Bản án số 92/2019/HS-PT ngày 19/09/2019 của TAND tỉnh Quảng Ninh về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 92/2019/HS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 92/2019/HS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 92/2019/HS-PT ngày 19/09/2019 của TAND tỉnh Quảng Ninh về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy |
|---|---|
| Tội danh: | 197.Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Quảng Ninh |
| Số hiệu: | 92/2019/HS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/09/2019 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 92/2019/HS-PT
Ngày: 19/09/2019
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vương
Các Thẩm phán: Ông Ngô Văn Thắng
Ông Bùi Đức Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thanh Hương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà
Lương Thu Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 09 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 92/2019/TLPT-HS ngày
12/08/2019, đối với bị cáo Đặng Tuấn Anh; Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản
án hình sự sơ thẩm số 79/2019/HS-ST ngày 02/07/2019, của Tòa án nhân dân thành
phố Cẩm Phả.
Bị cáo có kháng cáo:
Đặng Tuấn A, tên gọi khác: không; Sinh ngày 02/02/1997 tại thành phố
Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; ĐKHKTT: Tổ 5, khu 4B, phường Quang Hanh, thành
phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; Chỗ ở: Tổ 3, khu Long Thạch B, phường Cẩm
Thạch, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình
độ văn hóa: Lớp 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc
tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Bách H (đã chết) và bà Phạm Thị L; Vợ: Vũ Thùy
L (chưa đăng ký kết hôn) và 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo
bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.
Các bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị:
2
1. Họ và tên: Đường Hải M, tên gọi khác: Không; sinh ngày 25/07/1971 tại
tỉnh Vĩnh Phúc; ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Điền Thanh, xã Tân Dân, huyện Sóc Sơn,
thành phố Hà Nội; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 06/12/2018.
2. Họ và tên: Nguyễn Thị Ng, tên gọi khác: không; sinh ngày 12/01/1977 tại
thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 4, khu 3, phường Cẩm
Thịnh, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt
khẩn cấp ngày 06/12/2018.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Bùi Thị H, sinh năm 1973; ĐKHKTT tại: Thôn Điền Thanh, xã Tân
Dân, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa.
- Chị Cao Thị L, sinh năm 1974; ĐKHKTT tại: Phố Nỉ, xã Trung Giã, huyện
Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 00 phút ngày 05/12/2018, Công an thành phố Cẩm Phả phối hợp
với Công an phường Cẩm Thủy, thành phố Cẩm Phả kiểm tra hành chính quán
Karaoke Thành Lộc, thuộc tổ 8, khu Tân Lập 4, phường Cẩm Thủy, thành phố Cẩm
Phả, tỉnh Quảng Ninh do Nguyễn Văn Ph làm chủ, phát hiện trong phòng hát 203
tầng 2 có 07 người gồm Đường Hải M, Bùi Văn M, Cao Thị L, Nguyễn Thị Thu H,
Nguyễn Thị Ng, Đặng Tuấn A, Nguyễn Đức C, đang nghe nhạc sàn công suất lớn
và có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm: - Trên bàn số 01 (vị trí từ cửa phòng vào) 01 đĩa sứ
hình bầu dục màu trắng trên mặt đĩa có chất bột màu trắng (ký hiệu M1); 01 thẻ nhựa
cứng có chữ Viettel kích thước (05x8,5)cm trên bề mặt có dính chất bột màu trắng
dạng vết (ký hiệu M2); 02 đoạn ống hút nhựa dài 12,8cm, bên trong có dính chất bột
màu trắng dạng vết (ký hiệu M3, M4); 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền Polime
mệnh giá 10.000 đồng, bên trong có chất bột màu trắng dạng vết (ký hiệu M5); cho
chất bột màu trắng trên đĩa sứ vào túi nilon kích thước (06x04)cm để bảo quản (ký
hiệu M6).
- Trong gạt tàn thủy tinh trên bàn số 02 (vị trí Đường Hải Minh ngồi) 01 túi
nilon kích thước (04x04)cm chứa chất bột màu xanh (ký hiệu M7).
3
- Kẽ ghế (vị trí Đường Hải M ngồi) 01 túi nilon kích thước (04x6,5)cm chứa
chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M8).
- Dưới nền phòng hát (vị trí gầm bàn số 03 gần nơi Nga và Huyền) ngồi 01 túi
nilon kích thước (03x3,5)cm chứa chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M9).
- Tiến hành thu mẫu nước tiểu của Đường Hải M, Bùi Văn M, L, Ng, H, C và
Đặng Tuấn A để giám định.
Ngoài ra, trong quá trình khám xét tại phòng 603, 607 – Khách sạn Hoàng
Long, công an còn thu giữ của Đường Hải M: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone
màu vàng, lắp sim số 0983.693.599; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen
(lắp 2 sim số 0784.411.888 và 0968.078.866); 01 ví giả da màu đen trong có
103.670.000 đồng; 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia biển số 29A-145.51 (kèm theo đăng ký
xe mang tên Đường Hải M) (bên trong xe ô tô có: 01 ví giả da màu nâu bên trong có
01 chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe hạng B2, 01 thẻ ATM ngân hàng
Agribank (các giấy tờ và thẻ ATM đều mang tên Đường Hải M) và 1.500.000 đồng;
01 ví giả da màu đen bên trong có 11.890.000 đồng, 01 chứng minh nhân dân, 01
giấy phép lái xe hạng B2 và 01 thẻ ATM ngân hàng Agribank đều mang tên Bùi Văn
M (là tài sản của Bùi Văn M). Thu giữ của Nguyễn Thị Ng: 01 ví giả da màu nâu có
chữ LV; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng và 487.000 đồng. Thu
giữ của Bùi Văn M: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen; 12.480.000 đồng, 01
điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen không bật được nguồn và 01 điện thoại
Iphone màu hồng lắp sim số 0983.160.978.
Quá trình điều tra xác định: Đường Hải M, Cao Thị L có quan hệ tình cảm và
chung sống với nhau tại phố Nỉ, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội;
Bùi Văn Minh, trú tại Đội 1, xã Lại Xuân, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
là bạn của Đường Hải M. Tối ngày 04/12/2018 Bùi Văn M đến chỗ ở của Hải M và
L chơi, đến trưa ngày 05/12/2018 Văn M rủ L và Hải M đi thành phố Cẩm Phả chơi
một hai ngày rồi về. Đường Hải M và L đồng ý đi chơi, Hải M cầm theo 07 viên
thuốc lắc và 01 túi ma túy ke nhằm mục đích khi cần sẽ sử dụng. Bùi Văn M là người
điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Kia Forte biển số 29A-145.51 (xe của Hải M) chở L và
Hải M. Trên đường đi, Bùi Văn M gọi điện rủ bạn là Nguyễn Thị Ng, Nguyễn Thị
Thu H đi chơi cùng. Khi đến thành phố Cẩm Phả, nhóm của M thuê 2 phòng tại
khách sạn Hoàng Long, thuộc phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, Đường Hải M
và L ở phòng số 607, còn Bùi Văn M ở phòng 603. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày,
Bùi Văn M lái xe ô tô chở Đường Hải M và L đi đón Ng và H cùng ăn tối tại quán
4
gần cầu Vân Đồn. Trong bữa ăn, Bùi Văn M rủ mọi người sau khi ăn xong thì đi hát,
cả nhóm đồng ý sau đó Bùi Văn M bảo Ng đặt phòng hát. Ng nghĩ đi hát sẽ bay nhảy
và sử dụng ma túy, nên đã gọi điện cho Đặng Tuấn A là nhân viên phục vụ tại quán
Karaoke Thành Lộc ở tổ 8, khu Tân Lập 4, phường Cẩm Thủy, thành phố Cẩm Phả
(do anh Nguyễn Văn Ph là chủ quán) để đặt phòng 203 và bảo Đặng Tuấn A đánh
DJ (đánh nhạc) cho nhóm của Ng, Tuấn A đồng ý và hiểu Ng đặt phòng là để hát và
sử dụng ma túy như lần trước đó. Đặt phòng xong do còn sớm nên L đã đề nghị cả
nhóm về khách sạn Hoàng Long nghỉ ngơi, thay đồ, cả nhóm vào phòng 607 ngồi
nói chuyện, còn Bùi Văn M về phòng 603 để lấy đồ cá nhân. Tại phòng 607, Đường
Hải M lấy từ trong túi đựng quần áo ra một gói giấy bên trong có 03 viên thuốc lắc
và 01 túi ma túy Ketamine đưa cho Ng cầm và nói với Ng dưới xe còn 04 viên thuốc
lắc, tý sẽ cầm theo. Sau đó, cả nhóm đi xuống tiền sảnh của khách sạn, Đường Hải
M ra xe ô tô lấy 04 viên thuốc lắc cầm theo, đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì cả
nhóm đến quán Karaoke Thành Lộc rồi vào phòng 203 để hát. Ngồi một lúc, Đường
Hải M lấy 04 viên thuốc lắc ra cầm 01 viên bẻ đôi đưa cho chị L một nửa, cả hai
cùng sử dụng. Sau đó, Đường Hải M để 03 viên còn lại trên mặt bàn số 02 tính từ
cửa phòng hát vào, rồi đến chỗ Ng, H, Bùi Văn M ngồi, bảo Ng bỏ thuốc lắc ra ba
đứa sử dụng. Ng bỏ 03 viên thuốc lắc ra pha vào nước Cocacola, chia làm 03 cốc rồi
cả ba người cùng sử dụng. Sau đó, Đặng Tuấn A vào bật nhạc và đánh DJ cho cả
nhóm nghe. Tiếp đó, Nguyễn Đức C (trú tại tổ 62, khu 5, phường Cẩm Phú, thành
phố Cẩm Phả, cũng là nhân viên của quán) vào phòng 203 để phục vụ. Cả nhóm
nhảy theo nhạc một lúc, thì Ng bảo C đi lấy giúp chiếc đĩa, thẻ nhựa và ống hút. C
xuống bếp của quán lấy 01 chiếc đĩa sứ, 02 ống hút bằng nhựa và 01 thẻ nhựa cứng
Viettel mang lên phòng đưa cho Ng. Ng cầm đĩa đưa lên bục DJ và lấy túi ma túy
Ke mà Đường Hải M đưa cho trước đó, đổ ra đĩa một nửa rồi bảo Đặng Tuấn A đánh
ke hộ để mọi người sử dụng. Đặng Tuấn A dùng thẻ nhựa nhào trộn và tạo thành
nhiều đường Ke trên đĩa. Số ma túy còn lại trong túi nilon Ng cầm về chỗ ngồi để
trên mặt bàn. Sau khi đánh ma túy Ke xong, Đặng Tuấn A đem ra mời mọi người sử
dụng, nhưng chưa ai sử dụng, thì Đặng Tuấn A đưa đĩa Ke cho C và hất hàm ý bảo
Cường đi mời để Tuấn A còn lên đánh nhạc qua bài. C cầm đĩa Ke mang đến đưa
cho H và Ng sử dụng. Khi sử dụng xong, Ng cầm đĩa Ke lên bục DJ mời Đặng Tuấn
A sử dụng, rồi Ng để đĩa Ke lên bàn. Sau đó, Đường Hải M đến cầm đĩa Ke về bàn
nơi M ngồi rồi dùng ống hút bằng tờ tiền 10.000 đồng để sử dụng. Tại phòng hát,
khi Tuấn A đánh DJ và đánh ma túy Ke hộ thì Ng đã cho Đặng Tuấn A 500.000
5
đồng (ngoài ra, vào tháng 11/2018 Ng đã cho Tuấn A 2.000.000 đồng để trả tiền
công phục vụ trong lúc hát và sử dụng ma túy). Đến 22 giờ 45 phút cùng ngày, khi
cả nhóm đang nghe nhạc và nhảy, thì bị Công an thành phố Cẩm Phả kiểm tra, bắt
giữ.
Tại Bản giám định số 08/GĐMT ngày 11/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự
Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận:
- Mẫu vật kí hiệu M1 đến M6; M8; M9 là ma túy, loại Ketamine, khối lượng
như sau:
+ Từ M1 đến M5 dạng vết không xác định được khối lượng;
+ M6: 0,306 gam.
+ M8: 2,5 gam.
+ M9: 0,321 gam.
- Mẫu vật kí hiệu M7 gửi giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng 1,098
gam.
- Mẫu nước tiểu của Bùi Văn M, Cao Thị L, Nguyễn Thị Thu H, Nguyễn Thị
Ng, Nguyễn Đức C gửi giám định có MDMA.
- Mẫu nước tiểu của Đường Hải M gửi giám định có MDMA, Ketamine.
- Mẫu nước tiểu của Đặng Tuấn có MDMA, Dehydronorketamine (sản phẩm
chuyển hóa của Ketamine).
Kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Bệnh viện bảo vệ sức khỏe tâm
thần tỉnh Quảng Ninh thể hiện: Cao Thị L, Nguyễn Thị Thu H, Đặng Tuấn A,
Nguyễn Đức C đều không nghiện các chất ma túy.
Bản cáo trạng số: 65/CT-VKSCP ngày 03/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh truy tố các bị cáo Đường Hải M, Nguyễn Thị
Ng và Đặng Tuấn A về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ”, theo điểm b
Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Quá trình Điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các Bị cáo thành khẩn khai
nhận hành vi phạm tội.
Với nội dung trên, Tòa án Cẩm Phả đã Quyết định:
Căn cứ: Điểm b Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17;
Điều 58; Khoản 1, 2 Điều 54 Bộ luật hình sự (Đối với Đặng Tuấn A được áp dụng
thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự).
Tuyên bố: Các bị cáo Đường Hải M, Nguyễn Thị Ng, Đặng Tuấn A phạm
tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
6
Xử phạt: - Bị cáo Đường Hải M 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính
từ ngày bị bắt 06/12/2018.
- Bị cáo Nguyễn Thị Ng 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày
bị bắt 06/12/2018.
- Bị cáo Đặng Tuấn A 03 (ba) năm tù, thời hạn tính từ ngày bắt bị cáo đi thi
hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng
cáo theo luật định.
Ngày 12/07/2019, bị cáo Đặng Tuấn A kháng cáo, xin hưởng được hưởng án
treo.
Lý do: Bố mất từ khi bị cáo còn nhỏ; Mẹ đi làm ăn xa, từ nhỏ được ông, bà
nuôi dưỡng. Hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, ông bà nội già yếu, con nhỏ sinh
2018; Bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình. Nếu Bị cáo phải đi thi hành
án thì gia đình 04 người không có khả năng lao động để sinh sống sẽ vô cùng khó
khăn.
Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin hưởng được hưởng án
treo, vì hoàn cảnh bố mất từ lâu, mẹ vào miền nam sinh sống, hiện tại bị cáo phải
nuôi dưỡng bà nội đã 81 tuổi và bác ruột bị bệnh kinh niên (không có khả năng lao
động; không vợ, con) và con nhỏ sinh sinh 2018. Đồng thời, bị cáo cho rằng số tiền
mà Nguyễn Thị Ng cho là tiền típ cho DJ, không phải là tiền do đánh Ke giúp các
đối tượng sử dụng ma túy mà có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa có quan
điểm: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội với vai trò giúp sức, số tiền mà Nguyễn Thị
Ng cho bị cáo không phải là tiền do phạm tội mà có; Sau khi phạm tội có thái độ
khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị
chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo;
Thời gian thử thách là 05 năm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Đặng Tuấn A làm trong hạn luật
định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra, xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa hôm nay
7
bị cáo Đặng Tuấn A đều khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung
bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo đồng
phạm khác, lời khai của những người làm chứng, phù hợp với Biên bản bắt người
phạm tội quả tang; Bản kết luận giám định; Bản ảnh vật chứng cùng các tài liệu,
chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ ngày 05/12/2018, tại phòng 203 quán Karaoke Thành Lộc
thuộc tổ 8, khu Tân Lập 4, phường Cẩm Thủy, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh,
bị cáo Đường Hải M và Nguyễn Thị Ng với sự giúp sức của Đặng Tuấn A, đã có
hành vi tổ chức cho Cao Thị L, Nguyễn Thị Thu H và Bùi Văn M sử dụng trái pháp
chất ma túy Ketamine và MDMA, thì bị phát hiện bắt giữ, thu giữ 0,627 gam
Ketamine và 1,098 gam MDMA.
Hành vi của các bị cáo Đường Hải M, Nguyễn Thị Ng và Đặng Tuấn A bị Tòa
án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b
khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo Đặng Tuấn A, Hội đồng xét xử thấy:
- Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo trong vụ án
thấy: Đối với Đường Hải M là người đi mua và mang theo ma túy gồm Ketamine và
MDMA từ huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đến thành phố Cẩm Phả để đưa cho
Nguyễn Thị Ng cầm, phân chia ma túy cho mọi người sử dụng tại quán Karaoke
Thành Lộc nên bị cáo M giữ vai trò đầu vụ. Đối với bị cáo Nguyễn Thị Ng là người
tiếp nhận ý chí, thực hiện hành vi phạm tội theo sự khởi xướng của bị cáo M, tích
cực đặt phòng hát, tại phòng 607 khách sạn Hoàng Long khi Đường Hải M lấy ma
túy ra đưa cho Ng, bị cáo Ng tiếp nhận ngay không có hành vi ngăn cản; Khi đến hát
tại phòng 203 của quán Karaoke Thành Lộc, Ng còn pha thuốc lắc vào nước
Cocacola cho H và Bùi Văn M sử dụng; nhờ C lấy đĩa sứ, thẻ nhựa, ống hút và nhờ
bị cáo Tuấn A đánh ma túy ke cho mọi người sử dụng, nên bị cáo Ng giữ vai trò thứ
hai; Bị cáo Đặng Tuấn A có hành vi giúp cho bị cáo Ng đánh ke khi được nhờ và
mời mọi người sử dụng, nhưng chưa ai sử dụng, thì Đặng Tuấn A đưa đĩa Ke cho C
và hất hàm ý bảo C đi mời để Tuấn A còn lên đánh nhạc qua bài, nên giữ vai trò cuối
trong vụ án, với vai trò đồng phạm giúp sức ở mức độ hạn chế.
- Bị cáo Đặng Tuấn A có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; Sau khi
phạm tội có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; có hoàn cảnh gia đình khó
khăn, bố mất sớm phải ở với ông bà nội từ nhỏ; Hiện là lao động chính trong gia
đình có khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con nhỏ sinh 2018 và bà nội (có sự xác nhận
8
của tổ, khu phố và UBND phường Quang Hanh); Mặt khác, theo Đơn đề nghị của
bà Nguyễn Thị C và tài liệu gửi kèm theo, xác định bị cáo có bà nội là Nguyễn Thị
C 81 tuổi - là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được nhà
nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì; Ông nội là Đặng Văn B được
tặng thưởng Huy chương Chiến sĩ vẻ vang; Ngoài ra, Bị cáo tự nguyện nộp lại số
tiền 2,5 triệu đồng có được, do các đối tượng đến hát và sử dụng ma túy cho bị cáo.
Do đó, có thể xem xét chiếu cố cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, dưới
sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình – thể hiện sự khoan
hồng của pháp luật.
[4] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không
phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 355; điểm e Khoản 1 Điều 357 - Bộ luật Tố tụng
hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Tuấn A, sửa bản án hình sự sơ thẩm
theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo.
Áp dụng: Điểm b Khoản 2 Điều 255; Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17;
Điều 58; Khoản 1, 2 Điều 54; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 - Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Tuấn A 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy”, cho hưởng án treo; Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, kể từ
ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường Quang Hanh, thành phố Cẩm Phả,
tỉnh Quảng Ninh, nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám
sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện
theo quy định của pháp luật Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
9
Áp dụng điểm d Khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự,
Hủy bỏ Lệnh “Cấm đi khỏi nơi cư trú” số 82/2019/HSST-LCĐKNCT ngày
02/07/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả đối với bị cáo Đặng Tuấn A.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội 14 quy
định về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo Đặng Tuấn A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
(đã ký)
Bùi Đức Thanh – Ngô Văn Thắng
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Văn Vương

10
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- Trại tạm giam CA tỉnh Quảng Ninh;
- CA, VKS, TAND, THA thành phố
Cẩm Phả;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Văn Vương
11
12
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 22/03/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 20/02/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 17/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 11/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 05/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 29/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 25/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 22/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 07/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 05/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 30/11/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 30/11/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 29/11/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 29/11/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 27/11/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 23/11/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 10/11/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 30/09/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 26/09/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm