Bản án số 86/2018/DS-PT ngày 27/04/2018 của TAND tỉnh Cà Mau

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 86/2018/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 86/2018/DS-PT ngày 27/04/2018 của TAND tỉnh Cà Mau
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 86/2018/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/04/2018
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Quách Văn M khởi kiện ông Huỳnh Minh L trả lại phần đất chiếm giữ.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 86/2018/DS-PT
Ngày: 27 - 4 - 2018
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Ông Hồ Minh Tấn
Ông Huỳnh Văn Út
- Thư phiên tòa: Ông Huỳnh n Đoan Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Thúy Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét x
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 20/2018/TLPT- DS ngày 09 tháng 02
năm 2018 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự thẩm số: 48/2017/DS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2017
của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số: 57/2018/QĐPT-DS ngày
12 tháng 3 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Quách Văn M, sinh năm 1966 (Có mặt).
Địa chỉ: xã TT, huyện CN, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn:
1. Ông Huỳnh Minh L, sinh năm 1959 (Có mặt).
2. Bà Quách Hồng P, sinh năm 1961 (Có mặt).
Cùng địa chỉ: Thị trấn CĐV, huyện PT, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phan Thị C, sinh năm 1956 (Vắng mặt).
2. Chị Trần Thị H, sinh năm 1969 (Vắng mặt).
3. Cháu Quách Thảo L, sinh ngày 03/6/2001 (Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của cháu Quách Thảo L: Chị Trần Thị H (m
ruột của Quách Thảo L).
Cùng đia chỉ: Thị trấn CĐV, huyện PT, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Ông Quách Văn M là nguyên đơn.
NI DUNG V ÁN:
Theo ông Quách Văn M trình bày: Vào ngày 15/8/1997, ông Nguyn Thanh
B Nhan Thị H chuyển nhượng cho ông 01 nền nhà chiều ngang 4m, chiều
dài 25m 01 n nhà gắn liền trên phần đất, tọa lạc tại thị trấn V, huyện PT,
2
tỉnh Cà Mau, giá chuyển nhượng 80.000.000 đồng, thanh toán bằng tiền mặt 01 lần.
Phần đất chuyển nhượng có nguồn gốc trước đây là của ông Phan Văn BĐặng
Thúy H chuyển nhượng cho ông B H; khi nhận chuyển nhượng phần đất
không có tranh chấp. Ông đã khai đăng ký hồ sơ địa chính vào năm 2001 và ông
trực tiếp quản sử dụng đến năm 2007. Năm 2012, sự chỉnh phần đất trên
thuộc Tờ bản đồ số 29, thửa số 11 tổng diện tích kê khai là 123,5m
2
có vị trí tứ cạnh
theo hồ địa chính năm 2012. Phía Đông giáp phần đất ông Lộ Hữu Phước, ông
Huỳnh Minh L, ông Phạm Quốc H ông Trần Văn G; phía Tây giáp đất ông Trần
n G; phía Nam giáp lộ đường Nguyễn Việt Khái; phía Bắc giáp ng Cái Đôi
Vàm. Do hoàn cảnh ông phải đi làm ăn xa tại Thành phố H Chí Minh, khi đó ông
giao phần đất lại cho mẹ ông Trần Thị Ba (đã chết năm 2015) quản lý.
Đồng thời chị ruột của ông Quách Hồng P tới lui chăm sóc mông. Trong
thời gian ông đi khỏi địa phương, ông Huỳnh Minh L chồng của Quách Hồng
P, lợi dụng sự không trực tiếp quản lý nhà và đất của ông và sự thiếu minh mẫn của
mẹ ông, nên vào năm 2012 ông L đã tự ý phá dỡ căn nhà cũ của ông và xây căn nhà
mới trên phần đất của ông ông L đến y ban nhân dân thị trấn Cái Đôi m để
làm thủ tục chuyển tên nhà ở, đất sang tên ông L mà không ý kiến của ông.
Trong khi đó sổ địa chính do ông đứng tên khai từ năm 2001 đến năm 2012.
Do đó, ông u cầu ông Huỳnh Minh L, Quách Hồng P, Trần Thị H
Phan Thị C trả lại đất cho ông theo đo đạc thực tế diện tích 109,4 m
2
, đồng thời
buộc ông Huỳnh Minh L, bà Quách Hồng P, bà Trần Thị HPhan Thị C phải di
dời nhà và vật kiến trúc có trên đất để trả lại đất cho ông.
Theo ông Huỳnh Minh L trình y: Phần đất tranh chấp nguồn gốc trước
đây của ông Phan Văn B chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Thanh B, giấy
xác nhận ấp, quan thẩm quyền. Vào tháng 12/1997 ông nhận chuyển
nhượng lại của ông Nguyễn Thanh B căn nhà gắn liền với đất, giá chuyển nhượng
70.000.000 đồng, có biên nhận của ông B. Vào năm 1990, ông M còn nhỏ sống phụ
thuộc o gia đình, nên năm 1997 ông M không tài sản để mua căn nhà nền
nhà nêu trên. Lý do phần đất và nhà ông sang nhượng để cho ông M đứng tên là
lúc đó ông có 03 căn nhà, n để vợ chồng ông M n nhà này nuôi dưỡng mẹ
vợ của ông là bà (Trần Thị Ba); 02 căn nhà còn lại ông ở 01 căn, còn 01 căn ông cho
chị ông ở, vì thời điểm hiện tại nhà nước không cho đăng quyền sử dụng đất. Cha
vợ ông chết năm 1999, mẹ vợ ông chết năm 2015; trước năm 2015 ông M không
yêu cầu đối với phần đất y. Năm 2006, ông M ly hôn với Trần Thị H phần
tài sản chung ông M H không đề cập đến phần nhà, đất này. Trong quá
trình ông M có đơn yêu cầu, ông phát hiện giữa ông B và ông M tái lập lại giấy sang
nhượng nhà đất vào ngày 15/8/1997, nhằm cố tình chiếm đoạt n nhà của
ông ông đã yêu cầu đến quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Tân làm
việc. Trước khi xây nvào năm 2012 ông trích lục đồ mặt bằng hiện trạng
phần đất và ông có xin giấy phép xây dựng tạm và có hồ sơ xác minh nguồn gốc đất
có xác nhận của cấp thẩm quyền, biên bản xác minh nguồn gốc đất của ông được
thị trấn người n n cận xác nhận. Phần đất của vợ chồng ông chuyển
nhượng, ông không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu của ông M.
3
Theo bà Quách Hồng P trình bày: Phthống nhất lời trình bày của ông
Huỳnh Minh L, không có ý kiến bsung.
Theo bà Phan Thị C trình bày: Hiện tại được ông Huỳnh Minh L
Quách Hồng P cho nhờ, không ý kiến. Khi nào Tòa án giải quyết phần đất
và căn nhà thuc về ai thì bà sẽ di dời khi chủ sở hữu có yêu cầu.
Theo bà Trần Thị H trình bày: Căn nhà do ông Huỳnh Minh L
Quách Hồng P cho mượn ở, bà không có ý kiến gì đối với căn nhà và nền nhà đang
tranh chấp, khi nào Tòa án giải quyết phần đất căn nthuộc về ai thì sdời
đi khi chủ sở hữu có yêu cầu.
Tại bản án dân sự thẩm số: 48/2017/DS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2017
của Tòa án nhân dân huyện P Tân quyết định:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 147, 157, 165 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các
Điều 101, 166 và 170 của Luật đất đai năm 2013; Điều 688 của Bộ luật dân sự năm
2005; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12, ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Quách Văn M về việc buộc
ông Huỳnh Minh L, Quách Hồng P, Phan Thị C, Trần Thị H Quách
Thảo L trả lại cho ông Quách Văn M phần đất theo đo đạc thực tế diện tích
109,4m
2
(không tính diện tích sàn) yêu cầu phải di dời nhà vật kiến trúc
trên phần đất nêu trên tọa lạc tại thị trấn CĐV, huyện PT, tỉnh Cà Mau.
2. Về các chi phí như: Chi phí đo đạc 974.000 đồng (chín trăm bảy mươi
bốn nghìn đồng), chi phí định giá 1.556.000 đồng (mt triệu năm trăm m
mươi sáu nghìn đồng). Tổng cộng các khoản chi phí 2.530.000 đồng (hai triệu
năm trăm ba mươi nghìn đồng). Do không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông
Quách Văn M nên tổng chi phí này ông Quách Văn M phải chịu theo quy định.
Ông Quách Văn M đã nộp xong toàn bộ chi phí trên, không phải nộp thêm.
3. Về án phí dân sự thẩm giá ngạch: Ông Quách Văn M phải chịu
9.846.000 đồng (chín triệu tám trăm bốn mươi sáu nghìn đồng). Ông Quách Văn
M đã nộp tiền tạm ứng án phí số tiền là 5.557.500 đồng (năm triệu năm trăm năm
mươi bảy nghìn năm trăm đồng) theo biên lai thu tiền số 09017, ngày 04/12/2015
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân nay chuyển thu. Buộc ông Quách
Văn M phải nộp thêm số tiền 4.288.500 đồng (bốn triệu hai trăm m mươi tám
nghìn năm trăm đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 09/01/2018, ông M kháng cáo toàn bộ bản án thẩm yêu cầu cấp
phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết ván, của Hội
đông xét xử những người tham gia tố tụng tại phiên toà đúng quy định pháp
luât. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét x căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố
tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của ông Quách Văn M, giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Quách Văn M, Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo đo đạc thực tế phần đất tranh chấp giữa ông M với ông L diện tích
109,4m
2
(không tính phần sàn) tọa lạc tại thị trấn CĐV, huyện PT, tỉnh Mau.
Ông M xác định nguồn gốc phần đất tranh chấp ông M nhận chuyển nhượng của
ông Nguyễn Thanh B Nhan Thị H; ông L cũng xác định phần đất tranh chấp
ông nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Nguyễn Thanh B. Ông M cho rằng
do hoàn cảnh ông phải đi làm ăn xa, ông giao phần đất lại cho m ông là bà Trần Thị
Ba ởquản lý. Đồng thời, có chị ruột của ông là bà Quách Hồng P tới lui chăm sóc
mẹ ông. Trong thời gian ông không có địa phương, thì ông Huỳnh Minh L ông L đã
tự ý pdỡ căn nhà của ông và xây căn nhà mới trên phần đất của ông và ông L
đến y ban nhân dân thị trấn i Đôi m để làm thủ tục chuyển tên nhà ở, đất
sang tên ông L mà không có ý kiến của ông. Do đó, ông M yêu cầu ông L, bà Phỉ và
những người liên quan di dời nhà vật kiến trúc trên đất để trả đất lại cho ông.
Ông L và bà Phỉ không đồng ý trả đất theo yêu cầu ông M.
t lời trình y của ông M, ông L Hội đồng t xử thấy rằng: Tại biên bản
ghi lời khai ông B ngày 18/3/2015, ông B trình bày: Vào tháng 12/1997, ông
chuyển nhượng vợ chồng ông Huỳnh Minh L một phần đất bao gồm nhà ở gắn liền
với đất tọa lạc tại thị trấn CĐV, huyện PT, tỉnh Mau, việc chuyển nhượng
không có làm hợp đồng nhưng ông B có viết biên nhận số tiền 70.000.000 đồng và
đưa thủ tục chuyển nhượng giữa ông B và ông Bia vào ngày 24/10/1995 cho ông L
quản . Ông B khẳng định ông không chuyển nhượng đất cho ông M như ông
M trình bày. Tuy nhiên, ông vào giấy sang nhượng nhà ở, đất do ông M
đem đến ông M nói giấy sang bán giữa ông với ông L đã mất không làm thủ
tục cấp quyền sử dụng đất được, do ông M là em vợ của ông L nên ông không nghi
ngờ ông mới . Mặt khác, tại Báo cáo số 15/BC-ĐTTH, ngày 07/5/2015 của
quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Phú Tân về kết quả xác minh đơn yêu
cầu của ông Huỳnh Minh L yêu cầu xông Quách Văn M hành vi làm giả
giấy tờ đchiếm đoạt phần nhà gắn liền với đất của ông L: Qua làm việc của Cơ
quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Phú Tân với ông M, ông M đã thừa nhận
từ trước đến nay không sang nhượng đất ở, nhà cũng không giấy tờ gì
chứng minh phần đất diện tích 100m
2
toạ lạc tại khóm 1, thị trấn Cái Đôi Vàm,
huyện Phú n (tức phần đất hiện nay các bên tranh chấp) thuộc quyền quản
lý, sử dụng của ông M. Sau khi biết được trong mục địa chính tên Quách
Văn M từ đó ông cho rằng phần đất trên của mình nên đã nhờ người lập khống
giấy sang nhượng nhà ở, đất vào thời điểm năm 1997 giữa ông với ông Nguyễn
Thanh B, sau đó làm đơn yêu cầu ông L trả lại phần đất nêu trên. H (vợ trước
của ông M) khẳng định, H về chung sống với ông M từ năm 1994 ấp Cái
Chim, xã Trần Thới, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau; Đến năm 1997, H cùng ông
M đến thị trấn Cái Đôi Vàm sinh sống mua bán. Chị chồng bà H là bà Quách Hồng
P và anh r là ông Huỳnh Minh L cho H ông M mượn căn nhà mua bán,
thời điểm này H ông M không tài sản riêng. Đến năm 2006, H ông
M ly n thống nhất phần tài sản chung chỉ ti vi, đầu máy, ghế, gường
khoản nợ là 12.000.000 đồng không nói gì đến căn nhà và phần đất tranh chấp hiện
5
nay. Từ khi ly hôn cho đến nay, bà H vẫn sinh sống trên căn nhà ợn này để nuôi
con mẹ chồng (mẹ ruột ông M) cho đến khi mẹ chồng qua đời. Tại phiên tòa
phúc thẩm, ông M cho rằng khi ly hôn với bà H không đề cập đến phần nhà đất
này vì lúc đó căn nhà và đất này là của mẹ ông cho vợ chồng ông mượn ở. Đối với
những xác nhận do ông M cung cấp như xác nhận của ông Lê Văn Tri cũng như lời
khai của ông Chung Thế V trình bày phần đất tranh chấp của vchồng ông B
chuyển nhượng lại cho ông M; tuy nhiên những người này xác nhận biết trong
trường hợp là ở gần phần đất tranh chấp chứ không chứng kiện việc chuyển
nhượng giữa ông B với ông M; mặt khác lời trình bày của những người này trái
ngược với trình bày của ông B nên lời trình bày của ông Tri, ông Vĩ là không có cơ
sở. Xét thấy án thẩm bác yêu cầu của ông M về việc yêu cầu ông L, P, C
bà H bà L trả lại phần đất tranh chấp diện tích theo đo đạc thực tế 109,4m
2
nêu trên
căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Quách
Văn M; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[2] Án phí dân dự phúc thẩm ông M phải chịu theo quy định của pháp luật.
[3] Những quyết định khác của án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
Hội đồng xét xử phúc thẩm không giải quyết; hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết
thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Toà án;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Quách Văn M.
Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số 48/2017/DS-ST ngày 28/12/2017 của
Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Quách Văn M về việc buộc ông
Huỳnh Minh L, Quách Hồng P, Phan Thị C, chị Trần Thị H Quách Thảo
L trả lại cho ông M diện tích đất theo đo đạc thực tế 109,4m
2
(không tính diện tích
sàn) tọa lạc tại thị trấn CĐV, huyện PT, tỉnh Mau phải di dời nhà, vật kiến
trúc trên đất để trả lại đất cho ông M. (Có sơ đồ đo đạc kèm theo).
Chi phí đo đạc 974.000 đồng, chi phí định giá 1.556.000 đồng ông M phải
chịu (ông M đã nộp xong).
Án phí dân sự thẩm ông M phải chịu 9.846.000 đồng; Ngày 04/12/2015
ông M đã dự nộp 5.557.500 đồng biên lai thu số 09017 tại Chi cục thi hành án dân
sự huyện Phú Tân được đối trừ còn phải nộp tiếp 4.288.500 đồng.
Án phí dân sự phúc thẩm ông M phải chịu 300.000 đồng; Ngày 12/01/2018
ông M đã dự nộp 300.000 đồng biên lai thu số 0006871 tại Chi cục thi hành án dân
sự huyện Phú Tân được chuyển thu án phí.
6
Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểmt nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân huyện Phú Tân;
- Chi cục THADS huyện Phú Tân;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Lập
Tải về
Bản án số 86/2018/DS-PT Bản án số 86/2018/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất