Bản án số 84/2026/DS-PT ngày 15/01/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 84/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 84/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 84/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 84/2026/DS-PT ngày 15/01/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 84/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 15/01/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | y án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 84/2026/DS-PT
Ngày 15-01-2026
V/v tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành
vi trái pháp luật về cản trở quyền sử
dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Huỳnh
Các Thẩm phán: Ông Cao Nhật Thanh
Ông Nguyễn Đắc Cường
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huyền Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kim st nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Trần Đức
Thoại – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh (Cơ sở B) xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 1298/2025/TLPT-DS
ngày 20 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi trái
pháp luật về cản trở quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2025/DS-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7349/2025/QĐ-PT ngày 08 tháng 12
năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị P, sinh năm 1955; nơi cư trú: số G, Đại lộ B, khu
phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường C, Thành phố
Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hán Ngọc H, sinh năm 1985;
nơi cư trú: số G, đường Đ, tổ B, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình
Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) (theo văn bản ủy quyền ngày
06/9/2024), có mặt.
- Bị đơn: Ông Đoàn Văn M, sinh năm 1968; nơi cư trú: số D, Đại lộ B, khu
phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường C, Thành phố
Hồ Chí Minh), có mặt
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: ông Hoàng Hữu S và
ông Nguyễn Đăng H1, Luật sư Văn phòng L và cộng sự thuộc Đoàn luật sự Thành
phố Hà Nội. Ông S có mặt, ông H1 vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Đoàn Thị T, sinh năm 1962; nơi cư trú: K, tổ A, Khu phố C, phường
H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), có
mặt
2. Bà Đoàn Thị C, sinh năm 1964; nơi cư trú: số H, khu phố C, phường C,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), có
mặt
3. Bà Hà Hải Y, sinh năm 1988, có đơn xin xét xử vắng mặt
4. Ông Hà Nhật T1, sinh năm 1990, có đơn xin xét xử vắng mặt
Cùng nơi cư trú: số G, Đại lộ B, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh
Bình Dương (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Đoàn Văn M và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan bà Đoàn Thị T và bà Đoàn Thị C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/3/2024 và quá trình giải quyết vụ án đại diện
nguyên đơn trình bày:
Gia đình bà Trần Thị P là chủ sử dụng phần đất diện tích 409,9m
2
là một
phần trong tổng diện tích 577,9m
2
, thuộc thửa đất số 1009, tờ bản đồ số 01 tọa lạc
tại khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường C, Thành
phố Hồ Chí Minh). Nguồn gốc phần đất này do ông Vũ Văn D khai phá từ năm
1946. Sau khi cụ D chết để lại cho cha mẹ ông Hà Hữu O (ông O là chồng bà P,
ông O chết năm 2020) là ông Hà Văn C1 và bà Hà Thị Đ quản lý, sử dụng. Sau
khi ông C1 và bà Đ chết để lại phần đất này cho ông Hà Hữu O quản lý, sử dụng.
Năm 1986, ông O có đi đăng ký kê khai diện tích đất 400m
2
nhưng chưa
được cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, vì lo làm
ăn nên ông O chưa làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm
2003, ông O xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì biết ông H2 (chết
năm 2008) được cấp sổ mới bao gồm phần đất của gia đình bà P. Sau đó, giữa gia
đình ông O, bà P có xảy ra tranh chấp với gia đình ông H2.
Sau khi ông H2 chết, vợ và các con ông H2 làm đơn khởi kiện ông O, bà P
ra Tòa án yêu cầu công nhận phần nêu trên thuộc quyền sử dụng của gia đình ông
H2. Ngày 17/4/2015, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh) tuyên: “…Ông Hà Hữu O và bà Trần Thị P được quyền
3
quản lý, sử dụng và liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký xin cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 409,9m
2
thuộc thửa đất số
1009, tờ bản đồ số 01 tọa lạc tại khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình
Dương…”
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà P nhiều lần liên hệ với cơ quan đo
đạc tiến hành đo vẽ lại diện tích đất để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với phần đất trên. Tuy nhiên, khi cán bộ Chi nhánh Văn phòng đăng ký
đất đai thành phố T, tỉnh Bình Dương đến tiến hành đo đạc thì bị ông Đoàn Văn
M và bà Đoàn Thị C, bà Đoàn Thị T (là con ông H2 và bà Đ1) cầm dao, rựa ngăn
cản chống đối không cho đo đạc. Bà P đã làm đơn kiến nghị gửi Ủy ban nhân dân
thành phố T và được Ủy ban nhân dân thành phố T trả lời tại Công văn số
1352/UBND-VP ngày 27/6/2022. Ủy ban nhân dân thành phố T chỉ đạo giao cho
Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường C xem xét nội dung đơn đề nghị của bà P. Tuy
nhiên, đến nay bà P vẫn không đo đạc được phần đất mà Tòa án giao cho gia đình
bà P để thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Vì thế, bà P khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Đoàn Văn M chấm dứt hành
vi cản trở thực hiện việc đo vẽ phần đất mà bà Trần Thị P và chồng là ông Hà
Hữu O được Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh) tuyên theo Bản án số 73/2015/DS-PT ngày 17/4/2015 với diện
tích là 409,9m
2
để gia đình bà P thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Đoàn Văn M trình bày: Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn nguyên nhân là do Bản án dân sự phúc thẩm số 73/2015/DS-PT
ngày 17/4/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh) giải quyết vụ án chưa đúng quy định quy định của pháp
luật. Ngoài ra ông M còn cho rằng bà P trình bày không đúng sự thật khách quan
cụ thể như sau:
Về quan hệ nhân thân trong gia đình chồng của bà P. Ông bà ngoại của ông
O (cha mẹ của bà Đ, cha mẹ vợ của ông C1) là ông Võ Văn P1 và bà Trần Thị V
không phải cụ Vũ Văn D như bà P trình bày.
Về nguồn gốc phần đất tranh chấp, ông M cho rằng phần đất này do cha mẹ
ông là ông Đoàn Văn H2 và bà Nguyễn Thị Đ1 nhận chuyển nhượng của bà
Nguyễn Thị B, bà Nguyễn Thị X, ông Võ Văn T2 không phải do cụ Vũ Văn D
khai phá được như phần trình bày của bà P. Mặt khác, bà P cũng không cung cấp
được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào thể hiện được nguồn gốc phần đất đang tranh
chấp.
Việc ông M có hành vi cản trở bà P thực hiện việc đo vẽ phần đất mà bà P
và ông Hà Hữu O được Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh) tuyên theo Bản án dân sự phúc thẩm số 73/2015/DS-
PT ngày 17/4/2015 là lời trình bày từ một phía của bà P. Ngoài ra, bà P không có
bất cứ tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh.
Vào ngày 09/4/2024, ông M có Đơn đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại
4
Thành phố Hồ Chí Minh xem xét theo thủ tục tái thẩm đối với Bản án dân sự phúc
thẩm số 73/2015/DS-PT ngày 17/4/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương
(nay là Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh) về việc “Tranh chấp quyền sử
dụng đất”. Kết quả giải quyết Đơn đề nghị xem xét theo thủ tục tái thẩm nêu trên
sẽ xác định lại về hiệu lực, nội dung của bản án phúc thẩm. Trong đó, bao gồm
việc bà P có quyền gì đối với phần đất có diện tích 409,9m
2
mà hai bên đang tranh
chấp không? Từ đó sẽ có căn cứ để giải quyết vụ án này một cách toàn diện, chính
xác và đúng pháp luật.
Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 214 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015, ông M đề nghị Tòa án xem xét ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết đối
với vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hà Hải Y trình bày: Bà Y là con
ruột của ông Hà Hữu O và bà Trần Thị P. Bà Y thống nhất với toàn bộ ý kiến và
yêu cầu của bà P. Bà Y không có ý kiến gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hà Nhật T1 trình bày: Ông T1
là con ruột của ông Hà Hữu O và bà Trần Thị P. Ông T1 thống nhất với toàn bộ ý
kiến và yêu cầu của bà P. Ông T1 không có ý kiến gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị T trình bày: Bà T là chị
ruột của ông M. Bà T thống nhất với toàn bộ ý kiến của ông M. Bà T không có ý
kiến gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị C trình bày: Bà C là chị
ruột của ông M. Bà C thống nhất với toàn bộ ý kiến của ông M. Bà C không có ý
kiến gì khác.
Qua xem xét thẩm định tại chỗ trên đất có 01 (một) nhà tường gạch, nền xi
măng và nền gạch tàu lợp mái ngói do cha mẹ chồng của nguyên đơn là ông Hà
Văn C1 và bà Hà Thị Đ xây dựng đã lâu; 01 (một) nhà tường gạch, nền gạch tàu,
lợp ngói do bà Trần Thị P xây dựng khoảng năm 1996; 01 (một) nhà tạm, tường
gạch, nền xi măng, lợp ngói do bà Trần Thị P xây dựng khoảng năm 1996. Ngoài
ra, trên đất còn có một số cây kiểng và cây trồng khác của bà Trần Thị P. Hiện
tại, bà P, ông T1, bà Y đang sinh sống trên phần đất này.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Hán
Ngọc H trình bày: Nguyên đơn bà Trần Thị P vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
buộc ông Đoàn Văn M chấm dứt hành vi cản trở thực hiện việc đo đạc phần đất
mà bà Trần Thị P và chồng là ông Hà Hữu O (đã chết) được Tòa án nhân dân tỉnh
Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh) tuyên theo Bản
án số 73/2015/DS-PT ngày 17/4/2015 với diện tích là 409,9m
2
để gia đình bà P
thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của
pháp luật.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2025/DS-ST ngày 28/8/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
5
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị P đối với
bị đơn ông Đoàn Văn M về việc “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật
đối với quyền sử dụng đất”.
Buộc ông Đoàn Văn M chấm dứt hành vi trái pháp luật là cản trở bà Trần
Thị P thực hiện việc đo vẽ phần đất mà bà Trần Thị P và chồng là ông Hà Hữu O
(đã chết) được Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh) tuyên theo Bản án số 73/2015/DS-PT ngày 17/4/2015 với diện
tích là 409,9m
2
để gia đình nguyên đơn thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu
cầu thi hành án cho các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Đoàn Văn M và người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị T và bà Đoàn Thị C có đơn kháng cáo toàn bộ
Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2025/DS-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh theo hưởng hủy bản án sơ thẩm và đình
chỉ giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông M, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan bà T và bà C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thoả thuận
được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là ông Hoàng Hữu S
trình bày: Vụ án này bắt nguồn từ việc tranh chấp phần đất có diện tích đất
409,9m
2
thuộc thửa đất số 1009, tờ bản đồ số 01 tọa lạc tại khu phố C, phường C,
thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh) giữa
ông Hà Hữu O (chồng của nguyên đơn bà Trần Thị P) và ông Đoàn Văn H2 (cha
ruột của bị đơn ông Đoàn Văn M). Phần đất tranh chấp có liên quan đến các ông,
bà gồm: ông Đoàn Văn H2 (chết năm 2008), bà Nguyễn Thị Đ1 (chết năm 2013)
(mẹ ruột của bị đơn), ông Hà Văn C1 (chết năm 1976) (cha chồng của nguyên
đơn) và bà Võ Thị Đ2 (chết năm 1968) (mẹ chồng của nguyên đơn). Tất cả đều
chết và không để lại di chúc, chưa được phân chia di sản thừa kế theo quy định
của pháp luật cho hàng thừa kế, kể cả ông Hà Hữu O và ông Đoàn Văn M. Như
vây, các Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2014/DS-ST ngày 28/03/2014 của Tòa án
nhân dân thành phố Thủ Dầu Một (nay là Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành
phố Hồ Chí Minh); Bản án dân sự phúc thẩm số 73/2015/DS-PT ngày 17/4/2015
của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh); Bản án hành chính sơ thẩm số 09/2018/HC-ST ngày 18/5/2018 của Tòa
án nhân dân tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh)
và Bản án dân sự sơ thẩm số 70/2025/DS-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa thiếu người tham gia tố tụng
nên không đảm quyền lợi của các đương sự
Đối với quan hệ pháp luật của Bản án số dân sự sơ thẩm 70/2025/DS-ST
ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh,
nguyên đơn thực hiện thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo
quy định của pháp luật nên quan hệ pháp luật tranh chấp là “Yêu cầu chấm dứt
6
hành vi cản trở trái pháp luật đối với quyền sử dụng đất" theo quy định tại Điều
169 của Bộ luật Dân sự năm 2015 là chưa có cơ sở.
Về nội dung: không có căn cứ bị đơn ông Đoàn Văn M có hành vi cản trở
trái pháp luật đối với quyền sử dụng đất, theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật
Dân sự năm 2015, ông M chỉ là đồng thừa kế tài sản của ông H2 bà Đ1, Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H2 đã bị thu hồi, hiện nay đồng thừa kế
của ông H2 cũng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất.
Do đó, căn cứ khoản 6 Điều 68, Điều 308, Điều 311 của Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên hủy Bản án số dân sự sơ thẩm
70/2025/DS-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ
Chí Minh và đình chỉ giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan
điểm:
Về tố tụng: Việc thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách pháp lý
của người tham gia tố tụng của Tòa án, thu thập chứng cứ là đúng theo quy định,
những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng, thời hạn chuẩn
bị xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Bị đơn ông Đoàn Văn M, người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan bà Đoàn Thị T, bà Đoàn Thị C có đơn kháng cáo và tại cấp phúc thẩm, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp có cung cấp thêm tài liệu, phân tích luận cứ để
chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nhưng không làm thay đổi bản chất của vụ án.
Việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà
Trần Thị P đối với bị đơn ông Đoàn Văn M về việc “Yêu cầu chấm dứt hành vi
cản trở trái pháp luật đối với quyền sử dụng đất” là phù hợp. Đề nghị Hội đồng
xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận
kháng cáo của ông M, bà T và bà C; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số
70/2025/DS-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ
Chí Minh.
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý
kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông M, bà T và bà C là trong thời hạn
luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý giải quyết theo quy
định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
7
[2.1] Phần đất có diện tích 409,9m
2
thuộc thửa đất số 1009, tờ bản đồ số 01
tọa lạc tại khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường
C, Thành phố Hồ Chí Minh) giữa chồng của nguyên đơn - ông Hà Hữu O và cha
của bị đơn ông Đoàn Văn H2 đã có sự tranh chấp với nhau. Sự việc tranh chấp đã
được Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một (nay là Tòa án nhân dân khu vực
15 - Thành phố Hồ Chí Minh) giải quyết bằng Bản án dân sự sơ thẩm số
30/2014/DS-ST ngày 28/3/2014 và Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương (nay là Tòa
án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh) giải quyết bằng Bản án dân sự phúc thẩm
số 73/2015/DS-PT ngày 17/4/2015, bản án đã có hiệu lực theo quy định của pháp
luật.
Bản án dân sự phúc thẩm số 73/2015/DS-PT ngày 17/4/2015 của Tòa án
nhân dân tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh) đã
tuyên:
“- Ông Hà Hữu O và bà Trần Thị P được quyền quản lý, sử dụng và liên
hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với diện tích 409,9 m² (trong đó gồm 94,9m² đất hành lang đường
bộ, 150m² đất thổ cư và 165m² đất cây lâu năm) trong số đất 9.596m² thuộc thửa
đất số 1009 tờ bản đồ 01 tọa lạc tại khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình
Dương (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
- Kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố T thu hồi điều chỉnh đối với Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 613 QSDĐ ngày 17/02/1998 diện tích 9.596m²
đã cấp cho ông Đoàn Văn H2 theo hướng giảm diện tích đất 409,9m² ông Hà Hữu
O được hưởng ghi tại mục 1.1 của quyết định này”.
Như vậy việc tranh chấp đất đối với phần đất có diện tích đất 409,9m
2
thuộc
thửa đất số 1009, tờ bản đồ số 01 tọa lạc tại khu phố C, phường C, thành phố T,
tỉnh Bình Dương (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh) đã được giải quyết
và tuyên cho ông Hà Hữu O và bà Trần Thị P được quyền quản lý, sử dụng và
liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đối với diện tích 409,9 m² (trong đó gồm 94,9m² đất hành lang đường
bộ, 150m² đất thổ cư và 165m² đất cây lâu năm) trong tổng diện tích đất 9.596m²
thuộc thửa đất số 1009 tờ bản đồ 01 tọa lạc tại khu phố C, phường C, thành phố
T, tỉnh Bình Dương (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh). Do ông Hà Hữu
O chết năm 2020, nên bà P yêu cầu thi hành bản án nêu trên. Bà P yêu cầu cơ
quan chuyên môn đo đạc để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
là thực hiện đúng theo quyết định của bản án đã có hiệu lực pháp luật cũng là thực
hiện quyền của người sử dụng đất. Việc ông M có hành vi cản trở bà P đo đạc làm
thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không chấp hành bản án có hiệu
lực của Tòa án, cản trở việc sử dụng đất của người sử dụng đất hợp pháp, xâm
phạm quyền của người sử dụng đất là bà P. Toà án cấp sơ đã tuyên chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị P đối với bị đơn ông Đoàn Văn M về
việc “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật đối với quyền sử dụng đất”.
Buộc ông Đoàn Văn M chấm dứt hành vi trái pháp luật là cản trở bà Trần Thị P
thực hiện việc đo vẽ phần đất mà bà Trần Thị P và chồng là ông Hà Hữu O (đã
chết) được Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân Thành phố
8
Hồ Chí Minh) tuyên theo Bản án số 73/2015/DS-PT ngày 17/4/2015 với diện tích
là 409,9m
2
để gia đình nguyên đơn thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.
[2.2] Đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông M, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan bà T và bà C yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm với
lý do đưa thiếu người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ không đầy đủ, không
có chứng cứ để nguyên đơn khởi kiện nhưng không cung cấp được chứng cứ
chứng minh nên việc kháng cáo của ông M, bà T và bà C không có cơ sở để chấp
nhận.
Từ phân tích trên, xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của bị đơn ông M, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T và bà C, cần giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là không
có căn cứ nên không được chấp nhận.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[5] Án phí phúc thẩm: Bị đơn ông Đoàn Văn M phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan bà Đoàn Thị T và bà Đoàn Thị C là người cao tuổi và có đơn xin
miễn án phí nên được miễn theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 144; khoản 1 Điều 148; khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố
tụng dân sự;
Căn cứ Điều 163, 164 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 3; Điều 167 của Luật Đất đai;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”;
T3:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đoàn Văn M và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị T và bà Đoàn Thị C. Giữ nguyên Bản
án dân sự sơ thẩm số 70/2025/DS-ST ngày 28/8/2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Về án phí phúc thẩm: Bị đơn ông Đoàn Văn M phải chịu 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng) án phí phúc thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo
Biên lai thu số 0019069 ngày 23/9/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ
Chí Minh; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị T và bà Đoàn Thị
C được miễn án phí phúc thẩm theo quy định.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

9
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
- Tòa án nhân dân khu vực 15-Tp. Hồ Chí Minh;
- Thi hành án dân sự Tp. Hồ Chí Minh;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 15 - Tp. Hồ
Chí Minh
- Lưu: Hồ sơ, Tổ Hành chính Tư pháp, Tòa Dân
sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Văn Huỳnh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 12/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm