Bản án số 92/2022/DS-ST ngày 30/11/2022 của TAND TX. Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 92/2022/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 92/2022/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 92/2022/DS-ST ngày 30/11/2022 của TAND TX. Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TX. Giá Rai (TAND tỉnh Bạc Liêu) |
| Số hiệu: | 92/2022/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/11/2022 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Biện Thị D - Phạm Thị L |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ R Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH BẠC LIÊU
Bản án số: 92/2022/DS-ST
Ngày: 30/11/2022
V/v Tranh chấp nợ hụi
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ R, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Nhạn
2. Ông Lương Chí Nguyện
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Đèo – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã R,
tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, tỉnh bạc Liêu tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Mộng Đẹp - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã R, tỉnh Bạc
Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 263/2022/TLST- DS ngày 13
tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp nợ hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 131/2020/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Biện Thị D, sinh năm 1975 (có mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu
- Đồng bị đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1964 (có mặt)
Ông Lê Thanh N, sinh năm 1960 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp A, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 13/10/2022, lời khai trong hồ sơ và tại phiên tòa
nguyên đơn bà Biện Thị D trình bày: Bà D là chủ hụi có cho bà L tham gia chơi hụi
cụ thể như sau:
2
- Dây hụi thứ nhất mở ngày 25/4/2019 (âm lịch), hụi có giá 1.000.000 đồng,
có 30 thành viên tham gia, tổng số là 30 chưng. Bà L hốt hụi, còn 17 kỳ hụi chết bà
Loan không đóng lại cho bà D với tổng số tiền 17.000.000 đồng.
- Dây hụi thứ hai mở ngày 01/8/2019 (âm lịch), hụi có giá 2.000.000 đồng,
có 24 thành viên tham gia, tổng số là 24 chưng. Bà L hốt hụi, còn 14 kỳ hụi chết bà
Loan không đóng lại cho bà D với tổng số tiền 28.000.000 đồng.
- Dây hụi thứ ba mở ngày 20/01/2020 (âm lịch), hụi có giá 2.000.000 đồng,
có 24 thành viên tham gia, tổng số là 24 chưng. Bà L hốt hụi, còn 18 kỳ hụi chết bà
Loan không đóng lại cho bà D với tổng số tiền 36.000.000 đồng.
- Dây hụi thứ tư mở ngày 09/02/2020 (âm lịch), hụi có giá 1.000.000 đồng,
có 32 thành viên tham gia, tổng số là 32 chưng. Bà L hốt hụi, còn lại 20 kỳ hụi chết
bà Loan không đóng lại cho bà D với tổng số tiền 20.000.000 đồng.
Nay bà D khởi kiện yêu cầu ông N và bà L cùng có trách nhiệm thanh toán
nợ hụi cho bà D tổng số tiền 101.000.000 đồng.
Tuy nhiên, tại biên bản ghi lời khai ngày 25/10/2022 bà D xác định chỉ yêu
cầu bà L và ông N có trách nhiệm trả cho bà D số tiền nợ hụi 82.000.000 đồng.
Bị đơn bà Phạm Thị L trình bày: Bà L thừa nhận có tham gia chơi hụi do bà
D là chủ hụi. Tuy nhiên, bà L cho rằng bà không nhớ cụ thể bà tham gia chơi hụi
bao nhiêu chưng, loại hụi bao nhiêu tiền, nhưng bà thừa nhận bà còn nợ tiền hụi
của bà D tổng số tiền 82.000.000 đồng. Bà đồng ý trả cho bà D nhưng yêu cầu
được trả dần mỗi tháng 500.000 đồng và bà L xác định việc bà tham gia chơi hụi
ông N không biết cũng không liên quan gì đến nợ hụi giữa bà và bà D.
Bị đơn ông Lê Thanh N dù đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố
nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như vắng mặt tại phiên toà
xét xử mà không có lý do chính đáng, nên Toà án không thể ghi nhận ý kiến của
ông N.
Tại phiên toà nguyên đơn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện buộc bà L
và ông N có trách nhiệm trả nợ hụi 82.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử,
Thư ký phiên toà đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chứng
cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Về quan
hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử đã xác định đúng quan hệ tranh chấp là
“Tranh chấp nợ hụi”. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên
đơn chấp hành đúng pháp luật. Đồng bị đơn ông Lê Thanh N và bà Phạm Thị L
3
vắng mặt trong phiên họp công khai chứng cứ; ông N vắng mặt tại phiên toà lần 2
không có lý do chính đáng là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của bà Biện Thị D, buộc ông N và bà L có nghĩa vụ trả cho bà D tổng số tiền nợ
hụi là 82.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả trong giai đoạn thi hành án. Đối với án
phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ yêu cầu của đương sự tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của đại diện
Viện kiểm sát nhân dân thị xã R, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ đơn khởi
kiện ngày 13/10/2022 của nguyên đơn có căn cứ xác định đây là vụ án dân sự về
việc “Tranh chấp nợ hụi” do đồng bị đơn ông Lê Thanh N và bà Phạm Thị L cư trú
tại: Ấp X, xã T, thị xã R, tỉnh Bạc Liêu, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án nhân dân thị xã R theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều
35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Đồng bị đơn là ông Lê Thanh N đã được triệu tập hợp lệ
tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt căn cứ điểm b khoản 2 Điều
227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông N.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà L và ông N cùng có trách nhiệm trả
nợ hụi tổng số tiền 82.000.000 đồng. Chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi
kiện, các giấy tham gia chơi hụi của bà L. Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào
các tài liệu nêu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bà L ngày 20/10/2022 và tại
phiên toà sơ thẩm bà L thừa nhận có tham gia chơi hụi của bà D và thừa nhận còn
nợ bà D số tiền hụi là 82.000.000 đồng, do đó đây là tình tiết sự kiện không phải
chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bà L và ông N cùng có nghĩa vụ trả
nợ Hội đồng xét xử xét thấy: Thời gian bà L tham gia chơi hụi từ năm 2019 cho
đến khi phát sinh tranh chấp được xác định là trong thời kỳ hôn nhân giữa ông N và
bà L. Hiện tại bà Loan và ông N vẫn ở chung một nhà, cùng sinh hoạt và cùng làm
kinh tế. Mặc khác, tại biên bản ghi lời khai ngày 20/10/2022 bà L xác định “Tôi
tham gia chơi hụi của bà D là vì hụi có lời (lãi) nên kiếm lời (lãi) để trang trải
cuộc sống gia đình; chồng tôi là ông N thường xuyên bị bệnh, không làm ra kinh
tế, nhà có đất nuôi trồng thuỷ sản nhưng làm không có lời (lãi). Nên tôi tham gia
4
chơi hụi để lấy tiền lo cho gia đình”. Tại phiên Toà bà Loan cũng thừa nhận ông N
có tham gia nhận tiền hụi do bà D giao sau đó giao lại cho bà. Điều này cho thấy
việc bà L tham gia chơi hụi ông N có biết, nhưng không có ý kiến gì như lời trình
bày của bà D. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận nội dung yêu
cầu của bà D , buộc ông N và bà L cùng có trách nhiệm trả nợ hụi tổng số tiền
82.000.000 đồng cho bà D.
[4] Xét ý kiến trình bày của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã R về việc
giải quyết vụ án là phù hợp, có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Do yêu cầu của nguyên đơn được
chấp nhận, nên ông N và bà L có nghĩa vụ trả nợ và phải chịu án phí theo quy định
pháp luật. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch ông N và bà L phải chịu là:
82.000.000 đồng x 5% = 4.100.000 đồng.
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 178; Điều 227 và Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Áp dụng Điều 468 và Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Áp dụng khoản 7 Điều 4; khoản 2 Điều 10; Điều 16 của Nghị định số:
19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ về hụi, họ, biêu, phường;
- Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-
2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Biện Thị D đối với ông Lê
Thanh N và bà Phạm Thị L về việc tranh chấp nợ hụi.
1.1. Buộc ông Lê Thanh N và bà Phạm Thị L có nghĩa vụ trả cho bà Biện
Thị D số tiền nợ hụi là 82.000.000 đồng (Tám mươi hai triệu đồng).
1.2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong
khoản tiền trên đây, hàng tháng ông N và bà D còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
2.1. Buộc ông Lê Thanh N và bà Phạm Thị L phải nộp 4.100.000 đồng (Bốn
triệu một trăm nghìn đồng) tiền án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã R khi
án có hiệu lực pháp luật.
5
2.2. Bà Biện Thị D không phải chịu án phí, bà Biện Thị D đã nộp 2.500.000
đồng tiền tạm ứng án phí tại Biên lai thu số 0004403 ngày 13/10/2022 của Chi cục
thi hành án dân sự thị xã R được hoàn lại toàn bộ.
3. Bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thõa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi
hành án dân sự.
4. Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc
không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ
ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
- Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
+ TAND tỉnh Bạc Liêu; THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
+ VKSND cùng cấp;
+ Chi cục THADS cùg cấp;
+ Các đương sự;
+ Lưu hồ sơ.
Trần Thị Thuý
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng