lãi phát sinh,
Công ty C đề nghị được xử phát mãi tài sản thuê gồm 01 xe đào bánh xích biển số
50XA-4126, nhãn hiệu HITACHI EX450-5 01 Búa sử dụng cho máy đào hiệu PCF
400 (có bàn xoay) để thu hồi nợ.
- Trường hợp Công ty H không thanh toán đầy đủ dư nợ gốc lãi phát sinh,
Công ty C yêu cầu ông Hoàng B và ông Hoàng Xuân K có trách nhiệm liên đới trả tiền
cho Công ty C cho đến khi thanh toán hết toàn bộ số tiền còn nợ.
- Công ty C đồng ý hoàn trả lại cho Công ty H số tiền cược 180 triệu đồng
ngay sau khi Công ty H thanh toán đầy đủ các khoản nợ (gốc lãi phát sinh) cho
Công ty C.
Hội đồng xét xử xét thấy căn cứ Hợp đồng cho thuê tài chính số B170504603 do
Công ty TNHH Sản xuất Thương mại H Công ty cho thuê Tài chính TNHH MTV
Quốc tế C ngày 18/5/2017 thể hiện giữa hai bên thỏa thuận Công ty C cấp tín
dụng cho Công ty H số tiền 1.260.000.000 đồng để mua tài sản cho Công ty H thuê
sử dụng cho mục đích hoạt động của Công ty H. Theo đó, hàng tháng Công ty H thỏa
thuận sẽ trả cho Công ty C tiền thuê bao gồm một phần nợ gốc khoản tiền lãi
được tính trên nợ giảm dần, thời hạn thanh toán tiền thuê 03 năm (từ ngày
09/6/2017 đến 09/6/2020), lãi suất thỏa thuận 9,04%/năm. Hợp đồng cho thuê tài
chính đã được đăng ngày 12/6/2017 tại Trung tâm đăng giao dịch tài sản tại
Tp.HCM theo quy định của pháp luật.
Để đảm bảo nghĩa vụ của bên thuê theo Hợp đồng cho thuê tài chính, bên thuê là
Công ty H đã ký cược cho bên cho thuê là Công ty C số tiền 180 triệu đồng và Thư bảo
lãnh cá nhân của ông Hoàng B và ông Hoàng Xuân K.
Căn cứ quá trình hợp tác giữa hai bên thể hiện tài sản cho thuê là 01 xe đào bánh
xích biển số 50XA-4126, nhãn hiệu HITACHI EX450-5 01 Búa sử dụng cho máy
đào hiệu PCF 400 (có bàn xoay) đã được đăng ký quyền sở hữu đứng tên bên cho thuê
Công ty cho thuê Tài chính TNHH MTV Quốc tế C tài sản này đã được bàn giao
cho bên thuê là Công ty TNHH Sản xuất Thương mại H quản lý sử dụng.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng cho thuê tài chính, do bên thuê Công ty
H vi phạm nghĩa vụ trả tiền thuê, bên cho thuê Công ty C đã thông báo chấm dứt
hợp đồng cho thuê tài chính đồng thời yêu cầu bên thuê thanh toán toàn bộ số tiền thuê
còn nợ. Trên sở Biên bản làm việc vào ngày 01/4/2019 ngày 23/5/2019 thể hiện
đại diện Công ty H ông Hoàng B xác nhận tính đến ngày 23/5/2019 tiền thuê bao
gồm cả gốc lãi Công ty H còn nchưa trả cho Công ty C 791.745.164 đồng.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ kiện, đại diện phía bên thuê Công ty H ông
Hoàng B xác nhận tính đến thời điểm Công ty C khởi kiện, số tiền thuê Công ty H
chưa trả cho Công ty C là 805.364.053 đồng, trong đó nợ gốc là 700 triệu đồng, nợ tiền
7
lãi tính đến ngày 13/3/2019 81.988.428 đồng, nợ tiền lãi quá hạn từ ngày 13/3/2019
đến ngày 16/8/2019 là 23.375.625 đồng. Phía bên cho thuê là Công ty C c nhận ngày
24/3/2020 ngày 10/6/2020 Công ty H chuyển khoản thanh toán cho Công ty C
tổng số tiền 100 triệu đồng và chấp nhận trừ số tiền Công ty H đã thanh toán vào dư nợ
gốc. Như vậy, nợ gốc Công ty H còn nợ chưa trả cho Công ty C 600 triệu đồng.
Do đó, phía Công ty C yêu cầu Công ty H trả số nợ gốc còn lại 600 triệu đồng
cơ sở chấp nhận.
Xét thấy hợp đồng cho thuê tài chính các bên thỏa thuận lãi suất 9,04%/năm.
Căn cứ Điều 91 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010 có quy định các tổ chức tín dụng
và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất. Do đó, phía Công ty C yêu cầu áp dụng
mức lãi suất hai bên thỏa thuận làm căn cứ tính lãi là có cơ sở chấp nhận.
Xét Hợp đồng cho thuê tài chính thời hạn 36 tháng kể từ ngày 09/6/2017,
phương thức thanh toán mỗi tháng trả một phần nợ gốc khoản tiền lãi tính trên
nợ giảm dần. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty H đã thực hiện nghĩa vụ
thanh toán tiền thuê theo lịch trình thanh toán tiền thuê nhưng kể từ ngày 25/11/2018
Công ty H vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Tại mục 6.5 Điều 6 của hợp đồng các bên
có thỏa thuận bên thuê phải trả tiền lãi trên dư nợ gốc trong hạn chưa trả và tiền lãi trên
nợ gốc quá hạn chưa trả trong trường hợp bên thuê vi phạm nghĩa vụ không thanh toán
tiền vốn gốc đúng hạn như được thể hiện trên lịch trình thanh toán tiền thuê. Tại Điều 8
của hợp đồng các bên thỏa thuận việc chuyển nợ gốc quá hạn trong trường hợp bên
thuê không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản vốn gốc và thuế GTGT
(nếu có) phải thanh toán. Do đó, bên cho thuê là Công ty C yêu cầu bên thuê là Công ty
H trả tiền lãi trên nợ gốc trong hạn chưa trả tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả
tính đến thời điểm Tòa án xét xử với số tiền 193.640.873 đồng (nợ tiền lãi tính đến
13/3/2019 81.988.428 đồng nợ tiền lãi quá hạn từ ngày 13/3/2019 đến 29/9/2020
111.652.455 đồng) yêu cầu Công ty H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá
hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong
hợp đồng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thanh toán xong
khoản nợ gốc này phù hợp với thỏa thuận trong Hợp đồng cho thuê tài chính phù
hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Do Công ty H vi phạm nghĩa vụ thanh toán, phía bên thuê Công ty H yêu cầu trả
toàn bộ tiền thuê còn lại thi hành nhiều lần cho đến khi hết nợ, tuy nhiên phía bên cho
thuê Công ty C không đồng ý, do đó, để bảo đảm quyền lợi của bên cho thuê, việc
Công ty C yêu cầu Công ty H thanh toán toàn bộ tiền thuê còn lại, thi hành một lần
ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với yêu cầu áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật để bảo đảm
cho bên cho thuê thực hiện các quyền của chủ shữu đối với tài sản cho thuê, Hội
đồng xét xử xét thấy Hợp đồng cho thuê tài chính thời hạn 36 tháng (từ ngày
09/6/2017 đến 09/6/2020), căn cứ Biên bản bàn giao nghiệm thu tài sản do Công ty
TNHH KD TM DV K Công ty TNHH SX TM H kết thể hiện tài sản thuê 01
xe đào bánh xích biển số 50XA-4126, nhãn hiệu HITACHI EX450-5 01 Búa sử
8
dụng cho máy đào hiệu PCF 400 (có bàn xoay) được bàn giao cho bên thuê tài sản
Công ty H vào ngày 09/6/2017. Căn cứ Thông báo bắt đầu thuê do Công ty C và Công
ty H kết thể hiện ngày bắt đầu thuê 09/6/2017, ngày hết hạn là ngày 25/6/2020.
Hiện nay bên thuê không thanh toán tiền thuê theo thỏa thuận, bên cho thuê yêu cầu
bên thuê trả toàn bộ tiền thuê còn nợ, phía bên thuê tài sản đề nghị bên cho thuê
Công ty C thực hiện thủ tục sang tên bàn giao bản chính Giấy chứng nhận đăng
tài sản để Công ty H đứng tên chủ sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật đối với
tài sản thuê. Tuy nhiên, do tài sản thuê đứng tên đăng quyền sở hữu của bên cho
thuê không được coi tài sản của bên thuê, hiện nay thời hạn cho thuê theo hợp
đồng cho thuê tài chính đã kết thúc, mặc dù trong Hợp đồng cho thuê tài chính hai bên
thỏa thuận bên thuê được quyền yêu cầu mua tài sản cho thuê theo giá danh nghĩa
thấp hơn giá trị thực tế của tài sản cho thuê tại thời điểm mua lại nhưng hiện nay bên
thuê không yêu cầu mua tài sản cho thuê. Do đó, bên cho thuê Công ty C yêu cầu
được xphát mãi tài sản thuê gồm 01 xe đào bánh xích biển số 50XA-4126, nhãn
hiệu HITACHI EX450-5 01 Búa sử dụng cho máy đào hiệu PCF 400 (có bàn xoay)
để thu hồi nợ phù hợp với thỏa thuận trong Hợp đồng cho thuê tài chính nên Hội
đồng xét xử chấp nhận.
Đối với số tiền 180 triệu đồng do Công ty H cược cho Công ty C, xét thấy tại
Điều 13 của Hợp đồng cho thuê tài chính hai bên thỏa thuận tiền cược bảo đảm s
hoàn lại cho Công ty H không hưởng lãi sau khi kết thúc hợp đồng thuê, với điều
kiện là Công ty H đã thực hiện tất cả các nghĩa vụ quy định tại hợp đồng thuê. Do vậy,
Công ty C đồng ý hoàn trả lại cho Công ty H số tiền cược 180 triệu đồng ngay sau
khi Công ty H thanh toán đầy đủ các khoản nợ (gốc và lãi phát sinh) cho Công ty C
phù hợp với thỏa thuận trong Hợp đồng cho thuê tài chính.
Ngoài ra, xét thấy khi các bên Hợp đồng cho thuê tài chính, để đảm bảo nghĩa
vụ của bên thuê, bên bảo lãnh ông Hoàng B ông Hoàng Xuân K đã đồng ý
Thư bảo lãnh nhân ngày 18/5/2017 để bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thanh toán
bên thuê phải trả cho bên cho thuê theo hợp đồng thuê. Hiện nay bên được bảo lãnh vi
phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê, do đó bên Công ty C yêu cầu ông Hoàng B và ông
Hoàng Xuân K trách nhiệm thay bên được bảo lãnh là Công ty H thực hiện toàn b
nghĩa vụ của bên được bảo lãnh đối với bên Công ty C trong trường hợp Công ty H
không thanh toán đầy đủ số tiền thuê cho Công ty C sở nên Hội đồng xét xử
chấp nhận.
Đối với phía bị đơn là Công ty TNHH Sản xuất Thương mại H và người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng B ông Hoàng Xuân K mặc đã được Tòa án
tống đạt hợp lệ thông báo thụ vụ án, thông báo phiên hòa giải tiếp cận công khai
chứng cứ, thông báo kết quả tiếp cận công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét
xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng đại diện Công ty H, ông B ông K đều vắng
mặt không do. Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy
định: Đương sự nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh không đưa ra được
chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cthì Tòa án giải quyết vụ việc theo những
9
chứng cđã thu thập được trong hồ vụ việc”. Như vậy, các đương sự đã từ bỏ
quyền chứng minh của mình phải chấp nhận theo những chứng cứ do phía nguyên
đơn đưa ra.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc Công ty TNHH Sản
xuất Thương mại H trả cho Công ty cho thuê Tài chính TNHH MTV Quốc tế C toàn
bộ tiền thuê còn lại bao gồm nợ gốc tiền lãi tính đến thời điểm Tòa án xét xử
(ngày 29/9/2020) với số tiền là 793.640.873 đồng (trong đó nợ gốc 600 triệu
đồng, tiền lãi 193.640.873 đồng) tiền lãi quá hạn của stiền nợ gốc chưa thanh
toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày tiếp theo của
ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Thi hành một lần ngay
sau khi án hiệu lực pháp luật. Trường hợp Công ty H không thanh toán đầy đủ
nợ gốc và lãi phát sinh cho Công ty cho thuê Tài chính TNHH MTV Quốc tế C thì ông
Hoàng B và ông Hoàng Xuân K trách nhiệm liên đới trả tiền cho Công ty C cho đến
khi thanh toán hết toàn bộ số tiền còn nợ. Công ty C trách nhiệm hoàn trả lại cho
Công ty H số tiền 180 triệu đồng ngay sau khi Công ty H thanh toán đầy đủ các khoản
nợ (gốc lãi phát sinh) cho Công ty C. Trong trường hợp Công ty H không thanh
toán dư nợ gốc và lãi phát sinh, Công ty C được quyền phát mãi tài sản thuê gồm 01 xe
đào bánh xích biển số 50XA-4126, nhãn hiệu HITACHI EX450-5 01 Búa sử dụng
cho máy đào hiệu PCF 400 (có bàn xoay) để thu hồi nợ.
[4] Về án phí thẩm: nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả trả tiền thuê áp dụng
các biện pháp theo quy định của pháp luật để bảo đảm bên cho thuê thực hiện các
quyền của chủ sở hữu đối với tài sản cho thuê được Tòa án chấp nhận, theo quy định
tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, bị đơn phải
chịu toàn bộ án phí dân sự thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn
được Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 30, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 227 Điều 273 Bộ Luật
Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 335, Điều 338, Điều 339, Điều 340 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ Điều 91, Điều 113 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ các Điều 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23 và Điều 24 Nghị định 39/2014/NĐ-CP
ngày 07/5/2014;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày
11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi
phạm;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
10
1/. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cho thuê Tài
chính TNHH MTV Quốc tế C về việc yêu cầu Công ty TNHH Sản xuất Thương mại H
trả toàn bộ tiền thuê còn lại yêu cầu áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp
luật để bảo đảm cho bên cho thuê thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối với tài sản
cho thuê theo Hợp đồng cho thuê tài chính số B170504603 do Công ty TNHH Sản xuất
Thương mại H Công ty cho thuê Tài chính TNHH MTV Quốc tế C ngày
18/5/2017:
1.1. Buộc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại H phải trả cho Công ty cho thuê
Tài chính TNHH MTV Quốc tế C số tiền thuê 793.640.873 (bảy trăm chín mươi ba
triệu sáu trăm bốn mươi ngàn tám trăm bảy mươi ba) đồng bao gồm nợ gốc tiền
lãi tính đến thời điểm Tòa án xét xử thẩm (ngày 29/9/2020), trong đó: nợ gốc
600.000.000 đồng, tiền lãi là 193.640.873 đồng.
Thi hành một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm, Công ty TNHH Sản xuất Thương
mại H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán,
theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong
khoản nợ gốc này.
1.2. Công ty cho thuê Tài chính TNHH MTV Quốc tế C trách nhiệm hoàn trả
lại cho Công ty TNHH Sản xuất Thương mại H số tiền ký cược 180.000.000 (một trăm
tám mươi triệu) đồng ngay sau khi Công ty TNHH Sản xuất Thương mại H thanh toán
đầy đủ các khoản nợ (gốc lãi phát sinh) cho Công ty cho thuê Tài chính TNHH
MTV Quốc tế C.
1.3. Trong trường hợp Công ty TNHH Sản xuất Thương mại H không thanh toán
nợ gốc lãi phát sinh, Công ty cho thuê i chính TNHH MTV Quốc tế C được
quyền phát mãi tài sản thuê gồm 01 xe đào bánh xích biển số 50XA-4126, nhãn hiệu
HITACHI EX450-5 (sđộng cơ: 6RB1-514153R, số khung: 16EP007475) 01 Búa
sử dụng cho máy đào hiệu PCF 400 (có bàn xoay) để thu hồi nợ.
1.4. Trường hợp ng ty TNHH Sản xuất Thương mại H không thanh toán đầy đủ
nợ gốc lãi phát sinh cho Công ty cho thuê Tài chính TNHH MTV Quốc tế C thì
ông Hoàng B ông Hoàng Xuân K trách nhiệm liên đới trả tiền nợ cho Công ty
cho thuê Tài chính TNHH MTV Quốc tế C theo Thư bảo lãnh cá nhân do ông Hoàng B
và ông Hoàng Xuân K ký ngày 18/5/2017.
Kể từ ngày bản án, quyết định hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp
quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả.
2/. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
11
- Công ty TNHH Sản xuất Thương mại H phải chịu 35.745.635 (ba mươi lăm
triệu bảy trăm bốn mươi lăm ngàn sáu trăm ba mươi lăm) đồng, nộp tại Chi cục Thi
hành án dân sự có thẩm quyền.
- Hoàn trả lại cho Công ty cho thuê Tài chính TNHH MTV Quốc tế C số tiền tạm
ứng án phí đã nộp là 18.080.461 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2019/0004979 ngày
18/9/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.
3/. Nguyên đơn mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt
tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ktừ ngày nhận
được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành
án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND H.Hóc Môn;
- Chi cục THADS H.Hóc Môn;
- Lưu: HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Phạm Thị Thanh
Tải về
Bản án số 94/2020/KDTM-ST Bản án số 94/2020/KDTM-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất