Bản án số 90/2026/DS-PT ngày 21/01/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 90/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 90/2026/DS-PT ngày 21/01/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 90/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Đ “Tranh chấp quyền sử dụng đất, khôi phục hiện trạng đất, yêu cầu công nhậ Võ Văn P, Lê Thị V
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 90/2026/DS-PT
Ngày: 21-01-2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, khôi
phục hiện trạng đất, yêu cầu công nhận
quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Các Thẩm phán: bà Trịnh Thị Phúc
bà Huỳnh Thị Hồng Vân
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mỹ Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Đoàn
Thị Thủy Tiên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 01 năm 2026 tại trụ sTòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 748/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 11 năm
2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất, khôi phục hiện trạng đất, yêu cầu công
nhận quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sthẩm số 43/2025/DS-ST ngày 03 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 8-Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1029/2025/QĐ-PT ngày 18 tháng 12
năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1941; địa chỉ: Số B, Quốc lộ F, Khu
phố A, phường K, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1961; địa chỉ: Số A,
Quốc lộ A, phường L, tỉnh Tây Ninh (Giấy ủy quyền ngày 02/6/2023).
- Bị đơn:
1. Ông Võ Văn P, sinh năm 1969;
2. Bà Lê Thị V, sinh năm 1968;
Cùng địa chỉ: Khu phố A, phường K, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Thị Xuân H1, sinh năm 1968; địa
2
chỉ: Số H đường P, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Giấy ủy quyền ngày
20/8/2024).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1967; địa chỉ: Số A, Khu phố A, phường K,
tỉnh Tây Ninh.
2. Ông Văn D, sinh năm 1960; địa chỉ: Khu phố A, phường K, tỉnh Tây
Ninh.
3. Bà Võ Thị M, sinh năm 1951; địa chỉ: Số B, ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh.
4. Bà Thị L, sinh năm 1953; địa chỉ: Khu phố A, phường K, tỉnh Tây Ninh.
5. Bà Võ Thị T, sinh năm 1963; địa chỉ: Ấp A, xã K, tỉnh Tây Ninh.
6. Ông n Đ1, sinh năm 1971; đa ch: Khu ph A, phường K, tnh y Ninh.
7. ThM1, sinh m 1973; đa chỉ: Khu phố A, png K, tỉnh y Ninh.
8. ThH3, sinh năm 1975; địa chỉ: Khu ph A, phường K, tỉnh Tây Ninh.
9. Bà Võ Thị Ngọc T1, sinh năm 1977; địa chỉ: ấp G, xã V, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà M, L, bà T, ông Đ1, H3, bà T1
M1: bà Nguyễn Thị Xuân H1, sinh năm 1968; địa chỉ: Số H đường P, phường A,
Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền ngày 02/10/2024).
10. Ủy ban nhân dân thị xã K, tỉnh Long An;
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng: Ủy ban nhân dân phường K, tỉnh Tây
Ninh; địa chỉ: Đường C, phường K, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: ông La Văn D1 (Chủ tịch).
- Người kháng cáo: nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 01/6/2023, đơn khởi kiện bsung ngày 29/7/2024
quá trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm, nguyên đơn Nguyễn Thị Đ do
Nguyễn Thị H đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 22/12/1998, Nguyễn Thị Đ được y ban nhân dân huyện M, tỉnh Long
An (nay UBND phường K, tỉnh Tây Ninh) cấp giấy chứng nhận quyền sdụng
đất N 412110, vào scấp giấy chứng nhận số 01553 QSDĐ/1212-LA, tổng diện tích
24.783m
2
, gồm 09 thửa đất, trong đó thửa số 845 tờ bản đồ số 7 T, diện tích
5.270m
2
loại đất RTS. Từ khi được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng thửa số 845
thì Đ không trực tiếp sử dụng đất mà để cho em ruột là ông Nguyễn Văn H2 sử
dụng để trồng tràm.
Đến ngày 02/10/2019, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L thực hiện việc cấp
đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Đ thửa đất số 845
đúng với diện tích 5.270m
2
, nhưng hình thể vị trí đất không đúng hiện trạng và Trích
3
lục bản đồ địa chính ngày 15/12/2016 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại
thị xã K vị trí giáp ranh thửa số 818 thửa số 819 cùng tờ bản đồ số 7 Phường C,
thị K, tỉnh Long An. Do đó, Đ không nhận Giấy chng nhận quyền sử dụng
đất cấp đổi mới và khiếu nại.
Tại biên bản ngày 03/6/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị
K tổ chức thực hiện kiểm tra đo đạc hiện trạng thửa đất số 845, Đ xác định
được ranh giới thửa số 845 với thửa số 818 và thửa số 819.
Tại biên bản ngày 22/10/2020 của Văn phòng đăng đất đai tỉnh L tổ chức
thực hiện xác định ranh giới, đo đạc thực tế thửa đất số 845, các hộ sdụng đất khác
đã xác định ranh giới sử dụng với Đ, chỉ có ranh giới giáp thửa đất số 818 và số
819 do ông Võ Văn P và bà Lê Thị V sử dụng không thống nhất ranh. Ông P, bà V
đã san lấp mất bờ ranh, lấn chiếm đất của bà Đ diện tích khoảng 800m
2
tại thửa
số 845 để trồng lúa.
Vào năm 2022, ông P, bà V đào ao trên phần đất lấn chiếm để đắp nền nhà có
bề ngang 17,7m, dài 29m và chiều cao 2,5m, bà Đ có khiếu nại ra UBND Phường 3,
thị K để hòa giải nhưng không thành. Ông P cho rằng được cha ruột ông
Văn D2 cho lại đất thuộc các thửa đất số 818, 819 và ông P, V đã được cấp Giấy
chứng nhận vào năm 2019; phần đất thừa do vợ chồng ông P sử dụng chưa được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng không thuộc thửa đất số 845 của bà Đ.
Nay, bà Nguyễn Thị Đ khởi kiện yêu cầu ông Võ Văn P, Thị V phục hồi
lại diện tích đất đúng như hiện trạng ban đầu và giao trả lại diện tích đất lấn chiếm
thuộc một phần thửa 845 (cũ), bao gồm: diện tích 726,6m
2
tại vị trí tranh chấp số 4
và diện tích đất 80,4m
2
tại vị trí tranh chấp số 3, theo Mảnh trích đo địa chính số 85-
2024 ngày 05/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại thị K, tỉnh
Long An (sau đây viết tắt là Trích đo số 85-2024).
Bị đơn ông Văn P, Thị V do bà Nguyễn Thị Xuân H1 đại diện theo ủy
quyền trình bày:
Phần diện tích đất tranh chấp nguồn gốc của cha ông P ông Văn D2
sử dụng từ năm 1972. Sau khi ông D2 chết, vợ chồng ông P, bà V tiếp tục sử dụng
để trồng tràm, trồng a. Sau này ông P, V đã đào ao nuôi sử dụng cho đến
nay. Đ, ông H2 không sử dụng đất. Tại thời điểm đo đạc cấp đổi Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 845 cho Đ thì ranh đất do ông Nguyễn Văn
H2 xác định không có phần đất tranh chấp. Đến năm 2020 thì ông P, bà V mới phát
hiện UBND huyện M cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 412110 ngày
22/12/1998 cho Nguyễn Thị Đ thửa 845 bao gồm luôn diện ch đất 807m
2
gia
đình ông P, bà V trực tiếp canh tác.
Ông Văn P Thị V phản tố yêu cầu thu hồi, hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất do UBND Mộc Hóa cấp cho bà Nguyễn Thị Đ ngày 22/12/1998
tại một phần thửa đất số 845 tờ bản đồ 7 Phường 3, thị xã K, có diện tích 807m
2
do
cấp không đúng đối tượng sử dụng đất và yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng
đất diện tích 807m
2
này cho ông P, bà V.
4
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Ông Nguyễn Văn H2 trình bày: bà Đ cho ông sử dụng thửa 845 để trồng tràm.
Năm 2020, đo đạc cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đ thì mới
phát hiện ông P, bà V lấn chiếm đất. Ông H2 thống nhất theo ý kiến và yêu cầu khởi
kiện của bà Đ; không có yêu cầu gì trong vụ án.
Ông Văn D trình bày: ông D thống nhất theo ý kiến của ông Văn P;
không có yêu cầu gì trong vụ án.
Võ Thị M, bà Võ Thị L, bà Võ Thị T, ông Võ Văn Đ1, bà Võ Thị M1, bà
Thị H3, bà Võ Thị Ngọc T1 do bà Nguyễn Thị Xuân H1 đại diện trình bày: các ông,
bà thống nhất với ý kiến yêu cầu phản tố của ông Võ Văn P; không yêu cầu gì
trong vụ án.
UBND thị K, tỉnh Long An Văn bản số 749/UBND-NNMT ngày 10/3/2025
trình bày: tại thời điểm UBND huyện M (nay UBND thị K) cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho Nguyễn Thị Đ là đúng theo trình tự, thtục quy định.
Tại Bản án dân sự thẩm số 43/2025/DS-ST ngày 03 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 8-Tây Ninh đã xử (tóm tắt):
“1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ đối với
ông Võ Văn P, bà Lê Thị V về yêu cầu khôi phục hiện trạng và trả lại tại một phần
thửa đất số 845, tờ bản đồ số 7, diện tích 807m
2
, đất tại Phường C, thị K, tỉnh
Long An (nay là phường K, tỉnh Tây Ninh).
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Văn P, Thị V đối
với Nguyễn Thị Đ về yêu cầu công nhận quyền sử dụng phần đất diện tích 807m
2
,
thuộc một phần thửa đất số 845, tờ bản đồ số 7, loại đất: RSX, đất tại Phường C,
thị xã K, tỉnh Long An (nay là phường K, tỉnh Tây Ninh).
Ông Võ Văn P, Thị V quyền sử dụng một phần thửa đất số 845, tờ bản
đồ số 7, diện tích 807m
2
, loại đất RSX, đất tại Phường C, thị K, tỉnh Long An
(nay là phường K, tỉnh Tây Ninh).
Vị trí, kích thước, hình thể một phần thửa đất s845, tờ bản đồ số 7, diện tích:
807m
2
, loại đất: RSX, đất tại Phường C, thị xã K, tỉnh Long An (nay là phường K,
tỉnh Tây Ninh) được xác định tại vị trí 3 (diện tích: 726m
2
) vị trí 4 (diện tích:
80,4m
2
), theo Mảnh trích đo địa chính số: 85-2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai tại thị xã K duyệt ngày 05/7/2024. (đính kèm)
Ông Văn P, Thị V có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm liên hệ với Ủy
ban nhân dân, cơđăng đất đai thẩm quyền để làm thủ tục khai, đăng
nhập thửa đất, cấp giấynhận quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng của mình theo
bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số: 01553 QSDĐ ngày 22/12/1998 do U, tỉnh Long An cấp cho Nguyễn Thị Đ tại
một phần thửa đất số 845, tờ bản đồ số 7, có diện tích 807m
2
, loại đất: RSX, đất tại
ấp C, xã T, tỉnh Long An.
5
3. Về chi phí tố tụng: Nguyễn Thị Đ phải chịu 17.702.000 đồng; Đ đã
nộp tạm ứng và chi phí hết.
4. Về án phí sơ thẩm:
Nguyễn Thị Đ được miễn nộp toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho ông Võ Văn P, Thị V 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí
theo biên lai thu số 0002639 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị
xã Kiến Tường, tỉnh Long An (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền thời hạn kháng cáo, việc thi
hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/9/2025, nguyên đơn, Nguyễn Thị Đ kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyễn Thị H trình bày: ông D2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất trước nhưng không khai phần đất tranh chấp. Việc cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thửa 845 cho Đ vào năm 1998 đã được UBND thị xã K, tỉnh Long
An Văn bản số 749/UBND-NNMT ngày 10/3/2025 xác định đúng trình tự, thủ
tục. Hình thể thửa đất 845 khi cấp giấy năm 1998 theo tờ bản đnăm 2016 khác biệt
so với hình thể thửa đất này theo tờ bản đồ năm 2019. Khi kiểm tra hiện trạng thì
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đã lập biên bản xác định ranh giới ngày
03/6/2020, ngày 07/7/2020 ngày 22/10/2020. Năm 2022, khi ông P, V đắp nền
thì ngày 14/12/2022 bà Đ đã làm đơn gửi U, thị xã K, tỉnh Long An để yêu cầu giải
quyết. Đến ngày 11/5/2023, Ủy ban hòa giải nhưng không thành. Đ đã sử dụng
đất ổn định từ năm 1978 đến năm 2019, nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp
nhận kháng cáo, sửa bản án thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đ.
Nguyễn Thị Xuân H1 trình bày: việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất thửa 845 cho bà Đ o năm 1998 không đo đạc thực tế. Bà Đ không trực tiếp sử
dụng đất mà giao cho ông H2 sử dụng. Khi cấp đổi giấy thửa 845 ông H2 là người
chỉ ranh không phần đất đang tranh chấp. Đ khiếu nại việc cấp đổi thửa 845
vì cho rằng không đúng hình thể, chứ không phải do diện tích khi đo cấp đổi không
đúng. Nếu cộng phần diện tích đất tranh chấp vào thì diện tích thửa 845 sẽ dôi dư.
Ông Nguyễn Văn H2 trình bày: cộng phần diện tích đất tranh chấp vào thì diện
tích thửa 845 mới đủ. Đ không sử dụng đất chị em trong gia đình thì ai sử dụng
cũng được.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm các đương schấp hành đúng quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của Nguyễn Thị Đông Đ2 điu kiện để
xem xét theo trình t phúc thm.
Về nội dung kháng o: về việc sử dụng đất thì các đương skhông thống nhất
được các cây tràm trên đất tranh chấp do ai trồng. Việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất thửa 845 cho bà Đ o năm 1998 không đo đạc thực tế. Đ căn
6
cứ vào Trích lục bản đồ địa chính thửa 845 ngày 15/12/2016 của Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai tại thị K để cho rằng phần đất tranh chấp là thuộc thửa 845,
nhưng trước đó, theo Trích lục bản đồ địa chính ngày 21/8/2015 của Văn phòng đăng
đất đai tại thị K thì thửa 845 không bao gồm phần đất tranh chấp và hình th
thửa 845 tại Trích lục năm 2015 tương đồng với hình thể thửa 845 tại Trích lục bản
đồ địa chính ngày 20/8/2019 đo khi cấp đổi giấy chứng nhận. Do đó, kháng cáo của
Đ không căn cứ để chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm gi
nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của Nguyễn Thị Đ thực hiện đúng theo quy định tại Điều
271, Điều 272, Điều 273 và Điều 276 của Bộ luật Tố tụng n sự. Nguyễn Thị H
đại diện cho Đ giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của Đ. Các
đương sự không tự thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Vụ án được
xét xử theo thủ tục phúc thm.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: ông Võ Văn D, UBND phường K, tỉnh Tây
Ninh vắng mặt, nhưng đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Nguyễn Thị Đ,
ông Võ Văn P, bà Lê Thị V, Thị M, bà Võ Thị L, bà Thị T, ông Võ Văn
Đ1, Thị H3, Thị M1, Thị Ngọc T1 vắng mặt, nhưng người
đại diện theo ủy quyền mặt. n cứ Điều 296 của Bluật Tố tụng dân sự, Tòa án
vẫn xét xử phúc thẩm vụ án.
[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: bà Nguyễn Thị Đ kháng cáo toàn bộ bản án
thẩm. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem
xét lại toàn bộ vụ án.
Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu ông Võ Văn P, bà Lê Thị V phục
hồi hiện trạng ban đầu và giao trả phần đất lấn chiếm
[4] Các đương sự tranh chấp đất tại 02 vị trí trên Trích đo số 85-2024, có tổng
diện tích 807m
2
, theo ranh bản đồ thuộc một phần thửa đất số 845 (cũ), trong đó, v
trí tranh chấp số 3 diện tích 80,4m
2
và vị trí tranh chấp số 4 diện tích 726,6m
2
;
[5] Căn cứ cho yêu cầu kháng cáo của Đ: H3 cho rằng, phần đất tranh
chấp bà Đ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp, đúng trình tự,
thủ tục vào năm 1998, theo công văn s749/UBND-NNMT ngày 10/3/2025 của
UBND thị xã K, tỉnh Long An; gia đình Đ sử dụng đất ổn định, liên tục, xác
nhận của người làm chứng là ông Văn B ông Hùng C; khi thực hiện cấp
đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 845 vào năm 2018, thì Đ đã phát
hiện hình thể thửa đất không đúng với Trích lục bản đồ địa chính ngày 15/12/2016
của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K ở vị trí giáp ranh thửa số 818
và thửa số 819; diện tích thửa 819 (mới là thửa 51) ng 65,8m
2
. Xét các lẽ
H3 nại ra, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
[6] Về trình tự, thủ tục cấp giấy chng nhận quyền sử dụng đất thửa 845: tại
đoạn [6] phần nhận định của bản án thẩm, Tòa án cấp thẩm đã xem xét toàn
diện, đầy đủ hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 845 lần đầu vào
7
năm 1998 cho bà Đ, theo đó, việc cấp giấy chứng nhận là theo đơn kê khai xin cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Đ; không đo đạc hiện trạng thửa đất;
không biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất; không thể hiện Trích lục
bản đồ địa chính thửa 845 tại thời điểm cấp giấy (các bút lục số 166-173). Do đó,
không thể chỉ căn cứ vào diện tích đất đã được cấp theo Giấy chứng nhận đlàm
chứng cứ duy nhất giải quyết tranh chấp giữa các bên.
[7] Về hình thể thửa 845:
[7.1] Tại Biên bản đo đạc hiện trạng phần đất thửa 845 của bà Đ, Biên bản về
việc điều chỉnh hình thể thửa 845 Biên bản về việc xác định ranh giới, đo đạc
thực tế thửa 845 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai phối hợp công chức địa
chính Phường 3 đã lập vào ngày 03/6/2020, ngày 07/7/2020 ngày 22/10/2020 như
H3 nại ra (các bút lục số 81, 260, 261), thì H3 đại diện chỉ ranh 01 phần
diện tích đang được ông Võ Văn P sử dụng trồng lúa (bút lục số 261); trong cả ba
biên bản đều thể hiện nội dung quan đo đạc đã đnghị chủ sử dụng đất (bà Đ)
xác định ranh giới thửa đất với các chủ sử dụng đất liền kề để thực hiện việc cấp đổi.
Việc H3 dựa vào 03 biên bản này để chứng minh ranh giới thửa 845 với các thửa
đất liền kề đã được xác định, là không có căn cứ.
[7.2] Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 818 819 cấp cho ông
Văn D2 vào ngày 03/12/2014, sang tên cho ông Văn P, có Trích lục bản đồ
địa chính ngày 21/8/2015 của Văn phòng đăng đất đai tại thị K ông P đã
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 04/9/2015 (trên giấy
đồ thửa đất), thì thửa 845 vị trí giáp ranh thửa số 818 thửa số 819 hình thể
tương đồng với hình thể thửa 845 tại Trích lục bản đồ địa chính ngày 20/8/2019
cụ thể phần đất tranh chấp không thuộc thửa 845 (các bút lục số 141-143, 274).
Tại phiên tòa thẩm, ông H2 đã xác định rằng, năm 2019 khi cấp đổi lại giấy chứng
nhận quyền sdụng đất cho Đ thì ông H2 chỉ ranh (bút lục số 286). Do đó,
việc Đ dựa vào Trích lục bản đđịa chính ngày 15/12/2016 (bút lục số 70) để
chứng minh phần đất tranh chấp thuộc thửa 845, là không đủ căn cứ vững chắc.
[8] Về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất:
[8.1] Theo Văn bản số 706/UBND ngày 23/10/2024 của U, thị K, tỉnh Long
An (nay là UBND phường K, tỉnh Tây Ninh) thể hiện: do biến động về địa giới
hành chính, nên thời gian từ tháng 4/1975 đến tháng 4/2013 địa phương không xác
định được về nguồn gốc quá trình sử dụng đất là của ai; thời gian ttháng 5/2013
đến tháng 5/2023 thì bà Đông H2 không trực tiếp canh tác trên 1 phần thửa 845,
nay 1 phần thửa 52 231 (bút lục số 174). Đ cho rằng, đất tranh chấp có
nguồn gốc của gia đình bà, được sử dụng liên tục, ổn định, có người làm chứng
ông Văn B và ông Hùng C. Tuy nhiên, ông B mối quan hệ anh em
cậu với Đ, còn ông C chủ sử dụng thửa 924 tiếp giáp thửa 845 vị trí cạnh
phía Đông, trong khi vị ttranh chấp cạnh phía Tây phía Bắc của thửa 845. Do
đó, lời làm chứng của ông B và ông C không đảm bảo làm căn cứ vững chắc để xác
định tình tiết khách quan của vụ án theo Điều 93 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
8
[8.2] Tại biên bản thẩm định tại chỗ ngày 14/3/2024, hiện trạng đất tranh chấp
ao (hồ nước) bờ ao do ông Văn P đào năm 2020 để trữ nước tưới tiêu
đắp nền; trên bờ ao trồng 20 cây tràm ớc loại A và 01 gốc tràm nước đã bị cưa
ngọn; đất do ông P, bà V đang quản lý, sử dụng. Bà H3 trình bày, năm 2015 khi bà
Đ đi làm lại thủ tục cấp giấy thì phát hiện phần đất Đ đứng giấy thì ông P đang
sử dụng, nhưng trước năm 2015 H3 xác định phần đất này do gia đình bà Đ sử
dụng để trồng cây tràm (các bút lục số 204-205). Tại biên bản phiên tòa thẩm
ngày 26/8/2025, ông H2 xác định biết bị đơn lấn đất tnăm 2018 nhưng lại không
biết bị đơn đào ao lúc nào (bút lục số 286), trong khi việc ông P đào ao lấy đất đắp
nền nhà không thể diễn ra trong một thời gian ngắn vìH3 xác định ông P, bà V
đào ao trên phần đất đang tranh chấp để đắp nền nbề ngang 17,7m, dài 29m và
chiều cao 2,5m (bút lục s01). Tại phiên tòa phúc thẩm, H3 trình bày tháng
12/2022, gửi đơn khiếu nại việc ông P lấn chiếm đất. Hồ vụ án thể hiện, vào
ngày 14/4/2023 U, thị xã K, tỉnh Long An xác minh và ngày 11/5/2023 Ủy ban hòa
giải tranh chấp đất đai giữa bà Đ và ông P, bà V nhưng không thành (các bút lục số
72, 73). Do đó, tại đoạn [5] phần nhận định của bản án thẩm đã đánh giá rằng
phần đất tranh chấp từ trước năm 1998 đến năm 2023 bà Đ, ông H2 không quản lý
sử dụng, canh tác do gia đình ông P, V quản lý, sử dụng, canh tác đất cho đến
nay, là phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án.
[9] Từ các tài liệu trong hồ quản đất; sự biến động diện tích giữa giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích đất thực tế; ý kiến của chính quyền địa
phương về nguồn gốc quá trình quản lý, sử dụng đất, Tòa án cấp sơ thẩm c yêu
cầu khởi kiện của bà Đ, là có căn cứ theo tại Điều 2, Điều 73 của Luật Đất đai năm
1993; Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 26 của Luật Đất đai năm 2024.
[10] Đề nghị của Kiểm sát viên căn cứ, phợp với nhận định của Hội
đồng xét xử phúc thẩm nên được chấp nhận.
[11] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận, lẽ ra
Đ phải chịu án phí phúc thẩm, nhưng do Đ người cao tuổi yêu cầu xét
miễn nộp tạm ứng án pán phí, nên thuộc trường hợp được miễn án ptheo quy
định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Đ đã được miễn nộp tạm ng án
phí phúc thẩm nên không tuyên hoàn trả.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Ttụng dân sự; Điều 29 của
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
2. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Đ.
9
3. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 43/2025/DS-ST ngày 03 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8-Tây Ninh.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: bà Nguyễn Thị Đ được miễn án phí.
5. Về hướng dẫn thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi nh theo
quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải
thi hành ánquyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
6. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này hiệu lực pháp luật ktừ
ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 8-Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 8-Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
10
Tải về
Bản án số 90/2026/DS-PT Bản án số 90/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 90/2026/DS-PT Bản án số 90/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất